MỤC LỤC
MỞ ĐẦU .......................................................................................................... 1
CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT VỀ NGƯỜI DAO VÀ TRANH THỜ CỦA
NGƯỜI DAO ................................................................................................. 10
1.1. Về người Dao và quá trình di cư tới Việt Nam........................................ 10
1.2. Người Dao ở Yên Bái và huyện Lục Yên ................................................ 13
1.3. Vài nét về tranh thờ của người Dao ......................................................... 20
CHƯƠNG 2 VIỆC SỬ DỤNG TRANH THỜ CỦA NGƯỜI DAO Ở
HUYỆN LỤC YÊN ....................................................................................... 26
2.1. Cách sử dụng tranh thờ trong các nghi lễ ................................................ 27
2.2. Tranh thờ trong ngày thường ................................................................... 47
CHƯƠNG 3 NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA ĐỐI VỚI TRANH THỜ CỦA
NGƯỜI DAO Ở HUYỆN LỤC YÊN HIỆN NAY ..................................... 49
3.1. Vấn đề bảo tồn và gìn giữ tranh thờ ......................................................... 49
3.2. Về phát huy các giá trị của tranh thờ ....................................................... 53
3.3. Một số kiến nghị, giải pháp bảo tồn tranh thờ ......................................... 62
KẾT LUẬN .................................................................................................... 66
TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................ 69
PHỤ LỤC
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Người Dao là một trong 54 dân tộc thiểu số ở Việt Nam. Theo Tổng
điều tra Dân số và Nhà ở toàn quốc năm 2009, người Dao ở Việt Nam có
751.067 người, trong đó 377.185 nam, 373.882 nữ, đông thứ hai trong các
dân tộc nói ngôn ngữ Hmông - Dao và thứ 9 trong 54 dân tộc ở Việt Nam. Tại
tỉnh Yên Bái, dân tộc Dao có 74.847 người, dân số đông thứ ba trong 33 dân
tộc trong tỉnh (sau hai dân tộc Kinh và Tày). Tại huyện Lục Yên, tỉnh Yên
Bái, dân tộc Dao có 16.216 người, dân số đông thứ ba trong 18 dân tộc trong
huyện (sau hai dân tộc Kinh và Tày).
vòng đời và tín ngưỡng đã được rất nhiều nhà khoa học quan tâm nghiên cứu,
văn hóa nghệ thuật dân gian, bao gồm không chỉ tranh thờ mà còn dân ca, dân
nhạc, dân vũ của người Dao còn chưa hoặc ít được tìm hiểu.
Là một người con của dân tộc Dao, đang theo học tại khoa văn hóa học
và đặc biệt quan tâm tới mảng nghệ thuật dân gian, học viên mạnh dạn đề
xuất nghiên cứu: “Tranh thờ trong đời sống tín ngưỡng của người Dao ở
huyện Lục Yên tỉnh Yên Bái” làm đề tài tốt nghiệp của mình.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Nói đến lịch sử nghiên cứu về văn hóa ở Việt Nam thì đây là một vấn
đề khá rộng và đã được quan tâm từ rất sớm. Khi thực dân Pháp xâm lược
Việt Nam, người Pháp đã có nhiều ghi chép về văn hóa Việt Nam nói chung
và của các dân tộc thiểu số nói riêng. Tuy nhiên, phải đến thế kỷ XX thì văn
hóa Việt và đặc biệt là văn hóa các dân tộc thiểu số mới thực sự lôi cuốn các
nhà khoa học vào cuộc và văn hóa dân tộc Dao cũng không nằm ngoài sự
quan tâm đó. Nghiên cứu về dân tộc Dao đã có rất nhiều tác giả thực hiện và
công bố trên các tạp chí khác nhau như Dân Tộc học, Nghiên cứu lịch sử và
một vài tạp chí chuyên ngành khác.
2
Về tên gọi, lịch sử thành phần tộc người, quá trình di cư, các thực hành tín
ngưỡng tôn giáo và các luận bàn về đặc điểm tộc người ở quá khứ và tương lai có
thể kể đến một số nghiên cứu tiêu biểu như: Người Dao ở Việt Nam do các tác
giả Bế Viết Đẳng, Nguyễn Khắc Tụng, Nông Trung, Nam Tiến biên soạn
(1971); Người Dao đỏ trong cộng đồng dân tộc Việt Nam do Đỗ Quang Tụ và
Nguyễn Liễn làm chủ biên (1971); và cuốn Sự phát triển Văn hoá – Xã hội
của người Dao Hiện tại và tương lai do Trung tâm Khoa học xã hội và Nhân
văn Quốc gia biên soạn (1998)...vv.
Một số công trình nghiên cứu khác lại đi sâu phân tích các đặc điểm
cảnh quan, môi trường sinh thái và những sinh hoạt văn hóa vật chất, tinh
truyền của các dân tộc ít người. Tác giả Phan Ngọc Khuê từng có nhiều năm
sinh sống và nghiên cứu về mỹ thuật của các dân tộc vùng núi phía Bắc.
Tranh Đạo Giáo là một vấn đề khá rộng và hấp dẫn đối với ông. Trong cuốn
sách này tác giả đã trình bày tóm lược những nét cơ bản về nghệ thuật của
tranh Đạo giáo nói chung ở phía Bắc Việt Nam. Trên cơ sở của các tư liệu đã
sưu tầm, tác giả trình bày vấn đề rất đơn giản nhưng mạch lạc, giúp cho người
đọc dễ dàng nắm bắt nội dung. Tác giả đưa vào trong cuốn sách từng bức
tranh của các dân tộc khác nhau, trình bày chi tiết tiểu sử của nhân vật trong
bức tranh đó nhằm giúp người xem hiểu rõ hơn về ý nghĩa của việc thờ các
nhân vật trong tranh.
Ngoài tác phẩm tiêu biểu nêu trên, tác giả Phan Ngọc Khuê còn có một
bài viết trình bày chi tiết về tranh thờ của người Dao, đăng trong cuốn kỷ yếu
Hội thảo quốc tế: Sự phát triển văn hóa xã hội của người Dao: Hiện tại và
tương lai, do Trung tâm Khoa học xã hội và nhân văn Quốc gia xuất bản năm
1998. Bài viết của tác giả có tiêu đề Tranh thờ của người Dao ở Bắc Bộ Việt
Nam. Trong bài viết này, tác giả Phan Ngọc Khuê đã trình bày rất cụ thể, chi
tiết về tranh thờ; ông đặt tranh thờ của người Dao trong sự so sánh với các
4
dân tộc khác như Tày và Cao Lan, phân biệt rõ đặc điểm tiêu biểu của tranh
thờ của dân tộc Dao. Ở phần khảo tả về phân loại tranh thờ, tác giả đã trình
bày chi tiết về bức tranh, gắn với truyền thuyết lịch sử của tộc người và nhóm
gộp các tranh thờ dành cho cúng gia tiên trong gia đình, gia tộc để phân biệt
với tranh dùng trong nghi lễ cấp sắc/phong sắc của người Dao. Trong phần
viết so sánh, ông chỉ ra những loại tranh nào xuất hiện ở cả dân tộc Dao và
các dân tộc khác (Tày, Nùng, Cao Lan, Kinh). Tác giả cũng trình bày chi tiết
nội dung bức tranh về các thần linh trong cõi Thượng Nguyên (Tam Thanh
cung, Ngọc Hoàng thượng đế, Trương Thiên Sư và Lý Thiên Sư, Tứ Đại
Nguyên Súy, Bắc Đẩu Tinh Quân), tranh về các vị thần ở cõi Trung Nguyên
Cũng đề cập về chủ đề tranh thờ, tác giả Chu Xuân Giao (2016) gần
đây có bài viết Hệ thống thờ Tứ Phủ trong tín ngưỡng của người Dao đăng
trên Tạp chí Văn hóa dân gian. Bài viết mặc dù không đi quá sâu phân tích
tranh thờ, tác giả cũng đã chỉ ra một đặc điểm của Tứ Phủ của người Dao thể
hiện trong kinh sách, trong đời sống tôn giáo tín ngưỡng của họ và so sánh
với việc thờ Tứ Phủ ở nhóm người Kinh.
Tóm lại, nghiên cứu về văn hóa người Dao nói chung và tranh thờ nói
riêng, mặc dù đã có nhiều tác giả đã tìm hiểu, nghiên cứu song chưa có công
trình chuyên sâu nào giới thiệu về thực trạng tranh thờ trong bối cảnh thực
hành đời sống của người Dao; cách thờ tranh hiện nay được quan tâm và sử
dụng như thế nào? các ứng xử và thực hành liên quan đến nó hiện nay ra sao
và có những vấn đề nào đang đặt ra đối với tranh thờ.... dường như vẫn còn là
một khoảng trống, chưa được giới nghiên cứu đề cập một cách tương xứng.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1.
Mục đích nghiên cứu
6
Mục đích nghiên cứu của luận văn là nhằm giới thiệu một bức tranh
tổng quan về việc sử dụng tranh thờ trong đời sống của người Dao hiện nay ở
huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái và Việt Nam nói chung.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Tìm hiểu và trả lời cho các câu hỏi: tranh thờ hiện đang “sống” như
thế nào trong cộng đồng người Dao ở huyện Lục Yên? sự tham gia của tranh
thờ trong một số thực hành văn hóa cụ thể và thường ngày ở đây ra sao?.
- Trên cơ sở thực trạng, chúng tôi sẽ đưa ra một số luận bàn xung
quanh việc sử dụng tranh thờ của người Dao ở huyện Lục Yên trong bối cảnh
6. Ý nghĩa lý luận và ý nghĩa thực tiễn của luận văn
6.1.
Ý nghĩa lý luận
Đề tài luận văn là công trình nghiên cứu có hệ thống về Tranh thờ trong
đời sống của người Dao ở huyện Lục Yên. Thông qua nội dung nghiên cứu,
luận văn cho chúng ta biết được thực trạng và cách thức sử dụng tranh thờ
hiện nay. Những kết quả nghiên cứu của luận văn sẽ là nguồn tư liệu giúp
người đọc có được một hiểu biết đầy đủ và sâu sắc hơn về tranh thờ của người
Dao tại huyện Lục Yên và Việt Nam nói chung.
6.2.
Ý nghĩa thực tiễn
Đề tài luận văn sẽ là một tài liệu tham khảo dành cho các nhà quản lý
văn hóa và những ai quan tâm tới chủ đề tranh thờ của người Dao; góp phần
vào công tác quản lý, bảo vệ, gìn giữ và phát huy những giá trị của tranh thờ
gắn với một tộc người cụ thể.
7. Cơ cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, đề tài luận
văn được bố cục thành ba chương:
Chương 1: Khái quát về người Dao và tranh thờ của người Dao
8
Chương 2: Việc sử dụng tranh thờ của người Dao ở huyện Lục Yên
Chương 3: Những vấn đề đặt ra đối với tranh thờ của người Dao ở
huyện Lục Yên hiện nay
10
Câu chuyện lịch sử viết bằng thơ Đặng Hành và Đại Bàn Hồ, về quá
trình di cư của người Dao tới Việt Nam kể rằng: tổ tiên của họ sinh sống lâu
đời ở đất Quảng Đông (phía Nam Trung Quốc), khoảng cuối thế kỷ II trước
Công Nguyên. Theo tác giả Phan Ngọc Khuê, Tranh thờ đạo giáo ở Bắc Việt
Nam (2001) viết: “Có trường hợp chỉ rõ là khu vực Động Đình Hồ (tỉnh Hồ
Nam). Cứ liệu khảo cổ học cho hay nơi đây và khu vực láng giềng, thời đồ
đồng, đồ đá, đã phát hiện một nền nông nghiệp dùng cuốc với rìu có vai, khác
với nền văn hóa Ngưỡng Thiều (R.F.Ito. 1960). Chủ nhân là những bộ lạc gọi
chung là Tam Miêu hay Miêu Dân. Về sau họ ly tán xuống Quảng Tây, Quảng
Đông. Đến thời Tần – Hán (thế kỷ II – II trước Công Nguyên) trong thư tịch
không còn thấy xuất hiện tên gọi Tam Miêu nữa, mà xuất hiện nhiều tộc danh
mới như Man, Di, Việt...kế đó là Man Dao, Man Mieu”.
Còn theo ông Trương Hữu Tuấn, Viện trưởng Viện nghiên cứu Dân
Tộc Học, Học Viện Dân Tộc Quảng Tây, Phó chủ tịch Hội người Dao Trung
Quốc, trong một tranh luận tại Hội nghị quốc tế về người Dao, họp tại Thái
Nguyên, tháng 12 – 1995 cho rằng: Thời kỳ Đường Tống, người Dao sống
chủ yếu ở tỉnh Hồ Nam có một bộ phận sống ở miền Bắc Lưỡng Quảng. Thời
Nguyên (1280 – 1369) trung tâm cư trú của người Dao bắt đầu di chuyển về
phía nam, thời Minh (1836 – 1662) Quảng Tây mới trở thành nơi cư trú chủ
yếu của người Dao.
Từ thế kỷ XIV đến thế kỷ XX, người Dao di cư vào Việt Nam theo ba
con đường. Đó là:
- Con đường đất liền: từ vùng Phòng Thành, Thượng Tứ tỉnh Quảng
Tây vào Quảng Yên, Quảng Ninh của Việt Nam.
- Từ Quảng Tây (Ninh Minh) đi vào vùng Lạng Sơn và Quảng Ninh của
Việt Nam.
12
Người Dao có nền văn hóa lâu đời và phong phú. Đó là các hình thức
sinh hoạt ca hát, các loại truyện cổ, những điệu múa dân gian trong dịp tết
Nguyên đán và lễ cấp sắc, các loại hoa văn trang trí thêu thùa, kho tàng tri
thức dân gian về thời tiết, chữa bệnh,... Tuy sống phân tán, nhưng người Dao
rất trân trọng giá trị văn hóa cổ truyền, luôn quan tâm truyền dạy và tạo điều
kiện kế thừa, phát huy những đặc trưng văn hóa của mình. Một trong những
điều kiện quan trọng đồng bào trao truyền và bảo lưu những giá trị văn hóa từ
thế hệ này sang thế hệ khác là việc duy trì các nghi lễ vòng đời, các nghi lễ
sinh đẻ, cấp sắc, cưới xin, và tang ma là những nghi lễ chủ yếu, bởi vì ai cũng
phải trải qua một lần. Nhờ vậy, trong điều kiện hiện nay là đoàn kết, bình
đẳng và giao lưu với các dân tộc anh em, nền văn hóa của người Dao vốn đa
dạng và phong phú lại càng trở nên đa dạng, phong phú hơn.
Trải qua hàng ngàn năm ly tán trong không gian rộng lớn người Dao đã
xây dựng nên một tục lệ chung của dân tộc Dao là thờ Bàn Vương - thủy tổ
của dân tộc, mang tinh thần tôn giáo nghiêm ngặt nhằm củng cố và mở rộng
huyết thống của cộng đồng người Dao.
1.2. Người Dao ở Yên Bái và huyện Lục Yên
1.2.1. Người Dao ở Yên Bái
Yên Bái là một tỉnh miền núi có dân số 1.000.234 người (tính đến năm
2015), bao gồm 30 dân tộc cùng sinh sống trong đó người Dao là dân tộc có
số dân đông thứ 3, chiếm 10,31%.
Theo các tư liệu lịch sử, Yên Bái là địa bàn sinh tụ của người Việt cổ;
nơi đây các nhà khoa học đã tìm thấy được xương cốt động vật hóa thạch, có
niên đại cách đây hơn 10 vạn năm ở Hang Hùm (Lục Yên) và hang Thẩm
Thoong (Văn Chấn) cùng với nhiều công cụ bằng đá, đồng thau khác nằm rải
rác trên toàn bộ địa bàn tỉnh.
14
Chuyện kể rằng xưa có hai vị Cao Vương và Bình Vương cầm đầu hai
nước đánh nhau không phân thắng bại. Một lần Cao Vương uy hiếp thành
công Bình Vương. Bình Vương rất lo sợ liền tuyến bố sẽ gả công chúa cho ai
có thể đánh thắng được giặc. Không một viên tướng nào dám nhận. Sau đó,
bỗng nhiên xuất hiện một người tự xưng là Bàn Hồ đến xin đánh mà không
cần dùng quân lính. Cực chẳng đã, Bình Vương buộc phải bằng lòng. Bàn Hồ
đi tới thành của Cao Vương, biến thành con chó, canh một tới chân thành,
canh hai vào thành tới chỗ Cao Vương. Thấy chó quý đến, Cao Vương cho
rằng có điềm lành, bèn giữ lại, luôn cho theo bên mình. Một hôm, Cao Vương
quá chén, rượu say bất tỉnh, Bàn Hồ bèn chém đầu và đưa về dâng cho Bình
Vương. Thắng trận, Bình Vương mặc dù không muốn gả con gái cho Bàn Hồ
song, vì đã chót hứa nên đành phải giữ lời. Đôi vợ chồng Bàn Hồ trở về núi
Nam Sơn và sinh sống ở trong động. Sau ba năm, vợ chồng Bàn Hồ sinh được
6 người con trai, 6 người con gái, kết hôn với nhau và thành thủy tổ 12 dòng
họ của người Dao hiện nay. Vợ chồng Bàn Hồ cùng con cái sau đó trở về
thăm bố vợ. Thương các cháu, Bình Vương ban cho các cháu áo, quần (váy),
sặc sỡ. Tuy nhiên, vợ chồng và con cái của Bàn Hồ không quen ở đất bằng,
họ xin trở về núi sinh sống. Nhà vua phong cho làm Bàn Vương, cấp cho Bình
Hoàng khoán điệp mà người Dao gọi là “Quỷ son poong” làm chủ tất cả khu
vực rừng núi phía Nam.
Trong các câu chuyện kể về nguồn gốc của người Dao, chuyện Bàn
Vương là phổ biến. Câu chuyện này hiện có nhiều phiên bản khác nhau, do
ảnh hưởng qua lại với các tộc người khác... Một số nhóm không thuộc người
Dao cũng phổ biến câu chuyện Bàn Hồ. Dù câu truyện được truyền miệng và
kể với mô típ nào chăng nữa thì cũng cho thấy một đặc điểm rất rõ là nguồn
gốc của nười Dao là kết quả của sự giao lưu văn hóa. Nếu câu truyện Bàn Hồ
liên kết toàn bộ cộng đồng người Dao, thì một số tín ngưỡng và thực hành
16
nhân dân các dân tộc trong huyện. Nơi đây có đất đai phì nhiêu khá thuận lợi
cho sản xuất nông nghiệp.
Lục Yên nằm trong tiểu vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, chia làm hai
mùa rõ rệt: Mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10, mùa khô từ tháng 11 đến tháng
4 năm sau. Nhiệt độ trung bình từ 22oC đến 24oC, nhiệt độ cao nhất 39oC –
41oC thấp nhất 1 - 2oC. Lượng mưa trung bình trong năm tương đối lớn từ
1500 – 2500mm tập chung chủ yếu từ tháng 5 đến tháng 10.
Thời tiết khí hậu huyện Lục Yên chỉ thích ứng với việc phát triển nông
lâm nghiệp. Ở đây người dân trồng rừng phòng hộ, rừng sản xuất, trồng cây
công nghiệp (chè), cây ăn quả (cam, quýt, hồng không hạt) và các loại cây
đem lại lợi ích kinh tế khác như măng Mai. Sản phẩm măng khô của Lục Yên
đã được bán ở khắp các vùng miền trong cả nước …
Trong những năm gần đây, được sự quan tâm của Đảng và Nhà nước,
huyện Lục Yên đã được đầu tư xây dựng nhiều hạng mục cơ sở hạ tầng:
100% các xã trong huyện đều đã có trạm xá, điện thắp sáng, đường xe ôtô tới
trụ sở Ủy Ban Nhân Dân và trường học đến cấp Trung học cơ sở.
Theo số liệu thống kê gần nhất, tốc độ tăng trưởng bình quân ở huyện
Lục Yên là 13,76%. Mức thu nhập bình quân đầu người từ 5-6 triệu đồng.
Thu ngân sách trên địa bàn đạt 5.158 tỉ đồng. Nếu cuối năm 2014, toàn huyện
có 3460 hộ nghèo, chiếm 35,96% so với tổng số hộ trên địa bàn thì sau 1 năm
thực hiện Nghị quyết 30A, đến 31/12/2015 tổng số hộ nghèo của huyện chỉ
còn 2315 hộ nghèo. Việc thực hiện công tác xóa nhà tạm trên địa bàn đã hoàn
thành từ 2014 với trên 1.172 nhà. (Những thông tin, số liệu trên đây dựa theo
kết quả thống kê của Phòng thống kê huyện Lục Yên năm 2014).).
Các yếu tố môi trường, tự nhiên và xã hội vừa nêu ở trên có ảnh hưởng
chi phối tới đời sống của những người dân đang sinh sống trên địa bàn, trong
đó có người Dao. Với những đặc điểm về vị trí địa lý, địa hình của một huyện
18
nhà có từ 3 đến 5 gian và bàn thờ được đặt ở gian giữa. Vật liệu làm nhà của
người Dao chủ yếu bằng gỗ, khai thác từ những khu rừng gần nơi cư trú.
Về trang phục, người Dao ở huyện Lục Yên cũng có trang phục giống
như người Dao của tỉnh Yên Bái. Cách nhận diện và phân biệt các nhóm tộc
người chủ yếu là dựa vào trang phục của họ. Người Dao Đỏ của huyện Lục
Yên là Dao Đại Bản, trang phục của họ là chiếc áo dài. Họ không mặc áo
ngắn. Áo tứ thân màu chàm hoặc màu đen, không khoét nách mà tay đấu
thẳng vào thân áo, nẹp ngực được thêu họa tiết với màu chủ đạo là màu đỏ,
chủ yếu là những sợi chỉ với gam màu đỏ (nhiều nhất), vàng, xanh,...thêu trên
nền vải màu đen. Dao Họ, còn được gọi là Dao Quần Trắng; trang phục của
họ mặc bó sát, áo dài qua hông, quần dài đến đầu gối và bó sát đùi, chân quấn
xà cạp.
Theo các nhà dân tộc học, trang phục dân tộc Dao nói chung và trang
phục dân tộc Dao Đỏ nói riêng thể hiện trên những họa tiết là hình con chó và
nhiều màu lá bởi nó gắn liền với sự tích về Bàn Hồ hóa thân thành con Long
khuyển ngũ sắc vào thành giết Cao Vương để giúp Bình Vương giữ được đất
nước. Mặc trang phục nhiều màu sắc như vậy là để tưởng nhớ và biết ơn Bàn
Hồ. Ngoài ra, cũng có ý kiến cho rằng, quần áo của tộc người Dao sặc sỡ là
bởi vì họ chủ yếu sống ở vùng rừng núi; trang phục có tác dụng bảo vệ họ
khỏi sự tấn công của hổ báo – những con vật vốn sợ màu đỏ.
Qua tìm hiểu về trang phục dân tộc cho thấy, trang phục dân tộc của
người Dao vừa đảm bảo yếu tố truyền thống, tâm linh cũng như sắc thái văn hóa.
Quần áo của đàn ông may rộng để phù hợp cho việc đi rừng, săn bắt,... Quần áo
của phụ nữ may dài, ôm sát cơ thể vừa tôn lên vẻ đẹp của người phụ nữ vừa che
chắn cho người phụ nữ khi lên rừng, đi nương rẫy khỏi nắng, bụi bặm,... trong
khi chiếc xà cạp lại có tác dụng chống lạnh, muỗi, vắt hay những vật cứng.
20
Một trong những điều đáng chú ý nhất ở tranh thờ là phong cách nghệ
thuật Đồng Hiện và Liên Hoàn được sử dụng triệt để, tạo nên hiệu quả rất cao.
Nghĩa là, trong cùng một khuôn tranh, người ta bắt gặp các lớp không gian,
thời gian, thật và ảo khác nhau; các thần chính, thần phụ, ma quỷ và con
người trên cùng một mặt tranh. Lại có những bức tranh vẽ đủ cả các cảnh từ
mặt đất lên bầu trời, từ núi sông tới biển cả, từ địa ngục tới tiên cảnh tùy theo
trí tưởng tượng của người vẽ. Điều ấy khiến cho không gian của tranh trở nên
mênh mang, không gian tranh trở nên vô tận chứ không ghim chặt vào một
thời điểm sáng hay chiều. Xét về mặt nào đó, đây là một thành công trong tư
duy sáng tác của các họa công tranh thờ. Tranh vẽ một loạt các nhân vật đáng
chú ý khác đó là những vị thần chủ như là Thập Điện Linh Vương, Tứ Đại
Nguyên Súy, Tả Sư Hữu Thánh... và các thần phụ đi kèm. Những vị thần chủ
chính thường được khắc họa nổi bật, các chi tiết được chọn lựa kỹ càng, mang
tính biểu trưng cao, ví như những lưỡi lửa bừng bừng cháy trên thanh gươm
của vị Tả Sư và con rắn xanh quấn quanh gươm của vị Hữu Thánh – trong bộ
tranh đôi Tả Sư Hữu Thánh. Những hình ảnh nói trên là ví dụ về sự khái quát,
cô đọng bằng đường nét: diễn tả sức mạnh bừng bừng không gì cản nổi (như
ngọn lửa), thâm sâu lạnh lẽo (như nọc độc của con rắn xanh) thứ quyền lực
bao trùm, mạnh mẽ của hai vị quan chấp pháp.
Trong khi đó, những nhân vật phụ thường được vẽ không mấy cụ thể,
mang những tư thế giống hệt nhau, đôi khi là những bản sao hoàn chỉnh về
sắc độ. Chính những hình tượng phụ này cũng là một điểm rất đáng lưu ý:
hàng trăm hình tượng vẽ lặp lại, na ná nhau, lại xếp liền tù tì thành một hàng
hay nhiều hàng chồng chéo, giống như một họa tiết trang trí độc đáo.
Với các dân tộc thiểu số, người thầy cúng và đồ thờ cúng luôn là chỗ
dựa cho đời sống tâm linh của họ. Người thầy cúng được kính trọng, có uy tín
trong cộng đồng và phải được cấp sắc và có học hành. Các lễ cúng không chỉ
22
Tranh thờ có ở một số dân tộc như Dao, Cao Lan, Tày, Nùng ở miền
núi phía Bắc và người Kinh ở khu vực đồng bằng. Những tranh này mặc dù
có chung chủ đề, đề tài và tác dụng trong hành lễ nhưng lại khác nhau về cách
thể hiện trên tranh.
Theo Frederick Harris - Chủ tịch quỹ Đông ngày nay – tác giả của cuốn
Tranh thờ các dân tộc thiểu số phía Bắc Việt Nam, nhận xét: “Tranh thờ là di
sản của một nền văn hóa lớn để lại. Đó là nền văn hóa của Đạo Giáo, hình
thành từ Trung Quốc khoảng hơn 2000 năm. Đạo Giáo cũng được mang vào
Việt Nam từ thời Thái Thú Giao Châu là Sỹ Nhiếp, tại trung tâm Luy Lâu
(136 – 226). Hiện nay, toàn bộ văn hóa Việt Nam đã thấm nhuần Đạo Giáo.
Nhưng có dòng tranh nhà thờ là không còn thấy lưu hành trong tộc người đa
số của Việt Nam. Chỉ còn tồn tại trong cộng đồng các dân tộc thiểu số miền
núi như Tày, Nùng, Dao, Cao Lan - Sán Chỉ và Khơ Mú. Tranh thờ được
dùng không phải một bức tranh để chơi, mà dùng trong các nghi lễ của các
thầy Mo, thầy cúng (thầy Tào). Các dân tộc này đều có nguồn gốc từ Trung
Quốc,...vì nhiều lí do khác nhau nhưng chủ yếu là do xung đột sắc tộc, nên đã
di cư, lánh nạn xuống phía Bắc của Việt Nam sinh sống trong nhiều thế kỷ
qua. Các dân tộc này có nhiều thay đổi, đặc biệt là trong những năm sau đổi
mới và trong thời kỳ hiện đại hóa hiện nay. Nhưng phải nói rằng, dù trải qua
nhiều biến cố, thăng trầm nhưng các dân tộc này vẫn còn giữ được nhiều đời
sống văn hóa riêng của họ ít bị biến đổi và nhạt phai vì thế mà tranh thờ vẫn
còn tồn tại, cùng các nghi lễ và đời sống tín ngưỡng vẫn còn giữ được gần
như trước đây trong đời sống của họ”.
Ngày nay, có những tranh đề lạc khoản rõ ràng cho biết xuất xứ. Tại
Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam, một bộ tranh thờ của người Dao Đỏ vùng Bắc
Hà, Lào Cai đang được trưng bày tại đây, trong khoản lạc ghi rõ: thuê hai bố
con nghệ nhân người Quảng Lâm, Quảng Tây vẽ năm Gia Khánh thứ 16, triều
24