TRƯỜNG(TÊN CƠ QUAN, ĐƠN VỊ CHỦ QUẢN)
SỞ GIÁO
DỤC- ĐÀO TẠO NAM ĐỊNH
(TÊN CƠ QUAN ÁP DỤNG SÁNG KIẾN)
TRƯỜNG THPTC NGHĨA HƯNG
BÁO CÁO SÁNG KIẾN
BÁO CÁO
(DỰ THI SÁNG
CẤP TỈNH) KIẾN
HƯỚNG DẪN HỌC
SINH
LÀM
BÀI VĂN NGHỊ LUẬN
(Tên
sáng
kiến)
VỀ CHI TIẾT, HÌNH ẢNH TIÊU BIỂU TRONG
TRUYỆN NGẮN TRONG CHƯƠNG TRÌNH THPT
Tác giả: Phạm Thị Thanh Nhàn.
Tác giả:...................................................................
Trình độ chuyên môn: Cử nhân môn Văn
Trình độ chuyên môn:...........................................
Chức vụ: Giáo viên dạy Văn; Tổ trưởng tổ Văn.
Chức vụ:.................................................................
Nơi công tác: Trường THPT C Nghĩa Hưng.
Nơi công tác:...................................................................
Nam Định, ngày 25 tháng 5 năm 2016
chọn lựa một cách kĩ càng hơn. Theo nhà văn Nguyễn Công Hoan “Truyện ngắn
và truyện dài phải khác nhau ở tính chất. Truyện ngắn không phải là truyện mà là
một vấn đề được xây dựng bằng chi tiết với sự bố trí chặt chẽ và bằng thái độ với
cách đặt câu dùng tiếng có cân nhắc.....Không có chi tiết thừa, rườm rà, miên
man”. (Kinh nghiệm viết truyện ngắn – Vương Trí Nhàn- NXB Tác phẩm mới).
Khác với truyện dài, truyện ngắn tuy nhỏ bé hơn nhiều về số lượng trang, chữ, về
đối tượng phản ánh nhưng lại đòi hỏi cao về nghệ thuật diễn đạt. Ở truyện ngắn
nhất là những truyện ngắn hay không có những yếu tố thừa. Vì vậy để tìm hiểu
được cái hay cái đẹp của một tác phẩm văn chương (truyện ngắn) học sinh cần
hiểu thấu đáo và cảm nhận sâu sắc được các chi tiết nhất là các chi tiết đặc sắc. Bỏ
qua hoặc quên đi một số chi tiết dù chỉ bé nhỏ nhưng lại có ý nghĩa quan trọng và
sẽ làm hạn chế giá trị biểu hiện của tác phẩm.
-Đọc – hiểu tác phẩm văn học nhất là tác phẩm tự sự trong nhà trường là
công việc thường xuyên của thầy và trò. Người thầy phải hướng dẫn học sinh tìm
hiểu rõ, cụ thể các chi tiết. Khi đó học sinh sẽ có cái nhìn thấu đáo về tác phẩm, sẽ
hiểu chiều sâu của các chi tiết cũng như hiểu rộng hơn ý nghĩa của tác phẩm, hiểu
sâu sắc hơn về giá trị nội dung cũng như ý nghĩa tư tưởng của mỗi tác phẩm mang
lại.
2. CƠ SỞ THỰC TIỄN.
- Một thói quen của nhiều người nhất là với học sinh là khi tìm hiểu các văn
bản tự sự chỉ quan tâm nhiều đến cốt truyện, nhân vật, tình huống và các đề kiểm
tra cũng thường chỉ xoay quanh các vấn đề ấy. Đó là nguyên nhân làm cho các bài
làm văn của học sinh chung chung, mờ nhạt, thiếu điểm nhấn. Học sinh thường chỉ
3
lướt qua các vấn đề mà không đi vào việc tìm hiểu sâu các chi tiết cụ thể nhất là
các chi tiết đắt giá trong tác phẩm.
-Trong nhà trường việc tìm hiểu sâu về các chi tiết trong tác phẩm tự sự
Đề 1(Đề thi Tốt nghiệp năm 2010-2011).
Trong đoạn cuối truyện “Chiếc thuyền ngoài xa” của Nguyễn Minh Châu,
nhân vật nghệ sĩ Phùng mỗi khi ngắm kĩ và nhìn lâu hơn tấm ảnh do mình chụp
thường thấy hiện lên những hình ảnh nào? Những hình ảnh đó nói lên điều gì?
Đề 2 (Đề thi Đại học khối C 2011- 2012).
Trong tác phẩm “Vợ chồng A Phủ” của Tô Hoài, việc Mị nhìn thấy “dòng
nước mắt lấp lánh bò xuống hai hõm má đã xám đen lại” của A Phủ diễn ra trong
hoàn cảnh nào? sự việc ấy có ý nghĩa gì đối với tâm lí của nhân vật Mị?
+ Đề làm văn nghị luận như:
Đề 1: (Đề thi Đại học khối D năm 2010)
Cảm nhận của anh/chị về chi tiết bát cháo hành mà nhân vật Thị Nở mang
cho Chí Phèo (Chí Phèo- Nam Cao) và chi tiết “ấm nước đầy và nước hãy còn ấm”
mà nhân vật Từ dành sẵn cho Hộ (Đời thừa – Nam Cao).
Đề 2: (Đề thi Đại học khối C năm 2012)
Truyện ngắn “Chí Phèo” của Nam Cao kết thúc bằng hình ảnh “Đột nhiên
thị thấy thoáng hiện ra một cái lò gạch cũ bỏ không, xa nhà cửa và vắng người lại
qua”.
(Ngữ văn 11. Tập 1, NXB GDVN 2011. Tr 115.)
Truyện ngắn “Vợ nhặt” của Kim Lân kết thúc bằng hình ảnh “Trong óc
Tràng vẫn thấy đám người đói và lá cờ đỏ bay phấp phới”.
(Ngữ văn 11. Tập 2, NXB GDVN 2011. Tr 32.)
Cảm nhận của anh/ chị về ý nghĩa của những hình ảnh kết thúc trên.
Đề 3: (Đề thi thử THPT Quốc gia SGD Nam Định năm 2015)
5
Truyện ngắn “Vợ chồng A Phủ” của Tô Hoài kết thúc bằng hình ảnh “Hai
người lẳng lặng đỡ nhau lao chạy xuống dốc núi.”
Truyện ngắn “Vợ nhặt” của Kim Lân kết thúc bằng hình ảnh “Trong óc
6
Trong truyện ngắn Vợ nhặt của nhà văn Kim Lân (Ngữ văn 12), sau khi đãi
người đàn bà bốn bát bánh đúc, Tràng cười và nói với thị:
- Này nói đùa chứ có về với tớ thì ra khuân hàng lên xe rồi cùng về.
Cảm nhận của anh/ chị về ý nghĩa của những câu nói trên.
Tài liệu 90 đề thi Quốc gia THPT môn Ngữ Văn (Tập 2). NXB Quốc
gia Hà nội 2015).
Như vậy có rất nhiều câu hỏi liên quan đến việc tìm hiểu cụ thể các chi tiết
tiêu biểu đòi hỏi học sinh phải cảm nhận sâu sắc, hiểu kĩ các vấn đề. Ở đây tôi tập
trung vào việc học sinh phải làm những câu làm văn về chi tiết. Điều này sẽ càng
khó khăn hơn.
- Thực tế, trong chương trình THCS và THPT không có bài học nào hướng
dẫn học sinh làm bài văn nghị luận về chi tiết, hình ảnh trong tác phẩm văn
chương. Trong giảng dạy những năm gần đây không phải giáo viên nào cũng chú ý
đến công việc này nhất là với giáo viên chưa ôn thi Đại học (nay là THPT Quốc
gia). Vì thế để học sinh làm tốt được những bài làm văn dạng như trên quả thực là
điều rất khó khăn.
- Cũng có nhiều bài viết đưa ra cách tiếp cận tác phẩm từ việc giải mã các
chi tiết nghệ thuật như: Vấn đề giảng dạy tác phẩm theo loại thể (Nhiều tác giảNXB GD 1978), Những bài giảng văn ở Đại học ( Lê Trí Viễn - NXB GD
1982)...Ngoài ra cũng có nhiều bài nghiên cứu về vấn đề này nhưng chủ yếu tiến
hành theo cách thức tìm hiểu chi tiết như một câu hỏi nhỏ. Trong tài liệu “Những
ấn tượng văn chương” của nhà giáo Vũ Dương Quỹ cũng có những bài rất hay về
chi tiết, hình ảnh nhưng là những bài làm văn mà không định hướng về phương
pháp. Như vậy với học sinh THPT nói chung nhất là với học sinh Trường THPTC
Nghĩa Hưng nói riêng đây vẫn còn là một vấn đề khó.
-Tôi đã tiến hành cuộc khảo sát với những câu hỏi dành cho giáo viên và học
sinh trường THPT NHC.
Câu hỏi 1 (Với giáo viên): Đồng chí đã thường xuyên hướng dẫn học
nhiều lí do. Điều này, theo tôi nghĩ là điều thật đáng tiếc. Với hầu hết giáo viên
thường quan niệm dạng đề đó thường ít thi nên không hướng dẫn ôn kĩ. Nhưng tôi
nghĩ, bên cạnh việc dạy cho học sinh để đạt kết quả thi tốt thì người thầy cũng cần
giúp các em khám phá được cái hay, cái đẹp trong tác phẩm văn chương từ đó mà
8
thắp lên cho các em ngọn lửa của niềm đam mê. Nếu giáo viên có tâm lí qua loa thì
chính mình đang làm các em rời xa văn chương và rời xa chính mình. Vì thế mà
việc giảng dạy của mình sẽ gặp nhiều khó khăn. Chỉ khi học sinh hiểu sâu được ý
nghĩa của những hình ảnh, chi tiết tiêu biểu để hiểu sâu tác phẩm văn chương mới
giúp các em có niềm đam mê để khám phá, tìm tòi. Từ đó mới thấy được ý nghĩa
sâu sắc của tác phẩm trong đời sống con người, các em sẽ đem văn chương vào
cuộc đời để cuộc đời trở nên ý nghĩa hơn. Và chỉ khi đó người dạy Văn mới thực
sự có niềm hạnh phúc của mình.
* Từ thực tế đó, bên cạnh các dạng đề khác, tôi cũng rất chú ý hướng dẫn các
em giải quyết dạng đề văn nghị luận về hình ảnh, chi tiết trong tác phẩm tự sự. Và
tôi đi tìm giải pháp để “Hướng dẫn học sinh làm bài văn nghị luận về chi tiết,
hình ảnh trong tác phẩm truyện ngắn trong chương trình THPT”
II. MÔ TẢ GIẢI PHÁP SAU KHI CÓ SÁNG KIẾN.
II.1. CÁC BƯỚC HƯỚNG DẪN HỌC SINH.
1, Bước 1: Tìm hiểu về chi tiết và chi tiết văn học.
-Theo “Từ điển Tiếng Việt” (NXB khoa học xã hội Hà Nội năm 1988) thì “Chi
tiết là: Phần rất nhỏ, điểm nhỏ trong nội dung sự việc hoặc hiện tượng”.
- Trong văn học, chi tiết theo định nghĩa của nhóm tác giả Lê Bá Hán, Trần
Đình Sử, Nguyễ Khắc Phi (Từ điển thuật ngữ văn học, NXB Đại học Quốc gia Hà
Nội, 1977) là : Các tiểu tiết của tác phẩm mang sức chứa lớn về cảm xúc và tư
tưởng và họ gọi chung là chi tiết nghệ thuật.
->Từ những quan niệm trên có thể rút ra nhận xét: Chi tiết văn học là những
tiểu tiết trong tác phẩm nhưng nó có ý nghĩa lớn góp phần làm nổi bật nội dung tư
dẫn cho học sinh phát hiện các chi tiết nổi bật có ý nghĩa quan trọng với tác phẩm
(Đây là việc mỗi giáo viên thường hay làm và cũng có nhiều tài liệu đề cập).
3. Bước 3: Sau khi học xong mỗi tác phẩm, tôi thường yêu cầu học sinh hệ
thống lại các chi tiết quan trọng Công việc này với mục đích một lần nữa các em
đọc lại tác phẩm để khắc sâu hơn những vấn đề chủ yếu của tác phẩm.
4. Bước 4: Sau khi học xong một chùm bài (một chuyên đề) tôi hướng dẫn học
sinh phân loại các chi tiết quan trọng (Tham khảo cách phân loại của đc Trần Xuân
Trà trong tài liệu tập huấn ôn thi Tốt nghiệp năm 2013).
5. Bước 5: Trong số những chi tiết đã hệ thống đó tôi hướng dẫn học sinh xác
định những chi tiết, hình ảnh đặc biệt có ý nghĩa then chốt với mạch truyện và góp
10
phần quan trọng trong việc thể hiện chủ đề tư tưởng của tác phẩm. Đó là những chi
tiết, hình ảnh có thể bàn luận dưới dạng bài văn nghị luận.
VD:
Tác phẩm “Hai đứa trẻ”- Thạch Lam cần lưu ý đặc biệt các chi tiết, hình ảnh:
ngọn đèn con của chị Tí, đoàn tàu đi qua phố huyện vào mỗi đêm.
Tác phẩm “Chí Phèo” - Nam Cao cần chú ý chi tiết, hình ảnh: Bát cháo hành
của Thị Nở, giọt nước mắt của Chí Phèo, cái lò gạch bỏ không....
Tác phẩm “Vợ chồng A Phủ” – Tô Hoài cần chú ý chi tiết, hình ảnh : Tiếng sáo
đêm xuân, giọt nước mắt của A Phủ......
Tác phẩm “Vợ nhặt”- Kim Lân cần chú ý chi tiết, hình ảnh: Bát bánh đúc, nồi
cháo cám (chè khoán), đoàn người phá kho thóc Nhật và lá cờ đỏ .......
Tác phẩm “Rừng xà nu”- Nguyễn Trung Thành cần chú ý chi tiết, hình ảnh: Lời
nói của cụ Mết “Chúng nó đã cầm súng, mình phải cầm giáo”, bàn tay Tnú, rừng
xà nu bạt ngàn (cuối tác phẩm).........
Tác phẩm “Những đứa con trong gia đình”- Nguyễn Thi cần chú ý chi tiết,
hình ảnh: cuốn sổ gia đình, lời khen của chú Năm với Việt và Chiến, chị em Việt
và Chiến khiêng bàn thờ ba má sang gửi chú Năm......
1. Giới thiệu khái quát về tác giả tác phẩm (giống như các dạng đề khác về
tác phẩm).
2. Khái quát về chi tiết và vai trò của chi tiết trong tác phẩm văn chương
(trong truyện ngắn)
- Chi tiết văn học (Dẫn dắt từ phần bước 1 (I))
- Vai trò của chi tiết trong tác phẩm văn học: Chi tiết nghệ thuật có tính tạo
hình, chi tiết gắn liền với quan niệm nghệ thuật về con người, chi tiết có vai trò
biểu lộ tư tưởng, chủ đề tác phẩm. Chi tiết đóng vai trò làm tiền đề cho sự phát
triển của cốt truyện.
3. Dẫn dắt cụ thể hoàn cảnh dẫn đến chi tiết. Tất cả các chi tiết đều được
xuất hiện trong hoàn cảnh cụ thể nhất là các chi tiết quan trọng thường xuất hiện
trong một hoàn cảnh (tình huống đặc biệt)- Tóm tắt các sự việc phần trước đó để
dẫn đến chi tiết cần bàn luận bằng một đoạn văn ngắn khoảng 7- 10 dòng (Chú ý
dẫn dắt ngắn gọn, chọn những sự việc then chốt có liên quan chặt chẽ đến mạch
vận động của tác phẩm và có ý nghĩa trực tiếp đến chi tiết bàn luận. Tránh lan
man). Cụ thể:
12
-Chi tiết ấy thuộc phần nào của tác phẩm.
-Tình huống dẫn đến chi tiết.
-Đưa ra cụ thể hình ảnh, chi tiết cần phân tích.
4. Phân tích cụ thể nội dung, nghệ thuật để rút ra nghĩa của chi tiết.
* Đây là phần quan trọng nhất và thường rất khó bởi dung lượng chi tiết thì thật
ít lại đòi hỏi các em phải suy luận, phân tích có chiều sâu. Học sinh phải có kiến
thức và kĩ năng thật tốt. Muốn vậy, giáo viên phải định hướng cho học sinh biết
cách khai thác vấn đề, phải biết phát huy trí tưởng tượng phong phú, phát huy
trường liên tưởng. Bản chất của văn chương là sự sáng tạo nên cần có sự cảm nhận
phong phú sáng tạo của học sinh song cũng cần phải bám vào mạch truyện, vào các
yếu tố liên quan để hiểu về chi tiết cũng như hiểu được chủ đề tư tưởng của tác
Khi phân tích hình ảnh ngọn lửa trên mười đầu ngón tay của Tnú, học sinh có
những cảm nhận và liên tưởng:
-Ngọn lửa bốc cháy trên mười đầu ngón tay của Tnú như thể hiện nỗi đau đớn
tận cùng của Tnú và cũng là nỗi đau của toàn dân tộc khi kẻ thù sang xâm lược.
Nhà văn đã miêu tả “Một ngón tay Tnu bốc cháy, hai ngón, ba ngón...”. Ngôn ngữ
giàu sức tạo hình để ta hình dung ra hình ảnh những ngón tay Tnú cứ bén dẫn, bén
dần lần lần một ngón, hai ngón...Nhà văn lại nói thêm: Không có gì đượm bằng
cây xà nu. Lửa bắt rất nhanh, mười ngón tay đã trở thành mười ngọn đuốc. Ngọn
lửa ấy lan thật nhanh và ngay trong chốc lát mười ngón tay ấy đã bùng lên bốc
cháy...Nỗi đau như đến tận cùng. Đau đớn cực độ khi Tnú không cảm thấy lửa ở
mười đầu ngón tay mà anh cảm thấy lửa cháy trong lồng ngực, cháy ở bụng, máu
anh mặn chát ở đầu lưỡi, răng anh đã cắn nát môi anh rồi. Lúc này nỗi đau ấy
không chỉ ở mười đầu ngón tay nữa mà ngọn lửa ấy như thiêu đốt toàn cơ thể anh,
anh đang cố kìm nén nỗi đau. Đó còn là hình ảnh tố cáo tội ác tày trời của giặc Mĩ,
chúng đã tàn sát hủy diệt cuộc sống của nhân dân ta. Chúng còn giết bà Nhan, anh
Xút, anh Quyết và bao nhiêu người dân vô tội khác nữa. Chúng đã biến cây xà nu
vốn thân thuộc gần gũi, vốn là bạn của mọi nhà giờ đây lại thiêu đốt nhân dân.
Dưới sự tàn bạo của chúng tất cả đều trở nên đáng sợ (Liên hệ với tội ác của giặc
Minh ở thế kỉ XV):
“Nướng dân đen trên ngọn lửa hung tàn
Vùi con đỏ xuống dưới hầm tai vạ”
“Bình Ngô đại cáo”- Nguyễn Trãi
14
-Ngọn lửa ngùn ngụt bốc cháy cũng là ngọn lửa của lòng căm thù trong mỗi
người dân Việt Nam. Bọn thằng Dục thiêu đốt mười đầu ngón tay của Tnú là để uy
hiếp tinh thần của nhân dân. Chúng đe dọa người dân “xem hãy coi bàn tay thằng
Tnú”, chúng muốn người dân Tây Nguyên nhìn vào đó mà sợ, mà không dám đấu
tranh nhưng ngược lại nhìn vào đó họ không sợ hãi bọn giặc mà chỉ thấy thương
liên hệ ấy khi nói về giọt nước mắt của bà cụ Tứ trong tác phẩm “Vợ nhặt” của
Kim Lân ta có thể liên hệ đến câu thơ:
“Tuổi già hạt lệ như sươnng
Hơi đâu ép lấy hai hàng chứa chan”
“Khóc Dương khuê”- Nguyễn khuyến.
b. Phân tích nghệ thuật xây dựng chi tiết (gắn với nét đặc trưng trong phong
cách của nhà văn)
-Bút pháp miêu tả như bút pháp hiện thực (chi tiết kết thúc truyện Chí Phèo),
bút pháp lãng mạn cách mạng (chi tiết kết thúc truyện “Vợ nhặt”), bút pháp của
khuynh hướng sử thi (chi tiết về hình ảnh rừng xà nu cuối tác phẩm “Rừng xà nu”)
-Nét đặc trưng trong ngôn ngữ: Ngôn ngữ giản dị như trong tác phẩm của Kim
Lân, ngôn ngữ hào hùng tráng lệ như trong “Rừng xà nu”, ngôn ngữ đậm màu sắc
triết lí như trong tác phẩm của Nam Cao..., ngôn ngữ đậm sắc thái Nam Bộ trong
“Những đứa con trong gia đinh” Nguyễn Thi...
5. Đánh giá ý nghĩa của chi tiết đó trong hệ thống toàn bộ tác phẩm.
Chi tiết quan trọng ấy làm cho mạch truyện trở nên thống nhất và giữ vai trò
chủ đạo làm nên ý nghĩa tư tưởng của tác phẩm.
Thể hiện rõ phong cách của tác giả.
VÍ DỤ CHỨNG MINH
Cảm nhận của anh/ chị về chi tiết bát bánh đúc trong truyện ngắn“Vợ
nhặt” của Kim Lân.
(I). ĐVĐ: (Giới thiệu từ quan niệm của nhà văn Nguyễn Minh Châu)
(Nhà văn Nguyễn Minh Châu có lần nói đại ý rằng : Người cầm bút có biệt
tài là có thể chọn trong cái dòng đời xuôi chảy một khoảnh khắc với một vài sự
diễn biến sơ sài nhưng đó có khi lại là cái khoảnh khắc chứa cả một đời người, một
đời nhân loại. Đúng như vậy, trong cái dòng đời xuôi chảy ấy các nhà văn sẽ tìm
được một khoảnh khắc – một điểm sáng nghệ thuật có ý nghĩa làm nổi bật tính
cách của nhân vật và góp phần quan trọng trong việc thể hiện chủ đề tư tưởng của
16
khủng khiếp năm 1945.
17
+Vì cái đói cái nghèo nên khi được Tràng mời ăn giầu, thị đã nói “Ăn gì thì
ăn, chả ăn giầu”. Thị đã “gợi ý” để được ăn, Lúc này cái đói cái nghèo đang bám
riết lấy thị nên cái điều đơn giản nhất và cũng lớn lao nhất với thị là có được miếng
ăn.
+ Vì miếng ăn mà thị mất đi nữ tính của người con gái, thị đánh đổi cái sĩ
diện, cái duyên của người con gái. Khi thị “sà xuống ăn một chặp bốn bát bánh
đúc” thì ta thấy thị thật đáng thương, tội nghiệp. Có người nói thị trở nên trơ trẽn
vì miếng ăn, cái đói đã làm thị mất đi nhân phẩm, lòng tự trọng. Có sống trong
hoàn cảnh ấy con người ta mới thấm thía và hiểu cho hoàn cảnh của thi. Nhà văn
Nam Cao cũng hay viết về cái đói, về miếng ăn, về chuyện vì miếng ăn mà con
người ta đánh mất đi nhân phẩm, lương tri. Trong truyện “Một bữa no”, Nam Cao
cũng đã nói về người bà vì đói quá mà ăn cho đến no và chết vì “một bữa no”, hay
trong “Trẻ con không được ăn thịt chó”, nhà văn cũng viết về hình ảnh của người
cha vì miếng ăn mà trở nên độc ác với những đứa con.
+Thị theo không Tràng về làm vợ cũng chỉ vì cái đói, muốn chạy trốn cái
đói.
-Hình ảnh bắt bánh đúc ấy cũng thể hiện niềm ham sống, khát khao cuộc
sống của người nông dân: Vì sự sinh tồn nên thị “ăn liền một chặp bốn bát bánh
đúc chẳng chuyện trò gì”, ăn để sống. Và thị bám theo câu nói của Tràng “rích bố
cu” “có về với tớ thì ra khuân hàng lên xe rồi cùng về, rồi thị đã theo không về
làm vợ.
- Thể hiện vẻ đẹp của tình người hào hiệp ở người cho ăn- Tràng nghèo
không dư dật gì nhưng lại có tấm lòng nhân hậu, biết cưu mang đồng loại.
+ Trong buổi đói khát, miếng ăn là cả vấn đề sinh mệnh, Tràng cho thị ăn
trong hoàn cảnh lúc bấy giờ một nghĩa cử rất cao đẹp.
+ Tràng đã cứu sống thị.
TIẾT.
(Học sinh vận dụng kĩ năng nghị luận về những ý kiến bàn về văn học)
I). Đặt vấn đề: Yêu cầu học sinh có cách dẫn dắt phù hợp. Cần đưa ra được
những ý kiến bàn về chi tiết.
(II). Giải quyết vấn đề:
1. Giới thiệu khái quát về tác giả và tác phẩm
19
2. Khái quát về chi tiết và vai trò của chi tiết trong tác phẩm văn chương
(trong truyện ngắn)
- Chi tiết văn học (Dẫn dắt từ phần bước 1 (I))
- Vai trò của chi tiết trong tác phẩm văn học: Chi tiết nghệ thuật có tính tạo
hình, chi tiết gắn liền với quan niệm nghệ thuật về con người, chi tiết có vai trò
biểu lộ tư tưởng, chủ đề tác phẩm. Chi tiết đóng vai trò làm tiền đề cho sự phát
triển của cốt truyện.
3. Bình luận các ý kiến về chi tiết.
3.1: Bàn luận về ý kiến thứ nhất.
-Đưa ra ý kiến của cá nhân.
-Giải thích, chứng minh cho ý kiến của mình.
3.2: Bàn luận về ý kiến thứ hai.
-Đưa ra ý kiến của cá nhân.
-Giải thích, chứng minh cho ý kiến của mình.
4. Bàn luận về mối quan hệ giữa hai ý kiến.
(III). KTVĐ.
-Khẳng định lại ý kiến của bản thân.
- Đánh giá về ý nghĩa của chi tiết:
-Đánh giá về sự thành công của tác phẩm.
VÍ DỤ CHỨNG MINH
Đề bài: Về cách kết thúc truyện ngắn “Vợ nhặt”, có ý kiến cho rằng
cảnh đó người nông dân vẫn đùm bọc yêu thương, vẫn khao khát mái ấm gia đình
và luôn có một niềm hi vọng vào tương lai.
2. Khái quát về chi tiết trong tác phẩm văn học. (Tham khảo phần trên).
3. Tóm tắt dẫn dắt đến chi tiết.
Truyện viết về cuộc sống của những người dân ở xóm ngụ cư trong nạn đói
mà tiêu biểu là cuộc sống của gia đình Tràng. Vì cái đói cái nghèo nên Tràng
không thể có một đám cưới đàng hoàng và bữa cơm đón nàng dâu mới của nhà
Tràng cũng rất thảm hại “Giữa cái mẹt rách chỉ có độc một lùm rau chuối thái rối
và một đĩa muối ăn với cháo”. Trong bữa ăn họ nghe thấy tiếng trống thúc thuế,
qua lời của người vợ, Tràng đã nhớ lại có lần mình gặp Việt Minh và “Trong óc
Tràng bỗng hiện lên đám người đói và lá cờ đỏ bay phấp phới”,
21
4.Trình bày ý kiến của bản thân về cách kết thúc truyện.
4.1: Bàn luận về ý kiến: “Đó là một cái kết mở, tự nhiên và sáng”
- Đó là cách kết truyện tự nhiên phù hợp.
+ Kết thúc ấy có cơ sở từ thực tiễn đời sống. Câu chuyện có bối cảnh là nạn
đói năm 1945- một thời điểm lịch sử có thật trong đất nước ta vào những năm
tháng chuẩn bị cho cuộc cách mạng và đó là những ngày tiền khởi nghĩa với phong
trào phá kho thóc Nhật chia cho dân nghèo. Vậy nên trong hoàn cảnh đói khát
cùng cực ấy người nông dân nhận ra kẻ thù gây đau khổ cho mình là bọn Pháp và
Nhật. Thực dân Pháp thi hành những “luật pháp dã man’, vơ vét của cải còn phát
xít Nhật thì bắt nhân dân ta nhổ lúa trồng đay, trồng thầu dầu rồi cùng với thiên tai,
lũ lụt...Tất cả đều là căn nguyên dẫn đến thảm cảnh nạn đói năm 1945. Những
người dân sống trong hoàn cảnh đó họ sẽ ý thức được mình phải đứng lên đấu
tranh tìm con đường cho mình. Họ sẽ tìm đến với cách mạng như một điều tất yếu.
+ Sự hợp lí ở đây là họ chỉ mới bắt đầu nhận thức về cách mạng, đó mới chỉ
là ánh sáng le lói ở cuối đường hầm. Nhà văn không kết thúc câu chuyện ở việc
Tràng đi làm cách mạng rồi kêu gọi quần chúng nhân dân cùng đứng lên đấu tranh.
giống như cái tiền đồ của chị”...Họ đều rơi vào luẩn quẩn, bế tắc không lối thoát.
Ở “Vợ nhặt”, Kim Lân đã để cho những người nông dân hướng về tương lai. Liệu
tác phẩm có thể kết thúc trong cảnh “bữa cơm ngày đói” với khung cảnh trông thật
thảm hại “Giữa cái mẹt rách chỉ có độc một lùm rau chuối thái rối và một đĩa
muối ăn với cháo” và “không ai nói câu gì. Họ cắm đầu ăn cho xong lần. Họ tránh
nhìn mặt nhau. Một nỗi tủi hờn len vào tâm trí mỗi người”. Nếu kết thúc như thế
thì cái đói, cái nghèo vẫn bao trùm, cuộc sống của nhân dân vẫn rơi vào bế
tắc...Nhưng Kim Lân không dừng lại ở đó. Ông đã hướng họ vào ánh sáng của
tương lai, của cách mạng “Trong óc Tràng bỗng hiện lên đám người đói và lá cờ
đỏ bay phấp phới”. Thật là ông đã để những con người trong hoàn cảnh khốn cùng
cận kề cái chết nhưng họ không nghĩ đến cái chết mà vẫn hướng đến sự sống, vẫn
hi vọng tin tưởng ở tương lai. Những người đói ấy vẫn khao khát về cuộc sống ấm
no, đầy đủ hơn. Nhà văn đã để người dân nhận thức đúng về cách mạng khơi lên
tinh thần đấu tranh . Thực tiễn lịch sử cách mạng Tháng tám 1945 đã thắng lợi thì
con người và đặc biệt là người nông dân càng có thêm động lực niềm tin vào tương
lai tươi sáng ấm no. Thật là một cách kết truyện sáng mở ra cuộc sống tươi sáng
cho con người.
23
4.2: Bàn luận về ý kiến: “Đó chưa phải là một cái kết thực sự tự nhiên”.
Còn có ý kiến cho rằng “Đó chưa phải là một cái kết thực sự tự nhiên”, còn
gượng ép về mặt nghệ thuật. Có thể lí giải điều này bởi có người cho rằng không
khí truyện còn ngập tràn trong cảnh đói khát, thiếu sinh khí và hiện thực về cái
chết là điều khó tránh khỏi. Những người nông dân ở đây chỉ là những con người
nhỏ bé chưa hiểu gì về cách mạng và họ chưa đủ khả năng để làm thay đổi cuộc
sống của mình. Vì thế cho rằng âm thanh của tiếng trống thúc thuế và hình ảnh lá
cờ có phần gượng ép. Tuy nhiên như đã phân tích ở trên, tất cả sự nhận thức về
cách mạng của người nông dân có thể đến bởi họ đang sống trong những ngày sôi
sục trong những ngày tiền khởi nghĩa của cuộc cách mạng tháng Tám.
3.1: Cảm nhận về chi tiết 1 theo các bước (Theo cách thức cảm nhận về chi
tiết).
a. Phân tích nội dung
a1. Phải thấy rõ chi tiết ấy nói về điều gì?
a2. Bình sâu các từ ngữ quan trọng:
a3. Phân tích sâu ý nghiã gợi ra từ chi tiết đó
a4.Phải có sự so sánh, mở rộng liên hệ sâu với các chi tiết khác ở tác phẩm
cũng như các chi tiết có liên quan ở các tác phẩm khác.
b. Phân tích nghệ thuật xây dựng chi tiết (gắn với nét đặc trưng trong phong
cách của nhà văn)
3.2: Cảm nhận về chi tiết 2 theo các bước nêu trên.
4. So sánh các chi tiết:
- So sánh điểm tương đồng (Giải thích lí do).
+ Nội dung
+Nghệ thuật
-So sánh điểm khác biệt
+Về nội dung
+Về nghệ thuật.
-Lí giải nguyên nhân (Từ hoàn cảnh xuất hiện chi tiết, từ ý nghĩa của chi tiết)
(III). KTVĐ.
*Đánh giá về ý nghĩa của các chi tiết:
25