SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐỒNG NAI
Đơn vò: Trường THPT Chun Lương Thế Vinh
Mã số:……………………
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
HƯỚNG DẪN HỌC SINH
LÀM VĂN NGHỊ LUẬN
XÃ HỘI DẠNG ĐỀ
MỞ
Người thực hiện: Trần Thò Châu Thưởng
Lónh vực nghiên cứu:
Quản lý giáo dục:
Phương pháp dạy học bộ môn: Ngữ
Văn
Phương pháp giáo dục:
Lónh vực khác:
Có đính kèm:
Mô hình
Phần mền
Phim ảnh
khác
Năm học: 2012 – 2013
SƠ LƯỢC LÝ LỊCH KHOA HỌC
chương, 2009.
+, SKKN: Học theo dự án – Kết hợp học và du khảo về văn hóa
Đồng Nai, 2010.
+, SKKN: Một số kinh nghiệm trong việc bồi dưỡng học sinh giỏi
Ngữ văn, 2011.
+, SKKN: Mấy vấn đề về việc dạy học tác phẩm “Vũ Như Tô” và
trích đoạn “Vĩnh biệt Cửu Trùng Đài” của Nguyễn Huy Tưởng,
2012.
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
HƯỚNG DẪN HỌC SINH LÀM VĂN
NGHỊ LUẬN XÃ HỘI DẠNG ĐỀ MỞ
I. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI
1. Tư tưởng và mục đích của hoạt động đổi mới phương pháp dạy
học trong trường phổ thông hiện nay là tích cực hóa hoạt động học tập
của học sinh. Với tinh thần này, Chương trình và sách giáo khoa hiện
hành đã có nhiều đổi mới về cách kiểm tra, đánh giá. Một trong những
phương diện đổi mới là việc chú trọng văn nghị luận xã hội (NLXH).
Đây là một cách rất tốt hình thành cho học sinh – những công dân trẻ của
đất nước tư tưởng, tình cảm tốt đẹp, suy nghĩ sâu sắc trước mọi vấn đề
của cuộc sống.
Bên cạnh đó, để tăng cường tính chủ động, tích cực của học sinh
(HS), việc ra đề văn NLXH theo hướng mở ngày càng được xã hội đồng
tình, nhiều giáo viên (GV) tích cực đổi mới cách ra đề. Ưu điểm của lối
ra đề NLXH theo hướng mở là rèn luyện khả năng độc lập suy nghĩ, phát
huy tính sáng tạo và gây hứng thú cho học sinh. Kết quả chúng ta đã có
những bài viết thể hiện suy nghĩ riêng, độc đáo và chân thực của học sinh
được đăng tải trên báo và các phương tiện thông tin đại chúng.
Tạp chí Nghiên cứu giáo dục). Từ đó, ông Đỗ Ngọc Thống nhận xét: Đó
là những tư tưởng rất quan trọng, làm cơ sở cho việc xác định phương
hướng dạy Làm văn nói chung và dạy Làm văn ở THPT nói riêng. Để
hiện thực hóa tư tưởng đó, trước hết cần hình thành và rèn luyện năng
lực chủ động và linh hoạt trong việc làm bài văn.
- GS. TS Trần Đình Sử, một trong hai Tổng Chủ biên của bộ sách
giáo khoa mới, trong bài Đề mở trong dạy – học Làm văn (Tạp chí Văn
học và Tuổi trẻ số 1 năm 2012) đánh giá: Đề mở là một hướng tiến bộ
trong dạy học Làm văn, nhưng vẫn đang là một vấn đề mới, chưa được
nghiên cứu sâu, còn có những khía cạnh chưa rõ, phải qua thực tiễn thì
mới nhìn thấy hết được. Vấn đề này đòi hỏi các giáo viên nghiên cứu, suy
nghĩ, nhìn thấy chỗ mạnh, chỗ khó, thậm chí chỗ yếu của nó, nghiên cứu
phương pháp dạy học phù hợp thì phương hướng này mới phát huy được
tác dụng tích cực của nó.
- Như vậy, có thể nói, việc dạy – học Làm văn theo đề mở là một
hướng đi đúng đắn và tích cực. Tuy nhiên, làm thế nào để hình thành và
rèn luyện năng lực chủ động và linh hoạt trong việc làm bài văn? Làm
thế nào để có phương pháp dạy học phù hợp và phát huy được tác dụng
tích cực của nó, là những vấn đề mà người thầy giáo cần quan tâm và
cần có một quá trình để thực hiện.
- Tìm hiểu những bài viết bàn về việc hướng dẫn cách làm đề mở
nói chung, đề NLXH theo hướng mở nói riêng, chúng tôi nhận thấy, các
tác giả chỉ mới đề cập đến các bước như: tìm ý, lập dàn ý,… (Đỗ Ngọc
Thống - TLĐD). Ngay cả cuộc thi Ra đề và viết văn theo hướng mở của
Tạp chí Văn học và Tuổi trẻ tổ chức từ 1/4/2011 cho đến nay cũng chỉ
mới dừng lại ở việc giáo viên ra đề và gợi ý cách làm bài.
Là người trực tiếp đứng lớp, chúng tôi nhận thấy, để làm tốt bài văn
NLXH theo hướng mở, HS cần có một quá trình rèn luyện. Bắt đầu từ
(Làm văn 12 – Sách chỉnh lí hợp nhất năm 2000)
Rõ ràng, những đề văn vừa nêu trên đều yêu cầu học sinh viết về
một vấn đề cụ thể (tính ích kỉ giết chết tình bạn; uống nước nhớ
nguồn,…), cùng sử dụng một hoặc hai thao tác lập luận (bình luận; giải
thích;…) và dĩ nhiên là cùng một phương thức biểu đạt – văn nghị luận.
Mặt khác, vấn đề nghị luận thường là một chân lí đã được thừa nhận
(tác hại của tính ích kỉ; đạo lí truyền thống của dân tộc,…), học sinh
thường không cần phản biện, chỉ việc làm rõ hay minh họa tính đúng đắn
tư tưởng ấy.
Về phía giáo viên, khi ra đề nghị luận cũng chỉ có một đáp án duy
nhất dùng để chấm bài cho học sinh. Có thể, cách ra đề văn NLXH truyền
thống sẽ tiện lợi cho người giáo viên và phần nào “dễ” hơn cho học sinh.
Tuy nhiên, đúng như nhận xét của giáo sư Hoàng Như Mai viết: Cách ra
đề các kì thi văn của chúng ta hiện nay còn khá khô cứng... Ra đề thi
phải khơi dậy những suy nghĩ riêng đồng thời phải rèn luyện cho HS óc
phê phán, nhìn vấn đề trên nhiều mặt. Cần tránh kiểu ra đề suôn sẻ, dạng
thỏa hiệp một chiều (Sự rung cảm và sáng tạo của học sinh có nguy cơ
mòn; Tạp chí Dạy và Học ngày nay số 6 – 2005).
2.1.2. Quan niệm về đề mở
Năm 2006, Chương trình và sách giáo khoa mới đã có nhiều đổi mới
trong cách kiểm tra, đánh giá học sinh, trong đó có sự đổi mới quan niệm
về đề văn. Nhằm kích thích suy nghĩ phong phú, đa dạng của nhiều đối
tượng học sinh, xu hướng ra đề văn nghị luận xã hội theo hướng mở ngày
càng trở nên phổ biến.
Theo chúng tôi, khái niệm đề mở được sử dụng trong sự so sánh với
đề đóng hay đề truyền thống.
- Đề đóng là đề có yêu cầu rõ ràng, cụ thể về nội dung vấn đề nghị
- Đề: Chọn một trong ba tài liệu dưới đây làm bài theo yêu cầu bên
dưới:
a. Báo Dương Thành buổi tối (Quảng Châu) tường thuật, khoảng
17g30 ngày 13-10-2010, tại một con đường nhỏ ở Quảng Phật Ngũ Kim
Thành thuộc quận Nam Hải ở Phật Sơn, bé gái Duyệt Duyệt 2 tuổi đang
lững thững đi ra đường đã bị một xe hơi loại bảy chỗ tông phải và cán
lên phần gần đầu của bé. Lúc này bé Duyệt Duyệt còn cử động, tài xế
cho xe dừng lại vài giây rồi thản nhiên cho xe chạy tiếp và bánh sau lại
nghiến nát một phần thân thể bé gái. Chỉ vài phút sau, một chiếc xe tải
nhỏ tiếp tục cán nát đôi chân bé gái này.
b. Cậu bé 14 tuổi xả thân cứu người. Đây là lần thứ 3 Nguyên cứu
người, lại là lần định mệnh cướp đi sinh mạng của em. Cả xã Bình
Chánh, huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi, những ngày qua xôn xao về sự
ra đi của cậu học trò Trường THCS Bình Chánh. Trưa 8-9, sau khi tập
tành múa lân đón tết Trung thu, nhóm trẻ khoảng 10 đứa rủ nhau đi tắm
ao để giải nhiệt. Em Phạm Văn Thơ, học sinh lớp 6, không biết bơi lại lội
ra xa cách bờ khoảng 3m thì sụp hố sâu đuối nước. “Trong khi em vùng
vẫy thì được anh Nguyên cứu vào bờ”, cậu bé kể rồi khóc: “không ngờ
ảnh kiệt sức...”.
Người lớn đã cấp tốc đưa Nguyên đến Bệnh viện đa khoa Quảng
Ngãi để cấp cứu, song em kiệt sức lịm dần, rơi vào hôn mê sâu và không
bao giờ tỉnh lại nữa...
c. “Hiệp sĩ đường phố” lập công ba ngày liên tiếp. Đây là vụ thứ ba
liên tiếp trong ba ngày “hiệp sĩ đường phố” lập công. Hai ngày trứơc,
anh Tiến cũng đã bắt hai tên cướp giật dây chuyền trên đường Tô Hiến
Thành. Sau đó, đôi trộm giàn giáo công trình ở quận 11 cũng bị anh bắt
quả tang.
Ngưỡng mộ thành tích hàng trăm lần bắt cuớp của anh Tiến, nhiều
tâm hồn đẹp đẽ được xây dựng trên cơ sở khinh bỉ những điều không
xứng đáng”.
Theo anh (chị), đối với một con người có đạo đức và tâm hồn đẹp
đẽ, những điều gì là không xứng đáng ?
2.2. Nghị luận xã hội dạng đề mở: tác dụng và yêu cầu
2.2.1. Tác dụng
Việc ra đề mở trong nghị luận xã hội có nhiều tác dụng đối với học
sinh:
- Đề mở khuyến khích tối đa sự sáng tạo, cách cảm thụ, sự linh hoạt
của người viết, rèn luyện khả năng độc lập suy nghĩ của học sinh trước
một vấn đề tư tưởng, đạo lí hay một hiện tượng, sự việc trong đời sống.
- Đề mở tạo cơ hội cho học sinh có dịp bộc lộ tư tưởng, tình cảm,
suy nghĩ của cá nhân, đề xuất những ý kiến về cuộc sống, xã hội với
những trải nghiệm của bản thân.
- Đề mở rèn luyện cho học sinh khả năng tư duy phản biện xã hội,
biết xem xét một vấn đề, một sự việc, hiện tượng trên nhiều bình diện
khác nhau.
- Đề mở tạo điều kiện cho người viết có những suy nghĩ trẻ trung,
cảm xúc tươi mới, và quan trọng hơn, là thể hiện phẩm chất của con
người thành thực, dám nghĩ và dám viết. Với đề mở, tình trạng học tủ,
học vẹt, sao chép văn mẫu trong học sinh cũng sẽ bị hạn chế.
Đối với giáo viên, việc ra đề mở trong nghị luận xã hội cũng có
những tác dụng trong quá trình giảng dạy bộ môn Ngữ văn nói chung,
phân môn Làm văn nói riêng:
- Đề mở có tác dụng giúp phân hóa trình độ học sinh trong kiểm tra,
đánh giá.
- Từ những tác dụng đối với học sinh khi làm văn, đề mở trong nghị
2.2.2.2. Về phía giáo viên:
- Đề ra theo hướng mở cần chọn được vấn đề mở, đặt người viết
trước một tình huống bất ngờ, đa chiều, gợi được hứng thú làm bài cho
học sinh. Vấn đề đặt ra vừa có chất văn, khơi gợi được cảm xúc, vừa gắn
với cuộc sống, thường là những vấn đề xã hội và các em đang quan tâm,
tránh xa lạ, nặng về học thuật, mà cũng không gượng ép.
Đề ra theo hướng mở còn là cách giúp các em trưởng thành trong
suy nghĩ, hướng các em đến lí tưởng đẹp, hoàn thiện dần tư cách của một
công dân có trách nhiệm với xã hội.
Muốn vậy, người giáo viên phải cân nhắc đến tính vừa sức ở học
sinh. Có những vấn đề nghị luận chỉ phù hợp với học sinh lớp 12 mà lại
quá sức với học sinh lớp 10, càng khó khăn cho học sinh ở bậc trung học
cơ sở.
- Để học sinh có thể làm tốt dạng đề mở, giáo viên phải huấn luyện
cho các em kĩ năng làm văn nghị luận, nhất là các kĩ năng: phân tích đề;
lập ý, lập dàn ý; thao tác lập luận,… Nói rốt ráo, học sinh không có kĩ
năng làm văn nghị luận thì đề đóng đã không thể thực hiện được, huống
gì đề mở.
- Tương ứng với việc ra đề mở, người giáo viên phải có đáp án mở
và cách chấm mở.
Đáp án mở là đáp án không cụ thể, chi tiết, không mang tính áp đặt,
không đếm ý cho điểm, nhưng cũng không chung chung để dẫn đến việc
cho điểm tùy hứng, thiếu công bằng. Đáp án mở vẫn có những yêu cầu
nhất định về kiến thức, kĩ năng và tư tưởng tình cảm của người viết.
Người ra đề và soạn đáp án cần phải lường trước khả năng học sinh có
thể viết để lên phương án cho điểm.
Cách chấm mở là cách chấm tôn trọng suy nghĩ và sự sáng tạo của
người viết, không áp đặt cách giải quyết vấn đề theo lối một chiều.
3.1.2.1. Cách thức tiến hành hoạt động dạy học giúp học sinh
tích lũy kiến thức và vốn sống:
HĐ 1: GV cho bài tập về nhà.
HĐ 2: GV đưa ra yêu cầu:
- Quy định ngày, giờ nộp sản phẩm;
- Quy định hình thức sản phẩm: gửi đến địa chỉ mail của giáo viên
(đây là cách GV tập hợp sản phẩm của HS);
- Quy định hình thức trình bày (bản word, font chữ...),…
HĐ 3: Giáo viên tập hợp sản phẩm.
HĐ 4: Giáo viên xóa tên học sinh, cho in thành nhiều bản, phát cho
các học sinh trong lớp.
HĐ 5:Học sinh đọc và bình chọn sản phẩm hay nhất (không chọn
của mình).
HĐ 6: Giáo viên thống kê, cho điểm và nhận xét, đánh giá.
3.1.2.2. Ưu điểm của hoạt động dạy học giúp học sinh tích lũy
kiến thức và vốn sống
Yêu cầu học sinh tích lũy kiến thức và vốn sống không phải là hoạt
động dạy học mới của giáo viên. Khi dạy văn nghị luận, chúng ta vẫn
thường nhắc nhở các em dẫn chứng phải cụ thể, xác thực, lí lẽ phải sắc
sảo. Song, chúng ta chỉ dừng lại ở việc gợi ý nên làm, mà chưa tạo thành
một yêu cầu, một thói quen cho học sinh. Chính vì thế, bài văn các em
thường nghèo nàn về ý, dẫn chứng sáo mòn với những câu danh ngôn
quen thuộc, những tấm gương chưa đọc đã biết. Và như thế, làm sao có
được những bài văn suy nghĩ sâu sắc và giàu cảm xúc?
Hoạt động dạy học trên có ưu điểm:
- HS tự giác sưu tầm tư liệu, chọn tư liệu hay và bổ ích.
- Trong quá trình tìm hiểu và chọn tư liệu, một cách tự nhiên học
sinh đã đọc nhiều tư liệu khác, làm giàu vốn sống của bản thân, thấm
tôi sẽ uổng phí thời gian ngắn ngủi để sống trong vỏ bọc an toàn. Không dám
làm gì, chẳng có được gì, và chẳng là gì cả.
- Chính lựa chọn của chúng ta, chứ không phải khả năng, mới chứng tỏ
chúng ta thực sự là ai (It's our choices that show what we truly are, far more
than our abilities)
( .K.Rowling, trích Harry Potter và Phòng chứa Bí mật)
THANH THẢO:
Hồi nhỏ xem phim Gọi giấc mơ về, tôi nhớ hoài một câu của người ông
làm nghề nước mắm nói với cô cháu gái: Cá loại một thì sẽ làm ra được nước
mắm loại một, nhưng nước mắm loại một không phải tất cả đều làm từ cá loại
một. Cá hay người thì cũng vậy thôi. Cái quan trọng không phải tôi có gì, mà là
tôi sẽ làm gì với những điều tôi có. Có ít hơn so với người khác, nhưng biết
vận dụng, vẫn có thể thành không. Có tất cả, mà dùng sai mục đích thì cũng là
vô ích. Vả lại, có bao giờ ta đánh giá được hết khả năng của chính mình mà
dựa vào đó để ngại ngần?
- Hạnh phúc là một hành trình, không phải một điểm đến (Happiness is a
journey, not a destination)
(Paulo Coelho, trích Nhà giả kim)
- Bạn có thể thất vọng nếu thất bại, nhưng sẽ sụp đổ đến tận cùng nếu từ
bỏ mọi ước mơ.
(Miguel de Unamuno)
HOÀNG THỊ MAI DUNG:
Ước mơ nuôi dư ng tâm hồn con người. Từ bỏ ước mơ cũng đồng nghĩa
rằng ta đã đánh mất sức sống tâm hồn, đánh mất điểm tựa của niềm tin. Thất
bại chưa phải là chấm hết, nếu như còn biết ước mơ thì ước mơ ta ấp ủ sẽ là
TRÀ GIANG:
Câu danh ngôn này em thích ở mặt tư tưởng bởi thể hiện rõ lí do của sự
sống của con người trong cõi đời. Nó khiến cho em phải nhìn nhận lại chính
mình, nhìn lại một phần đời mà mình đã đi qua. Và từ đây, em có thể xác định
rõ hơn mục tiêu, mục đích sống của bản thân, nhắc nhở em phải sống thế nào
cho ý nghĩa.
- Sự tranh biện và cãi lẽ, có thể làm cho người khác ngượng được, nhưng
thắng như vậy thì có ích gì đâu, vì không khi nào làm cho người ta thành thật
đồng ý với mình hết.
(Franklin)
NGUYỄN THỊ NGỌC ÁNH:
Đa phần con người vì cái tôi và sĩ diện sẽ cố chấp không nhận sai về
mình khi bị người khác chỉ trích và đả kích mạnh mẽ, cho dù bản thân nhận
thấy mình không đúng. Vì thế, khi em không hài lòng, em không muốn cố cãi
lại hay chống đối, như trong Kinh Thánh đã ghi: “Câu trả lời nhã nhặn của bạn
đã làm tiêu tan hết mọi giận dữ”. Thay vì làm hả hê bản thân khi chiến thắng
trên sự nhục nhã của người khác, hãy suy nghĩ thấu đáo, khiêm tốn, nhẹ nhàng
giúp họ nhận sai.
- Bạn sẽ tìm thấy niềm vui khi giúp đỡ người khác bằng tất cả tấm lòng.
(Paul Newman)
NGUYỄN THỊ NGỌC ÁNH:
Em hoàn toàn có thể cảm nhận được câu nói này mỗi khi thật lòng giúp
đ người khác. Niềm vui không đơn thuần ta nhận được nhiều yêu thương mà
còn từ việc ta biết sẻ chia nó. Khi thật sự trải lòng, em không còn quan tâm vật
chất nữa, không quan tâm mình mất gì, mà chỉ có thể cảm nhận được niềm vui
khi làm cho người khác hạnh phúc. Em không đòi hỏi nhận được nơi họ nụ
khoa học (Thomas Edison, Marie Curie), doanh nhân (Đặng Lê Nguyên
Vũ, Steve Jobs), những vượt lên số phận nghiệt ngã của mình (Satoshi
Fukushima, Hellen Keller, Bethany Hamilton, Bạch Quang Thái),… Đặc
biệt, có đến 5 tấm gương là người Việt Nam (Bác Hồ, Nguyễn Thị
Phương, Bạch Quang Thái, Nguyễn Thị Khánh Huyền, Đặng Lê Nguyên
Vũ). Qua cách giới thiệu của các em, tấm gương nào được lựa chọn cũng
đều có những nét đặc biệt, thực sự xứng đáng là “tấm gương”.
Một số tấm gương được học sinh lựa chọn:
- TRẦN THỊ BẢO YẾN:
Trong cuộc đời mỗi con người, hai chữ “thần tượng” có vẻ là một khái
niệm rất rộng. Chúng ta thần tượng cha mẹ – những con người mẫu mực đáng
để noi theo, chúng ta thần tượng một nhóm nhạc Hàn Quốc, vì họ hát hay,
nhảy đẹp… Không quan trọng là bạn yêu thích hay ngư ng mộ ai, điều căn bản
ở đây là qua những con người ấy, bạn học được điều gì – trở thành một con
người như thế nào? Có lẽ không phải ngẫu nhiên mà nước ta lại phát động
“Sống, chiến đấu, lao động và học tập theo gương Bác Hồ vĩ đại”. Bác đúng là
một tấm gương sáng để mọi người học tập, chẳng những qua các hoạt động
chính trị lớn lao mà ngay trong những việc nhỏ nhặt nhất, Bác luôn khéo léo
biến mọi việc dù phức tạp cũng trở nên giản đơn vô cùng. Đó là một đức tính
mà tôi luôn rèn luyện, học hỏi từ Bác.
Năm 1929, khi các tổ chức cộng sản được thành lập, đất nước ta chưa kịp
reo ca vì tìm được chính Đảng lãnh đạo thì mọi người lại một lần nữa hoang
mang vì các tổ chức này hoạt động riêng rẽ, đều cho rằng chủ trương của mình
là đúng đắn, không ai chịu ai. Trước tình hình đó, đầu năm 1930, Bác Hồ đang
từ Xiêm phải trở về nước để chủ trì hội nghị họp nhất các tổ chức cộng sản
thành một đảng duy nhất. Cuộc họp diễn ra sôi nổi, những người đại diện các
tổ chức cộng sản đều đưa ra những lí lẽ thuyết phục người khác, duy chỉ có
Bác là vẫn ngồi yên. Đến khi gần kết thúc buổi họp, Bác đột ngột đứng dậy.
nhất, bình thường nhất, để làm nên những cái vĩ-đại-nhất.
- NGUYỄN LÊ HỒNG NHUNG:
Chúng ta – thế hệ trẻ ngày nay nhiều lúc vẫn thầm trách ông trời bất
công, trách sao cuộc đời quá bất hạnh, trách mình không được như người này
người kia để rồi ủ dột, buồn chán và cả ganh tị, ghen ghét. Nhưng bạn có biết
không? Sinh ra là một con người toàn vẹn có đầy đủ các giác quan thì bạn quả
thực đã rất may mắn rồi. Bạn nhất định phải cảm ơn ông trời vì điều đó. Có lẽ
bốn tiếng “ông trời bất công” chỉ có thể để Hellen Keller – nhà văn, nhà hoạt
động xã hội người Mĩ nói lên mà thôi. Bởi người phụ nữ đáng thương ấy chỉ
được nhìn thấy ánh sáng mặt trời, lắng nghe âm vang cuộc sống, bập bẹ tiếng
“mẹ, cha” trong mười chín tháng đầu đời. Mười chín tháng sau căn bệnh quái
ác – viêm màng não đã làm hỏng mất đôi mắt và sau đó tai cũng bị điếc.
Không thể nhìn, không thể nghe thế nên không thể nói là điều tất nhiên. Con
người ta bị một trong ba khiếm khuyết ấy cũng đã đau đớn lắm rồi thế mà bà
phải gánh chịu tất cả. Những tưởng như thế là kết thúc một cuộc đời như nụ
hoa chưa nở đã tàn. Nhưng không, Hellen vẫn tiếp tục sống, chống chọi với số
phận. Qua lời khuyên của bác sĩ, bà được gia đình đưa tới học tại trường
Perkins dành cho người mù. Tại đây, Keller đã được gặp một cô gia sư vừa
mới tốt nghiệp tên là Anne Sullivan và từ đây bắt đầu một tình bạn kéo dài suốt
49 năm trời. Anne Sullivan là người đã dạy Hellen tập nói. Những năm tháng
đầu rất khó khăn song nhờ sự nỗ lực của cả cô trò, Keller đã có thể nói ra điều
mình mong muốn cũng như bày tỏ suy nghĩ, quan điểm bản thân. Khi 8 tuổi,
Keller đã bộc lộ rõ tài năng vượt trội về các môn toán, địa lí, sinh học, tập đọc;
bà còn học cả bơi, chèo thuyền, cư i ngựa, đi xe. Sau đó, Keller vào học
trường nữ học tiểu bang Massachusetts. Cô giáo Anne luôn luôn ở bên cạnh
Keller để viết lại nội dung bài giảng vào lòng bàn tay Keller. Năm 1900, Keller
thi đậu vào trường cao đẳng Radcliffe College, học tài liệu chữ nổi dành cho
người mù. Bà kiên trì học tới mức khi nào đầu ngón tay rớm máu mới chịu
dừng. Hai năm sau khi tốt nghiệp, Keller được vinh dự được bầu vào chức chủ
tịch hội người mù tiểu bang Massachusetts, bắt tay vào công việc xã hội phục
sinh thần kì. Công ty Apple trở thành công ty nổi tiếng toàn thế giới. Ông từng
nói rằng: "Tôi cho rằng khi bạn làm một điều gì đó tốt thì bạn nên cố gắng tạo
ra những điều tốt hơn nữa. Đừng chìm đắm trong những thành công quá lâu mà
phải tạo ra những thành công mới”. Steve obs trở thành thần tượng của mọi
thanh niên đang mang ước mơ làm giàu. Bản thân em khi biết về con người
ông cũng thật sự ngư ng mộ, khâm phục. Một con người mang đầy khát vọng
và có đủ ý chí, lòng đam mê để biến giấc mơ thành sự thật. Ở ông, em học hỏi
được về niềm say mê công việc, sự lao động hết mình và sự kiên trì đến không
ngờ.
Cơ hội không lựa chọn một ai, chính bản thân con người tạo ra cơ hội.
Muốn đạt được điều mình muốn, phải nỗ lực hết mình dẫu trải qua khó khăn,
nhưng khi đã thành công cũng không nên tự kiêu, thỏa mãn. Steve obs là một
tấm gương về khả năng kì diệu của con người, ông mãi mãi được nhớ đến.
3.2. Hoạt động hướng dẫn học sinh có thói quen suy
nghĩ về những vấn đề tư tưởng, đạo lí và đời sống:
3.2.1. Ý nghĩa của thói quen suy nghĩ về những vấn đề tư
tưởng, đạo lí và đời sống
- Nghị luận là một trong những kiểu văn bản quan trọng trong đời
sống xã hội của con người, có vai trò rèn luyện tư duy, năng lực biểu đạt
những quan niệm, tư tưởng sâu sắc trước đời sống. Có thể nói, không có
văn nghị luận thì khó mà hình thành các tư tưởng mạch lạc và sâu sắc
trong đời sống. Có năng lực nghị luận là một điều kiện cơ bản để con
người thành đạt trong cuộc sống xã hội.
- Văn nghị luận thực chất là văn bản thuyết lí, văn bản nói lí lẽ nhằm
phát biểu các nhận định, tư tưởng, suy nghĩ, quan điểm, thái độ trước một
vấn đề đặt ra. Do đó, muốn làm văn nghị luận tốt, người viết phải có khái
niệm, có quan điểm, chủ kiến rõ ràng, biết sử dụng khái niệm, biết tư duy
Giáo viên đặt ra những tình huống:
- Quá khứ, hiện tại và tương lai. Theo em, “thì” nào quan trọng
nhất?
- Người ta thường quan tâm đến hạnh phúc. Vậy với em, thế nào là
bất hạnh?
Đây là những câu hỏi đơn giản nhưng thực tế cho thấy, nhiều em,
cũng tỏ ra lúng túng, chưa xác định chính kiến của mình chỉ vì chưa có
quen suy nghĩ thấu đáo về một vấn đề. Hoạt động dạy học trên rèn luyện
cho học sinh năng lực tư duy, phản xạ nhạy bén khi đứng trước một tình
huống buộc phải bày tỏ quan điểm cá nhân.
Biết tìm được những câu hỏi có vấn đề, kích thích được suy nghĩ
của học sinh, tạo cơ hội cho người học trình bày hiểu biết, chính là mục
đích của hoạt động dạy học này. Thường xuyên tiến hành bài tập ngắn
như trên, chắc chắn học sinh chúng ta sẽ trưởng thành trong suy nghĩ,
chín chắn trong hành động. Mặt khác ý tưởng của các bạn khác sẽ gợi lên
trong các em bao điều mới mẻ và thú vị.
3.2.2.3. Minh họa một bài tập giáo viên đã tiến hành
- Giáo viên đặt câu hỏi: Khi nào em cảm thấy hạnh phúc nhất?
- Học sinh có 5 phút suy nghĩ và trả lời ngắn gọn trên giấy.
- Giáo viên mời học sinh trình bày.
- Sau mỗi ý kiến của học sinh, giáo viên cần chia sẻ, có thể đồng
tình, phản bác hoặc uốn nắn suy nghĩ của các em. Gọi là chia sẻ vì với
bài tập này, giáo viên cần tuyệt đối tôn trọng ý kiến học sinh. Có như vậy
các em mới mạnh dạn bày tỏ suy nghĩ của mình.
- Giáo viên đưa ra một quan niệm về hạnh phúc:
HẠNH PHÚC
Trần Thanh (từ Internet)
Hạnh phúc có là mong manh nhất?
đọc một truyện ngắn hay
xem một bộ phim hay
nghe một bản nhạc hay
xem một cái clip hay
… để biết ta vẫn có đủ thời gian làm mấy trò nhàm chán
Hạnh phúc là khi ta
nhận được tin nhắn từ ai đó và biết rằng một giây phút
nào đó
có
người
nghĩ đến
ta
nhận được cuộc gọi từ ai đó đế biết rằng có ai đó muốn
n
g
h
e
g
i
ọ
n
g
t
a
nhận được vài dòng offline để biết ai đó cần ta
nhận được một cái email đế biết ai đó muốn chia sẻ với
t
a