SKKN rèn kĩ năng làm bài tập đọc hiểu cho học sinh lớp 11 - Pdf 42

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO NAM ĐỊNH
TRƯỜNG THPT MỸ LỘC
---------------

BÁO CÁO SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
DỰ THI CẤP TỈNH
ĐỀ TÀI:

RÈN KĨ NĂNG LÀM BÀI TẬP
ĐỌC HIỂU CHO HỌC SINH LỚP 11

Tác giả: Mai Thị Thu Hà
Trình độ chuyên môn: Đại học
Chức vụ: Giáo viên
Đơn vị công tác: Trường THPT Mỹ Lộc – Nam Định

Nam Định, tháng 1 năm 2016


Trường THPT Mỹ Lộc

THÔNG TIN CHUNG VỀ SÁNG KIẾN
1. Tên sáng kiến: RÈN KĨ NĂNG LÀM BÀI TẬP ĐỌC HIỂU CHO HỌC SINH
LỚP 11.
2. Lĩnh vực áp dụng sáng kiến: Môn Ngữ văn
3. Thời gian áp dụng sáng kiến: Từ năm học 2014 – 2015, học kì I năm học 2015 2016 và những năm học tới.
4. Tác giả:
- Họ và tên: Mai Thị Thu Hà
- Ngày, tháng, năm sinh: 03 – 03 - 1978
- Nơi thường trú: Liêm Thôn, Mỹ Thịnh, Mỹ Lộc, Nam Định
- Trình độ chuyên môn: Đại học

của xã hội; vừa phải quan tâm đến nhu cầu, sở thích của cá nhân người học.
Trước đây chương trình Ngữ văn đã nêu ba mục tiêu cơ bản của việc dạy học
ngữ văn: Một là cung cấp cho HS những kiến thức phổ thông, cơ bản, hiện đại, có tính
hệ thống về ngôn ngữ (trọng tâm là tiếng Việt) và văn học (trong tâm là văn học Việt
Nam), phù hợp với trình độ phát triển của lưa tuổi và yêu cầu đào tạo nguồn nhân lực
trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”. Hai là hình thành và phát triển
năng lực sử dụng tiếng Việt, tiếp nhận văn học, cảm thụ thẩm mĩ… Ba là bồi dưỡng
tinh thần, tinh cảm như tình yêu tiếng Việt, yêu thiên nhiên, gia đình, lòng tự hào dân
tộc…
Từ sau khi đổi mới, mục tiêu dạy học môn Ngữ văn, đã điều chỉnh theo hướng:
Đề cao mục tiêu hình thành và phát triển năng lực ngữ văn, mà trước hết là năng giao
tiếp với việc sử dụng thành thạo bốn kỹ năng cơ bản: đọc, viết, nghe, nói… Thông qua
mục tiêu trực tiếp này tiếp tục hình thành các kỹ năng, năng lực khác; đồng thời giáo
dục tư tưởng, tình cảm, giáo dục nhân cách cao đẹp cho học sinh.
2.Cơ sở thực tiễn
Thực tế, chương trình Ngữ văn THPT đã được xây dựng trên nguyên tắc tích hợp
cả 3 phân môn: Đọc văn, Tiếng Việt và Làm văn. Trong phân môn Đọc văn, chúng ta
sử dụng khái niệm đọc hiểu và coi đó như một phương pháp dạy học tích cực hướng
tới chủ thể trung tâm là người đọc; nhất là khi yêu cầu đổi mới hiện nay chú trọng đặc
biệt đến kĩ năng đọc hiểu văn bản của học sinh, thể hiện qua các đề bài kiểm tra đánh
giá, các bài thi trong những năm gần đây.

Sáng kiến kinh nghiệm

2

Mai Thị Thu Hà


Trường THPT Mỹ Lộc

chứ không muốn tự mình khám phá phát hiện vẻ đẹp của những áng văn chương; thậm
chí họ không ngại thừa nhận: “Đọc thì thấy ‘rằng hay thì thật là hay’ nhưng mà chẳng
biết hay vì cái chi?”
Sáng kiến kinh nghiệm

3

Mai Thị Thu Hà


Trường THPT Mỹ Lộc

Xuất phát từ thực trạng đó, tôi thấy việc hướng dẫn cho học sinh thực sự có kĩ
năng và thuần thục kĩ năng đọc hiểu văn bản là vô cùng cần thiết để các em có thể dễ
dàng thực hiện tốt các bài tập đọc hiểu; cũng như tự tin, chủ động tiếp cận cận các văn
bản trong và ngoài chương trình học. Vì thế ngay từ khi Bộ Giáo dục & Đào tạo có
chủ chương đưa câu hỏi đọc hiểu vào đề kiểm tra, đề thi tôi đã hình thành đề tài “rèn
kĩ năng làm bài tập đọc hiểu cho học sinh lớp 11.”
PHẦN II. MÔ TẢ GIẢI PHÁP
A. MÔ TẢ GIẢI PHÁP TRƯỚC KHI TẠO RA SÁNG KIẾN
Cùng với chương trình đổi mới chương trình, sách giáo khoa, Bộ Giáo dục &
Đào tạo đã quan tâm đến đổi mới phương pháp dạy học và đổi mới kiểm tra đánh giá.
Điều này đã được cả người dạy và người học hào hứng hưởng ứng, và thực tế đã giúp
cho giờ học ngữ văn bớt căng thẳng, nặng nề bởi nó phát huy được vai trò tích cực chủ
động của học sinh.
Song đó chỉ là trong giờ học với sự giúp đỡ của giáo viên qua một hệ thống những câu
hỏi định hướng, gợi mở có tầng bậc. Còn thực tế khi gặp những đề kiểm tra dưới dạng câu
hỏi đọc hiểu thì học sinh thường lúng túng không tự giải quyết được vấn đề: làm không đúng,
không xác định được nội dung trả lời cho đúng trọng tâm, viết dài nên mất điểm. Bằng thực tế
giảng dạy tôi thấy có một số nguyên nhân cơ bản sau:

làm sai hoặc thiếu; không biết sắp xếp các ý dẫn đến trình bày lộn xộn, không được
điểm tối đa.
- Khi gặp dạng câu hỏi mở trả lời dài học sinh không biết cách trả lời nên
thường trả lời cảm tính, dẫn đến mất điểm.
Với câu hỏi mở học sinh thường không xác định được đâu là câu hỏi mở trả lời
ngắn, đâu là câu hỏi mở trả lời dài nên làm bài một cách chủ quan, sơ sài, không biết
câu nào cần làm kĩ, câu nào trả lời đủ ý là có điểm…
Tóm lại, xét cả nguyên nhân chủ quan và khách quan tôi thấy việc rèn luyện
nâng cao kĩ năng làm bài tập đọc hiểu cho học sinh là vô cùng cần thiết. Trên cơ sở đó
tôi đã chọn đề tài “rèn kĩ năng làm bài tập đọc hiểu cho học sinh lớp 11.”
B. MÔ TẢ GIẢI PHÁP SAU KHI CÓ SÁNG KIẾN
I. HƯỚNG DẪN HỌC SINH HỆ THỐNG HÓA CÁC KIẾN THỨC CƠ
BẢN ĐỂ LÀM BÀI TẬP ĐỌC HIỂU:
Kiến thức kiểm tra trong phần đọc hiểu rất đa dạng, phong phú, đòi hỏi các em
phải nắm vững kiến thức thuộc cả ba phân môn Tiếng Việt, đọc văn và làm văn. Trên
cơ sở những kiến thức học sinh đã được trang bị, tôi đã giúp các em hệ thống những
kiến thức cơ bản như sau:
1. PHẦN TIẾNG VIỆT.
1.1. Các kiến thức về từ:
a. Từ xét về cấu tạo: Nắm được đặc điểm các từ: từ đơn, từ ghép, từ phức, từ láy.
* Từ đơn: là từ được cấu tạo bởi một tiếng có nghĩa tạo thành.
Có 2 loại từ đơn: từ đơn một âm tiết và từ đơn đa âm tiết.
Tác dụng: dùng định danh sự vật, hiện tượng hoặc dùng để nêu đặc điểm tính chất
trạng thái của sự vật; dùng để tạo từ ghép, từ láy làm cho vốn từ thêm phong phú
Sáng kiến kinh nghiệm

5

Mai Thị Thu Hà


VD: Cớm, chõm, dân hai ngón, …
c. Từ xét về nghĩa
* Khái niệm:
- Nghĩa của từ là nội dung (sự vật, tính chất, hoạt động, quan hệ..) mà từ biểu thị.

Sáng kiến kinh nghiệm

6

Mai Thị Thu Hà


Trường THPT Mỹ Lộc

- Một từ có thể có thể có nhiều nghĩa. Từ nhiều nghĩa là từ mang sắc thái ý nghĩa khác
nhau do hiện tượng chuyển nghĩa từ.
* Phân loại từ tiếng Việt
- Xét về từ loại:
+ Danh từ: là những từ chỉ người, vật; thường dùng làm chủ ngữ trong câu.
- Động từ: là những từ dùng chỉ trạng thái, hành động của sự vật; thường dùng làm vị
ngữ trong câu.
+ Tính từ: là những từ chỉ đặc điểm, tính chất của sự vật, hành động trạng thái; có thể
làm chủ ngữ hoặc vị ngữ trong câu.
+ Đại từ: là những từ dùng để trỏ người, sự vật, hoạt động tính chất được nói đến trong
một ngữ cảnh nhất định của lời nói hoặc dùng để hỏi.
+ Lượng từ: là những từ chỉ lượng ít hay nhiều của sự vật.
+ Chỉ từ: là những từ dùng để trỏ vào sự vật, nhằm xác định vị trí của sự vật trong
không gian hoặc thời gian.
+ Quan hệ từ: là những từ dùng để biểu thị các ý nghĩa quan hệ như sở hữu, so sánh,
nhân quả... giữa các bộ phận của câu hay giữa các câu với câu trong đoạn văn.

+ Phần phụ tình thái: dùng để thể hiện cách nhìn của người nói đối với sự việc được
nói đến trong câu
+ Phần phụ cảm thán: được dùng để bộc lộ tâm lí của người nói (vui, buồn, mừng,
giận...).
+ Thành phần phụ chú:được dùng để bổ sung một số chi tiết cho nội dung chính của
câu. Thành phần phụ chú thường được đặt giữa hai dấu gạch ngang, hai dấu phẩy, hai
dấu ngoặc đơn hoặc giữa một dấu gạch ngang với một dấu phẩy. Nhiều khi thành phần
phụ chú còn được đặt sau dấu hai chấm.
+ Thành phần gọi đáp: được dùng để tọa lập hoặc duy trì mối quan hệ giao tiếp.
+ Khởi ngữ: là thành phần câu đứng trước chủ ngữ để nêu lên đề tài được nói đến
trong câu.
b. Các thành phần nghĩa của câu:
* Nghĩa sự việc:
- Câu biểu thị hành động.
- Câu biểu thị tư thế.
- Câu biểu thị sự tồn tại.
- Câu biểu thị trạng thái, tính chất, đặc điểm.
- Câu biểu thị quá trình.
- Câu biểu thị quan hệ.
* Nghĩa tình thái.
- Tình cảm thái độ, sự đánh giá của người nói với sự việc được nói đến trong câu.
- Tình cảm thái độ của người nói với người nghe.
c. Phân loại câu
* Câu phân loại theo cấu tạo ngữ pháp: Câu đặc biệt, câu đơn, câu phức, câu ghép.
- Câu đặc biệt: là câu không xác định được thành phần chủ ngữ - vị ngữ của câu.
VD: Mưa. Nắng. Gió. Sương.
- Câu đơn: là câu được cấu tạo bởi một cụm chủ ngữ vị ngữ.
Sáng kiến kinh nghiệm

8

a. Các biện pháp tu từ từ vựng
a.1.So sánh: là đối chiếu sự vật, sự việc này với sự vật, sự việc khác để tìm ra sự
giống nhau và khác nhau giữa chúng.
* Tác dụng của so sánh: So sánh nhằm tăng sức gợi hình, gợi cảm cho sự diễn đạt.
- So sánh tạo ra những hình ảnh cụ thể sinh động. Phần lớn các phép so sánh đều lấy
cái cụ thể so sánh với cái không cụ thể hoặc kém cụ thể hơn, giúp mọi người hình
dung được sự vật, sự việc cần nói tới và cần miêu tả.
- So sánh giúp cho câu văn hàm súc gợi trí tưởng tượng của ta bay bổng.
- Mục đích của so sánh nhiều khi không phải là tìm sự giống nhau hay khác nhau mà
nhằm diễn tả một cách hình ảnh một bộ phận hay đặc điểm nào đó của sự vật giúp
người nghe, người đọc có cảm giác hiểu biết sự vật một cách cụ thể sinh động.
Sáng kiến kinh nghiệm

9

Mai Thị Thu Hà


Trường THPT Mỹ Lộc

Trong cách nói hằng ngày người Việt Nam thường dùng so sánh ví von : Đẹp
như tiên giáng trần, hôi như cú, vui như tết, xấu như ma … Khiến lời nói vừa có hình
ảnh vừa thấm thía.
Còn trong văn bản nghệ thuật, so sánh được dùng như một biện pháp tu từ với
thế mạnh đặc biệt khi gợi hình, gợi cảm. Đôi khi có những so sánh rất bất ngờ, thú vị,
góp phần cụ thể hóa được những gì hết sức trừu tượng, khó cân đo, đong đếm. * Các
kiểu so sánh: Dựa vào mục đích và các từ so sánh người ta chia phép so sánh thành hai
kiểu:
- So sánh ngang bằng (còn gọi là so sánh tương đồng): thường được thể hiện bởi các từ
như là, như, y như, tựa như, giống như hoặc cặp đại từ bao nhiêu…bấy nhiêu.


Mai Thị Thu Hà


Trường THPT Mỹ Lộc

* Phân loại:
- Ẩn dụ hình thức: đó là sự chuyển đổi tên gọi những sự vật, hiện tượng có điểm nào
đó tương đồng với nhau về hình thức (là cách gọi sự vật A bằng sự vật B).
- Ẩn dụ cách thức: đó là sự chuyển đổi tên gọi về cách thức thực hiện hành động khi
giữa chúng có những nét tương đồng nào đó với nhau (là cách gọi hiện tượng A bằng
hiện tượng B).
- Ẩn dụ phẩm chất: đó là sự chuyển đổi tên gọi những sự vật, hiện tượng có nét tương
đồng với nhau ở một vài điểm nào đó về tính chất, phẩm chất (là cách lấy phẩm chất
của sự vật A để chỉ phẩm chất của sự vật B).
- Ẩn dụ chuyển đổi cảm giác: đó là sự chuyển đổi tên gọi những sự vật, hiện tượng có
nét tương đồng với nhau ở một vài điểm nào đó về cảm giác ẩn dụ này thường dùng
kết hợp các từ ngữ chỉ cảm giác loại này với cảm giác loại khác (là những ẩn dụ trong
đó B là một cảm giác vốn thuộc một loại giác quan dùng để chỉ những cảm giác A vốn
thuộc các loại giác quan khác hoặc cảm xúc nội tâm. Nói gọn là lấy cảm giác A để chỉ
cảm giác B).
a.4. Hoán dụ: là gọi tên sự vật, sự việc, hiện tượng, khái niệm này bằng tên sự vật, sự
việc, hiện tượng, khái niệm khác vì giữa chúng có quan hệ gần gũi, đi đôi với nhau
trong thực tế.
* Tác dụng: dùng hoán dụ làm tăng sức gợi hình, gợi cảm cho sự diễn đạt.
* Phân loại: Có 4 kiểu hoán dụ thường gặp:
- Lấy một bộ phận để gọi toàn thể;
- Lấy vật chứa đựng để chỉ vật bị chứa đựng.
- Lấy dấu hiệu của sự vật để gọi sự vật.
- Lấy cái cụ thể để gọi cái trừu tượng.

Sông Mã gầm lên khúc độc hành (Quang Dũng)
a.7. Liệt kê: là cách sắp xếp nối tiếp hàng loạt từ hay cụm từ cùng loại trong một câu
hoặc một đoạn.
* Tác dụng: nhằm diễn tả cụ thể, toàn điện hơn, sâu sắc hơn những khía cạnh khác
nhau của thực tế, tư tưởng tình cảm.
VD: Của ong bướm này đây tuần tháng mật
Này đây hoa cuả đồng nội xanh rì
Này đây lá của cành tơ phơ phất
Của yến anh này đây khúc tình si
Và này đây ánh sáng chớp hàng mi...

(Xuân Diệu)

* Phân loại: Dựa vào hình thức cấu tạo và đặc điểm ý nghĩa, có thể chia phép liệt kê
thành những loại:
- Theo cấu tạo: liệt kê từng cặp và liệt kê không từng cặp.
- Theo ý nghĩa: liệt kê tăng tiến và liệt kê không tăng tiến.
a.8. Điệp ngữ: là biện pháp lặp đi lặp lại nhiều lần một từ, một ngữ hoặc cả câu một
cách có nghệ thuật.
* Tác dụng: dùng điệp ngữ vừa nhấn mạnh nhằm làm nổi bật ý; vừa tạo âm hưởng
nhịp điệu cho câu văn, câu thơ, đoạn văn, đoạn thơ (tha thiết, nhịp nhàng, hoặc hào
hùng mạnh mẽ); vừa gợi cảm xúc mạnh trong lòng người đọc.
Sáng kiến kinh nghiệm

12

Mai Thị Thu Hà


Trường THPT Mỹ Lộc

“Cùng trông lại mà cùng chẳng thấy
Thấy xanh xanh những mấy ngàn dâu
Ngàn dâu xanh ngắt một màu
Lòng chàng ý thiếp ai sầu hơn ai”.

(Chinh phụ ngâm)

a. 9. Chơi chữ: là biện pháp tu từ vận dụng linh hoạt các đặc điểm về ngữ âm, chữ
viết, từ vựng, ngữ pháp của tiếng Việt để tạo ra những cách hiểu bất ngờ, thú vị.
* Tác dụng: Biện pháp này thường được dùng nhằm tạo sắc thái dí dỏm hài hước làm
cho sự diễn đạt trở nên hấp dẫn và thú vị (thường được dùng để châm biếm, đả kích
hoặc để đùa vui)
VD:

+ Mênh mông muôn mẫu màu mưa
Mỏi mắt miên man mãi mịt mờ

Sáng kiến kinh nghiệm

13

Mai Thị Thu Hà


Trường THPT Mỹ Lộc

+ Con công đi chùa làng kênh
Nó nghe tiếng cồng nó kềnh cổ lại.

( Ca dao )

Trắng xoá tràng giang phẳng lặng tờ.

( Hồ Xuân Hương )

+ Ðảo bổ ngữ: Cho cuộc đời, cho Tổ quốc thương yêu
Ta đã làm gì ? Và được bao nhiêu ?
b.3. Sóng đôi cú pháp: là dựa vào biện pháp lặp cú pháp nhưng có sự sóng đôi thành
từng cặp với nhau, có thể sóng đôi câu hay sóng đôi bộ phận câu.

Sáng kiến kinh nghiệm

14

Mai Thị Thu Hà


Trường THPT Mỹ Lộc

- Tác dụng: Sự đối lập giữa hai câu có kết cấu bình thường và những câu có kết cấu
sóng đôi trong một văn bản đã tạo nên những sắc thái biểu cảm đặc sắc; bổ sung và
phát triển cho ý hoàn chỉnh; tạo sự cân đối hài hòa.
Ví dụ: Chúng ta thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định
không chịu làm nô lệ. (Hồ Chủ Tịch)
b.4. Phém chêm xen: là biện pháp chêm vào câu một cụm từ không trực tiếp có quan
hệ đến quan hệ ngữ pháp trong câu, nhưng có tác dụng rõ rệt để bổ sung thông tin cần
thiết hay bộc lộ cảm xúc.
b.5. Im lặng (…): Tạo điểm nhấn, gợi sự lắng đọng cảm xúc.
b.6. Câu hỏi tu từ: Bộc lộ thái độ, cảm xúc.
b.7. Đối: Tạo sự cân đối



* Khái niệm, vi sử dụng: Là phong cách ngôn ngữ được dùng trong giao tiếp sinh hoạt
hàng ngày để thông tin, trao đổi ý nghĩ, tình cảm….đáp ứng những nhu cầu trong cuộc
sống; thuộc hoàn cảnh giao tiếp không mang tính nghi thức.
* Cách nhận biết:
- Dạng tồn tại:
+ Dạng nói: lời chuyện trò, trao đổi.
+ Dạng viết: nhật kí, thư từ cá nhân … (chú ý dạng lời nói mô phỏng trong các văn
bản tự sự).
- Từ ngữ mang tính khẩu ngữ, tự nhiên bình dị ít trau truốt, suồng sã thoải mái, có thể
dùng từ địa phương, từ ngữ chêm xen đưa đẩy sinh động.
- Đặc trưng: Tính cụ thể; tính cảm xúc; tính cá thể.
b. Phong cách ngôn ngữ nghệ thuật
* Khái niệm, vi sử dụng: Là phong cách ngôn ngữ dùng trong các văn bản thuộc lĩnh
vực văn chương nghệ thuật.
* Cách nhận biết:
- Dạng tồn tại: văn bản tự sự; văn bản trữ tình; văn bản kịch.
- Đặc trưng: Tính hình tượng; tính truyền cảm; tính cá thể hóa.
c. Phong cách ngôn ngữ báo chí
* Khái niệm, phạm vi sử dụng: Là phong cách ngôn ngữ dùng các văn bản thuộc lĩnh
vực truyền thông đại chúng, như văn bản dùng trong báo in, đài phát thanh, đài truyền
hình, báo điện tử… để thông báo tin tức thời sự trong nước và quốc tế, phản ánh chính
kiến của tờ báo và dư luận quần chúng, nhằm thúc đẩy sự tiến bộ xã hội.
* Cách nhận biết:
- Dạng tồn tại:
+ Văn bản phản ánh tin tức: Bản tin.
+ Văn bản phản ánh công luận: xã luận, phóng sự, tiểu phẩm.
+ Văn bản thông tin quảng cáo.
- Đặc trưng: Tính thông tin thời sự; tính ngắn gọn; tính sinh động, hấp dẫn.
+ Bản tin: Cung cấp tin tức cho người đọc theo 1 khuôn mẫu: Nguồn tin - Thời

người nghe để có nhận thức và hành động đúng.
2. LÀM VĂN
2.1. Các phương thức biểu đạt.
Nhìn chung trong giao tiếp con người ít khi sử dụng một phương thức biểu đạt
thuần túy mà thường sử dụng nhiều phương thức biểu đạt một lúc. Dù có vận dụng bao
nhiêu phương thức biểu đạt trong một văn bản thì trong đó vẫn phải có một phương
thức chủ đạo.
a. Phương thức tự sự: Tự sự là kể lại, thuật lại sự việc, hay 1 chuỗi các sự việc có
quan hệ nhân quả dẫn đến kết quả - Trình bày theo diễn biến sự vật, sự việc.
* Cách nhận biết:
- Dạng tồn tại: Văn bản tự sự: tác phẩm truyện, tiểu thuyết; bản tin báo chí; bản tường
thuật, bản tường trình…

Sáng kiến kinh nghiệm

17

Mai Thị Thu Hà


Trường THPT Mỹ Lộc

- Đặc trưng của văn bản tự sự: Có cốt truyện; có nhân vật tự sự, sự việc; có tư tưởng,
chủ đề; có ngôi kể thích hợp.
b. Phương thức miêu tả: Tái hiện các tính chất, thuộc tính sự vật, hiện tượng, giúp
con người cảm nhận và hiểu được chúng.
* Cách nhận biết:
- Từ ngữ, câu văn giàu sức gợi giúp người đọc, người nghe có thể thấy sự vật, hiện
tượng, con người như đang hiện ra trước mắt qua ngôn ngữ miêu tả.
- Dạng văn bản: Các bài văn tả cảnh, tả người, vật; đoạn văn miêu tả trong tác phẩm tự sự.


Trường THPT Mỹ Lộc

+ Phương pháp liệt kê.
+ Phương pháp nêu ví dụ, dùng số liệu.
+ Phương pháp so sánh
+ Phương pháp phân loại, phân tích.
- Chú ý các hình thức kết cấu của văn bản thuyết minh.
+ Kết cấu theo trình tự thời gian
+ Kết cấu theo trình tự không gian
+ Kết cấu theo trình tự logic
+ Kết cấu theo trình tự tổng hợp - phân tích
+ Kết cấu theo trình tự chủ yếu - thứ yếu
f. Phương thức hành chính công vụ: Trình bày ý muốn, quyết định, điều động, nghị
định….
* Cách nhận biết:
- Trình bày theo mẫu chung và chịu trách nhiệm về pháp lí các ý kiến, nguyện vọng
của cá nhân, tập thể đối với cơ quan quản lí.
- Dạng văn bản tồn tại: các văn bản hành chính công vụ (thông tư, chỉ thị, nghị quyết,
…).
2.2. Các phép lập ý – diễn ý trong đoạn văn (phương thức lập luận):
a. Diễn dịch: là phương pháp trình bày ý đi từ ý khái quát suy ra ý cụ thể, từ luận
điểm suy ra các luận cứ; từ một chân lí, quy luật chung mà suy ra các hệ luận, các các
biểu hiện cụ thể.
Đoạn diễn dịch có câu chủ đề ở đầu đoạn.
b. Quy nạp: là phương pháp trình bày ý đi từ chứng cứ cụ thể mà rút ra những nhận
định tổng quát.
Đoạn quy nạp có câu chủ đề ở cuối đoạn.
c. Song hành: là cách lập luận trình bày ý bằng các câu có giá trị ngang nhau. Luận
điểm được rút ra từ việc tổng hợp các ý của luận cứ.

2.3. Các thao tác lập luận (TTLL).
a. TTLL giải thích: Là vận dụng tri thức để cắt nghĩa một sự vật, hiện tượng, khái
niệm một cách rõ ràng và giúp người khác hiểu đúng ý nghĩa của vấn đề.
- Giải thích trong văn nghị luận là làm cho người đọc hiểu rõ được tư tưởng, đạo lí,
phẩm chất, quan hệ cần được giải thích nhằm nâng cao nhận thức, trí tuệ, bồi dưỡng
tâm hồn, tình cảm.
- Cách giải thích:
+ Giải thích cơ sở: Giải thích từ ngữ, khái niệm khó, nghĩa đen, nghĩa bóng của từ
+ Trên cơ sở đó giải thích toàn bộ vấn đề, chú ý nghĩa tường minh và nghĩa hàm ẩn
b. TTLL phân tích: Là cách chia tách đối tượng thành nhiều yếu tố bộ phận để đi sâu
xem xét một cách toàn diện về nội dung, hình thức và mối liên hệ bên trong của đối
tượng.
Cách phân tích: Chia tách đối tượng thành nhiều yếu tố bộ phận theo những tiêu chí,
quan hệ nhất định.
* Mục đích: thấy được giá trị ý nghĩa của sự vật hiện tượng, mối quan hệ giữa hình
thức với bản chất, nội dung. Phân tích giúp nhận thức đầy đủ, sâu sắc cái giá trị hoặc
Sáng kiến kinh nghiệm

20

Mai Thị Thu Hà


Trường THPT Mỹ Lộc

cái phi giá trị của đối tượng. Riêng đối với tác phẩm văn học, phân tích là để khám phá
ba giá trị của văn học: nhận thức, tư tưởng và thẩm mĩ
* Yêu cầu phân tích: phải nắm vững đặc điểm cấu trúc của đối tượng để chia tách một
cách hợp lí. Sau khi phân tích tìm hiểu từng bộ phận, chi tiết phải tổng hợp khái quát
lại để nhận thức đối tượng đầy đủ, sâu sắc và trình bày ngắn gọn.


Mai Thị Thu Hà


Trường THPT Mỹ Lộc

+ Trên cơ sở của những nhận định, người viết đánh giá vấn đề:
- Yêu cầu: nhìn nhận vấn đề toàn diện, khách quan; trình bày rõ ràng, trung thực vấn
đề được bình luận, đề xuất và chứng tỏ được ý kiến nhận định, đánh giá là xác đáng.
Muốn đánh giá vấn đề một cách thuyết phục thì phải có lập trường đúng đắn và
nhất thiết phải có tiêu chí.
Trong văn NL xã hội, thì dựa vào lập trường nhân dân và tiêu chí đạo lí...
Trong văn NL văn học, thì dựa vào lập trường nhân dân, quyền con người và
tiêu chí là tính khách quan của đời sống, sự tiến bộ của văn học, đối với tác phẩm cụ
thể thi tiêu chí là giá trị nhận thức, giá trị tư tưởng, giá trị thẩm mĩ.
g. TTLL bác bỏ: là chỉ ra ý kiến sai trái của vấn đề trên cơ sở đó đưa ra nhận định
đúng đắn và bảo vệ ý kiến lập trường đúng đắn của mình.
- Cách bác bỏ: Nêu ý kiến sai trái, sau đó phân tích, bác bỏ, khẳng định ý kiến đúng
hoặc nêu từng phần ý kiến sai rồi bác bỏ theo cách cuốn chiếu từng phần. Ý nhỏ phải
nằm hoàn toàn trong phạm vi của ý lớn. Cụ thể:
+ Bác bỏ luận điểm: thông thường có hai cách bác bỏ
+) Dùng thực tế để bác bỏ: Nếu luận điểm đi ngược lại với thực tế thì ta dùng thực tế
để bác bỏ.
+) Dùng phép suy luận: Từ thực tế, ta có thể thêm suy luận để cái sai ấy bộc lộ rõ hơn.
+ Bác bỏ luận cứ: Là vạch ra tính chất sai lầm, giả tạo trong lý lẽ và dẫn chứng được
sử dụng.
+ Bác bỏ lập luận: Là vạch ra sự mâu thuẫn, không nhất quán, phi lôgíc trong lập luận
của đối phương.
Lưu ý: Trong thực tế, một vấn đề nhiều khi có mặt đúng, mặt sai. Vì vậy, khi bác bỏ
hoặc khẳng định cần cân nhắc, phân tích từng mặt để tránh tình trạng khẳng định

(Đoàn Thị Điểm - Chinh phụ ngâm)

- Là một thể thơ kết hợp giữa hai câu thơ bảy tiếng (song thất) Và hai câu lục bát thành
một khổ luân phiên kế tiếp nhau trong toàn bài; có sự gắn bó chặt chẽ với nhau về ý và
về âm thanh.
- Vần: gieo vần lưng ở mỗi cặp (thấy – mấy, màu – sầu); cặp song thất có vần trắc,
cặp lục bát có vần bằng. Giữa cặp song thất và cặp lục bát có vần liền (dâu – sầu).
- Nhịp: hai câu thất ngắt nhịp lẻ chẵn (3/4); ở cặp lục bát ngắt nhịp chẵn.
- Hài thanh: cặp song thất lấy tiếng thứ ba làm chuẩn mực, có thể có thanh bằng (câu
thất – bằng) hoặc trắc (câu thất – trắc) nhưng không bắt buộc. Còn cặp lục bát thì sự
đối xứng bằng – trắc chặt chẽ hơn (giống như ở thể lục bát).
* Hát nói: là lời thơ trong bài hát nói (bài hát nói bao gồm phần thơ và nhạc)
- Một bài hát nói gồm 2 phần: mưỡu và lời thơ.
+ Mưỡu: gồm có mưỡu đầu, mưỡu hậu.
+ Phần lời thơ trong bài hát nói thường gồm có 11 câu thơ, chia làm ba khổ theo kết
cấu: 2 khổ đầu mỗi khổ gồm 4 câu, khổ 3 gồm 3 câu; thanh điệu của các tiếng cuối
cùng của các câu lần lượt là: trắc – bằng – bằng – trắc.
- Ngoài ra có bài hát nói dôi khổ: Bài ca ngất ngưởng (Nguyễn Công Trứ), Bài ca
phong cảnh Hương Sơn (Chu Mạnh Trinh)
a.2. Các thể thơ Đường luật: Có niêm luật rất chặt chẽ.
* Thơ ngũ ngôn Đường luật
Sáng kiến kinh nghiệm

23

Mai Thị Thu Hà


Trường THPT Mỹ Lộc


* Các thể thơ tự do:
- Thơ hai tiếng
Sáng kiến kinh nghiệm

- Thơ ba tiếng
24

- Thơ bốn tiếng
Mai Thị Thu Hà



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status