Nghiên cứu nhận thức của sinh viên khoa giáo dục mầm non trường đại học sư phạm, đại học thái nguyên về chuẩn nghề nghiệp giáo viên mầm non - Pdf 42

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
KHOA GIÁO DỤC MẦM NON

ĐÀO THỊ THU
MÃ SV: DTS135D140201141

NGHIÊN CỨU NHẬN THỨC CỦA SINH VIÊN
KHOA GIÁO DỤC MẦM NON - TRƯỜNG ĐẠI HỌC
SƯ PHẠM- ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
VỀ CHUẨN NGHỀ NGHIỆP GIÁO VIÊN MẦM NON

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
NGÀNH GIÁO DỤC MẦM NON

Thái Nguyên, năm 2017

1


TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
KHOA GIÁO DỤC MẦM NON

ĐÀO THỊ THU
MÃ SV: DTS135D140201141

NGHIÊN CỨU NHẬN THỨC CỦA SINH VIÊN
KHOA GIÁO DỤC MẦM NON - TRƯỜNG ĐẠI HỌC
SƯ PHẠM- ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
VỀ CHUẨN NGHỀ NGHIỆP GIÁO VIÊN MẦM NON
Ngành: Giáo dục mầm non
Mã số:



DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
STT
1
2
3
4
5

Chữ viết tắt
GDMN
ĐH, CĐ
ĐHSP - ĐHTN
SV
GV

Chữ đầy đủ
Giáo dục mầm non
Đại học, Cao đẳng
Đại học Sư phạm - Đại học Thái Nguyên
Sinh viên
Giáo viên

4


MỞ ĐẦU
1.Lý do chọn đề tài
Hiện nay, bậc học mầm non đã có nhiều đóng góp to lớn, thực sự có trách

hành động thực tiễn. Có thể, sinh viên nhận thức được nhưng chưa chắc, nhận
thức đó sẽ trở thành thực tiễn và càng khó có thể trở thành một khuôn mẫu ứng
xử trong xã hội.
Hiện nay, việc quan tâm đến chuẩn giáo viên ngày càng được chú trọng
nhiều hơn, đặc biệt là giáo viên mầm non. Vì vậy, người học phải biết chủ
động,tích cực học hỏi, tìm hiểu về chuẩn nghề nghiệp giáo viên mầm non hơn
nữa. Đặc biệt là đối với sinh viên khoa giáo dục mầm non, nếu nhận thức đúng
về chuẩn nghề nghiệp giáo viên mầm non thì sẽ trau dồi được những kiến thức,
kỹ năng, thái độ đối với giáo dục mầm non, từ đó tự học, tự bồi dưỡng để rèn
luyện đạo đức, không ngừng nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ để đạt
hiệu quả cao hơn trong sự nghiệp giáo dục trẻ. Xuất phát từ những lí do trên, tôi
đã chọn vấn đề nghiên cứu: “Nghiên cứu nhận thức của sinh viên khoa Giáo dục
Mầm non trường Đại học sư phạm- Đại học Thái Nguyên về chuẩn nghề nghiệp
giáo viên mầm non”.
2. Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu thực trạng nhận thức của sinh viên khoa GDMN, Trường Đại
học Sư phạm – Đại học Thái Nguyên về chuẩn nghề nghiệp giáo viên mầm non;
đề xuất một số biện pháp nhằm nâng cao nhận thức cho sinh viên khoa GDMN
về chuẩn nghề nghiệp giáo viên mầm non, góp phần nâng cao chất lượng giáo
dục và đào tạo giáo viên mầm non.
3. Đối tượng và khách thể nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Nhận thức của sinh viên khoa GDMN trường ĐHSP- ĐHTN về chuẩn nghề
nghiệp giáo viên mầm non.
3.2. Khách thể nghiên cứu
Sinh viên khoa Giáo dục Mầm non trường ĐHSP- ĐHTN.

6




7.2. Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
7.1.1. Phương pháp đàm thoại
Tiếp xúc trò chuyện trực tiếp với sinh viên để tìm hiểu nhận thức, tâm tư,
nguyện vọng của sinh viên khoa GDMN về nghề nghiệp, nhận thức của họ về
chuẩn nghề nghiệp giáo viên mầm non, quyền hạn của người giáo viên Mầm
non.
7.1.2. Phương pháp điều tra bằng anket
Chúng tôi xây dựng một hệ thống các câu hỏi anhket đóng và mở nhằm
tìm hiểu thực trạng nhận thức về chuẩn nghề nghiệp giáo viên mầm non của sinh
viên khoa GDMN trường Đại học Sư phạm – Đại học Thái Nguyên.
7.1.3. Phương pháp quan sát
Là sự tri giác trực tiếp, ghi lại 1 cách có hệ thống, có kế hoạch, các biểu
hiện tâm lý, các hành vi và quan hệ xã hội mọi lúc mọi nơi, trong các hoàn cảnh
tự nhiên khác nhau.
Chúng tôi tiến hành quan sát hoạt động của sinh viên ở trường ĐHSPTN
và trường mầm non để đánh giá nhận thức của sinh viên.
7.3. Nhóm phương pháp xử lý số liệu
Chúng tôi đã sử dụng một số công thức toán học như: công thức tỉ lệ %,
công thức tính trung bình để xử lý số liệu thu được.
Trong các phương pháp trên thì phương pháp điều tra bằng anket là
phương pháp chính, các phương pháp còn lại đóng vai trò bổ trợ trong suốt quá
trình làm khóa luận.

8


Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA NHẬN THỨC CỦA SINH VIÊN KHOA GIÁO
DỤC MẦM NON TRƯỜNG ĐHSP – ĐHTN VỀ CHUẨN NGHỀ NGHIỆP

Mỹ. Cả hai đất nước đều chú trọng xây dựng từng cá thể của xã hội thành công.
Do vậy, tầm quan trọng của giáo dục mầm non được chú trọng từ sớm. Tuy
nhiên, cách thức vận hành hệ thống có nhiều điểm khác biệt.
Theo The Guardian, Bộ Giáo dục Anh tuyên bố giáo viên mầm non được
yêu cầu trình độ bằng cấp như giáo viên tiểu học từ tháng 9/2013. Động thái này
nhằm cải thiện và nâng cao chất lượng giáo dục mầm non. Nhờ quá trình cải
cách, các nhân viên ở cơ sở giáo dục mầm non cũng có thể trở thành giáo viên
hoặc nhà giáo dục mầm non
Ở xứ sở mặt trời mọc, sensei, thuật ngữ chỉ giáo viên, là danh hiệu rất cao
quý. Các bậc cha mẹ ở Nhật xem giáo viên mầm non như chuyên gia nuôi dạy
trẻ.
Mỗi quốc gia với những quan điểm, lập trường và cách lập luận riêng đã
đưa ra những ý kiến khác nhau về chuẩn nghề nghiệp giáo viên mầm non. Điều
đó giúp chúng ta có cái nhìn sâu sắc, toàn diện và đánh giá khoa học về yêu cầu
của giáo viên mầm non.
1.1.2. Ở Việt Nam
Bất cứ một nghề nào mà không có năng lực nghề nghiệp thì người hành
nghề cũng không thể hoàn thành tốt công việc của mình. Theo đó, chuẩn nghề
nghiệp là yêu cầu quan trọng đối với sự tồn tại, phát triển của nghề dạy học.
Chính vì vậy, đã có nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề này.

10


Tác giả Nguyễn Thanh Hoàn (2003) trong bài “Vài nét về mô hình người
giáo viên” tác giả đã đưa ra khái niệm người giáo viên, những đặc điểm chính để
phân biệt phẩm chất người giáo viên, đồng thời tác giả đưa ra một số đề nghị để
cải thiện công tác và hiệu quả công tác của người giáo viên.
Các tác giả Trần Kiều và Lê Đức Phúc (2001) trong bài “Cơ sở khoa học
để xác định chuẩn cho trường mầm non nông thôn trong công tác chỉ đạo” đã

- Theo Các Mác và F.Ăngghen:
Nhận thức là sự phản ánh hiện thực khách quan vào bộ óc con người. Sự
phản ánh đó không phải là hành động nhất thời, máy móc, giản đơn và thụ động
mà là quá trình phức tạp của hoạt động trí tuệ tích cực sáng tạo [2; tr 220].
- Theo K.K.Platonop:
Nhận thức là quá trình thu được những tri thức chân thực trong thế giới
khách quan, trong quá trình hoạt động thực tiễn khoa học [13; tr165].
- Dưới góc độ tâm lý học:
Nhận thức là một trong ba mặt cơ bản của đời sống tâm lý con người
(Nhận thức, tình cảm, hành động ý chí).
Trong cuộc sống hằng ngày con người phải nhận thức, thể hiện thái độ,
tình cảm và hành động của thế giới. Thông qua nhận thức con người phản ánh
hiện thực khách quan xung quanh mình và cả hiện thưc của bản thân mình, trên
cơ sở đó bày tỏ thái độ, tình cảm tương ứng và dẫn đến những hành động cụ thể.
Vì vậy, nhận thức là một trong ba mặt đời sống tâm lý của con người.
Nhận thức là một quá trình, quá trình này thường gắn với một mục đích
nhất định nên nhận thức của con người là một hoạt động. Hoạt động nhận thức
là hoạt động phản ánh những thuộc tính, những mối liên hệ của bản thân các sự
vật, hiện tượng trong thực hiện khách quan.
Đặc trưng nổi bật nhất của họat động nhận thức là phản ánh hiện thực
khách quan, quá trình này đem lại cho con người kiến thức tự nhiên, xã hội và tư
duy…
giá)
1.2.2. Các cấp độ nhận thức ( theo Benjamin S. BloomĐánh
– 1956
6

Theo B.S. Bloom thì mức độ nhận thức được
xếp
từ dễ đến khó, từ thấp đến

gì, ai, khi nào, ở đâu…
Bậc 2: Hiểu (Comprehension)
Đây là mục tiêu cao hơn bậc 1, vì đòi hỏi học sinh không những nhớ mà
còn để hiểu thấu đáo các khái niệm, định nghĩa gồm:
- Hiểu được ý nghĩa của thông tin.
- Có thể trình bày lại bằng một cách khác.
- Có thể so sánh, sắp xếp lại, gộp nhóm lại, suy luận nguyên nhân.
- Có thể dự đoán kết quả.
- Gợi ý câu hỏi kiểm tra về hiểu: tóm tắt, mô tả, dự đoán kết hợp, phân
biệt, ước lượng…
Bậc 3: Vận dụng (Application)

13


Ở mục tiêu này người học phải biết vận dụng các kiến thức để giải các bài
tập. Các bài tập giải được càng khó thì khả năng áp dụng của người học càng
cao, gồm:
- Sử dụng được thông tin.
- Dùng được phương pháp, quan niệm, lý thuyết vào trong hoàn cảnh tình
huống mới.
- Sử dụng kiến thức kỹ năng vào việc giải quyết các vấn đề đặt ra.
- Gợi ý câu hỏi: Vận dụng, chứng minh, tính toán, minh hoạ, giải quyết,
thay đổi…
Bậc 4: Phân tích (Analysis )
Ở mục này đòi hỏi người học phải biết phân loại các dạng bài tập và xây
dựng được các phương pháp giải từ cụ thể đến hướng giải chung gồm:
- Nhận biết các ý nghĩa bị che dấu.
- Phân tách vấn đề thành các cấu phần và chỉ ra mối quan hệ giữa chúng.
- Gợi ý câu hỏi kiểm tra, phân tích, phân rã, giải thích, kết nối, sắp xếp

Thầy

Nội dung

Đánh giá

Trò

Có rất nhiều quan điểm về nhận thức, tuy nhiên ở đề tài nghiên cứu khoa
học này, tôi lựa chọn quan điểm nhận thức dưới góc độ tâm lí học.
1.2.3. Các giai đoạn nhận thức
Theo quan điểm của phép tư duy biện chứng, hoạt động nhận thức của con
người đi từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng, và từ tư duy trừu tượng
đến thực tiễn. Con đường nhận thức đó được thực hiện qua các giai đoạn từ đơn
giản đến phức tạp, từ thấp đến cao, từ cụ thể đến trừu tượng, từ hình thức bên
ngoài đến bản chất bên trong, như sau:
Nhận thức cảm tính (hay còn gọi là trực quan sinh động) là giai đoạn
đầu tiên của quá trình nhận thức. Đó là giai đoạn con người sử dụng các giác
15


quan để tác động vào sự vật nhằm nắm bắt sự vật. Nhận thức cảm tính gồm các
hình thức sau:
Cảm giác: là hình thức nhận thức cảm tính phản ánh các thuộc tính riêng
lẻ của các sự vật, hiện tượng khi chúng tác động trực tiếp vào các giác quan của
con người. Cảm giác là nguồn gốc của mọi sự hiểu biết, là kết quả của sự
chuyển hoá những năng lượng kích thích từ bên ngoài thành yếu tố ý thức.
Lenin viết: "Cảm giác là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan". Nếu dừng
lại ở cảm giác thì con người mới hiểu được thuộc tính cụ thể, riêng lẻ của sự vật.
Điều đó chưa đủ; bởi vì, muốn hiểu biết bản chất của sự vật phải nắm được một

Nhận thức cảm tính và lý tính không tách bạch nhau mà luôn có mối quan
hệ chặt chẽ với nhau. Không có nhận thức cảm tính thì không có nhận thức lý
tính. Không có nhận thức lý tính thì không nhận thức được bản chất thật sự của
sự vật.
Nhận thức trở về thực tiễn, ở đây tri thức được kiểm nghiệm là đúng hay
sai. Nói cách khác, thực tiễn có vai trò kiểm nghiệm tri thức đã nhận thức được.
Do đó, thực tiễn là tiêu chuẩn của chân lý, là cơ sở động lực, mục đích của nhận
thức. Mục đích cuối cùng của nhận thức không chỉ để giải thích thế giới mà để
cải tạo thế giới. Do đó, sự nhận thức ở giai đoạn này có chức năng định hướng
thực tiễn.
Bên cạnh hai giai đoạn nhận thức trên xét dưới góc độ của hoạt động
nhận thức thì trí nhớ được coi là khâu trung gian chuyển tiếp giữa nhận thức
cảm tính và nhận thức lý tính. Vì biểu tượng của trí nhớ chính là kết quả của
sự chế biến và khái quát hoá các hình ảnh của tri giác trước đây. Nó giống
với hình ảnh của cảm giác tri giác ở tính trực quan, nhưng nó cao hơn ở tính
khái quát .
Trí nhớ là một quá trình tâm lý, phản ánh những kinh nghiệm của cá nhân
dưới hình thức biểu tượng bao gồm sự ghi lại, giữ lại nhận lại và làm hiện lại
những hình tượng của sự vật hiện tượng đã được cảm giác, tri giác, rung động,
hành động hay suy nghĩ trước đây, cũng như tất cả những kinh nghiệm trước đây
của bản thân mỗi người .
Trí nhớ có vai trò rất quan trọng trong đời sống hoạt động của con người.
I.M. Xêtrênôp đã viết: “Nếu không có trí nhớ thì con người mãi mãi ở tình
trạng của một đứa trẻ sơ sinh”. Nhờ có trí nhớ lưu giữ lại các kết quả của quá
18


trình nhận thức giúp con người thích ứng với hoàn cảnh sống luôn thay đổi,
đồng thời cung cấp nguyên liệu cho nhận thức lý tính giúp con người đi sâu
nhận thức và cải tạo thế giới. Vì theo V.I.Lênin: “tư duy được rút ra từ biểu

định. Hoạt động nhận thức của một mặt phải kế thừa một cách có hệ thống
những thành tựu đã có mặt khác lại phải tiếp cận với những thành tựu của
khoa học đương đại và có tính cập nhật, thời sự.
Chính vì vậy nét đặc trưng trong hoạt động học tập của SV là sự căng
thẳng về trí tuệ, sự phối hợp của nhiều thao tác tư duy như: phân tích, tổng hợp,
so sánh, trừu tượng hoá, khái quát hoá. Đặc biệt tính độc lập sáng tạo của các
quá trình nhận thức ở lứa tuổi này cao hơn hẳn so với các lứa tuổi trước, đồng
thời tư duy trừu tượng và tư duy lý luận phát triển.
Một trong những đặc điểm tâm lý quan trọng nhất của thanh niên - sinh
viên là sự phát triển tự ý thức. Đó là ý thức và sự đánh giá của con người về
hành động và kết quả tác động của mình, đánh giá về tư tưởng, tình cảm, phong
cách đạo đức hứng thú, về tư tưởng và động cơ của hành vi, là sự đánh giá toàn
diện về chính bản thân mình, và vị trí của mình trong cuộc sống. Tự ý thức bao
gồm cả tự quan sát, tự đánh giá, tự phân tích, tự trọng, tự kiểm tra v.v…Tự ý
thức là dấu hiệu thiết kế nhân cách được hình thức cùng với hình thành sau này.
SV là một công dân thực thụ của đất nước với đầy đủ quyền hạn và nghĩa
vụ trước pháp luật.
Hoạt động chủ đạo của SV trong các trường ĐH, CĐ là học tập và nghiên
cứu khoa học.
1.2.5. Khái niệm chuẩn,chuẩn nghề nghiệp giáo viên mầm non
- Khái niệm chuẩn: Chuẩn là căn cứ để đối chiếu, lấy kích thước đó làm
chuẩn hoặc đúng với điều đã quy định.
- Chuẩn nghề nghiệp giáo viên là một khái niệm rộng, bao gồm cả phẩm chất
chính trị, đạo đức nghề nghiệp, lối sống tác phong của nhà giáo, cùng với năng
lực chuyên môn, năng lực phát triển nghề nghiệp của người GV. Chuẩn nghề
nghiệp đã được xây dựng để hướng dẫn đánh giá năng lực GV và xác định nhu
cầu chuyên môn. Những tiêu chuẩn này kết hợp các chỉ số về kiến thức, kỹ năng
sư phạm và thái độ.
20


21


1.3.2.Vai trò chuẩn nghề nghiệp giáo viên mầm non
- Là cơ sở để xây dựng, đổi mới mục tiêu, nội dung đào tạo, bồi dưỡng giáo viên
mầm non ở các cơ sở đào tạo giáo viên mầm non.
- Giúp giáo viên mầm non tự đánh giá năng lực nghề nghiệp, trên cơ sở đó xây
dựng kế hoạch học tập, rèn luyện phấn đấu nâng cao phẩm chất đạo đức, trình
độ chính trị, chuyên môn, nghiệp vụ.
- Làm cơ sở để đánh giá giáo viên mầm non hằng năm theo Quy chế đánh giá
xếp loại giáo viên mầm non và giáo viên phổ thông công lập ban hành kèm theo
Quyết định số 06/2006/QĐ-BNV ngày 21 tháng 3 năm 2006 của Bộ trưởng Bộ
Nội vụ, phục vụ công tác quản lý, bồi dưỡng và quy hoạch đội ngũ giáo viên
mầm non.
- Làm cơ sở để đề xuất chế độ, chính sách đối với giáo viên mầm non được đánh
giá tốt về năng lực nghề nghiệp.
1.3.3. Tiêu chuẩn, tiêu chí, mức độ của Chuẩn
Tiêu chuẩn là tập hợp các yêu cầu có nội dung liên quantrong cùng phạm
vi thể hiện một mặt chủ yếu của năng lực nghề nghiệp GV mầm non. Chuẩn
nghề nghiệp GVMN gồm 3 lĩnh vực, và mỗi lĩnh vực có những yêu cầu và tiêu
chí khác nhau.
Tiêu chí của chuẩn là nội dung cụ thể thuộc mỗi yêu cầu của chuẩn thể
hiện một khía cạnh về năng lực nghê nghiệp GVMN.
Mỗi tiêu chí có 3 mức để đánh giá mức độ đạt được của GV. Mức 1 là
mức thấp nhất, phản ánh yêu cầu tối thiểu GV cần đạt được, mức 3 là yêu cầu
cao nhất về tiêu chí đó. Mỗi mức cao hơn bao gồm các yêu cầu của mức thấp
hơn liền kề cộng thêm một vài yêu cầu mới đối với mức đó. Việc phân biệt các
mức cao thấp dựa vào số lượng và chất lượng các hoạt động GV thực hiện.
1.4. Nội dung Chuẩn nghề nghiệp giáo viên mầm non
Bộ Giáo dục và Đào tạo vừa ra Quyết định ban hành Quy định về chuẩn nghề

chính trị, chuyên môn, nghiệp vụ, khoẻ mạnh và thường xuyên rèn luyện sức
khoẻ; Không có biểu hiện tiêu cực trong cuộc sống, trong chăm sóc, giáo dục
trẻ; Không vi phạm các quy định về các hành vi nhà giáo không được làm.
23


5. Trung thực trong công tác, đoàn kết trong quan hệ với đồng nghiệp; tận tình
phục vụ nhân dân và trẻ. Bao gồm các tiêu chí sau: Trung thực trong báo cáo kết
quả chăm sóc, giáo dục trẻ và trong quá trình thực hiện nhiệm vụ được phân
công; Đoàn kết với mọi thành viên trong trường; có tinh thần hợp tác với đồng
nghiệp trong các hoạt động chuyên môn nghiệp vụ; Có thái độ đúng mực và đáp
ứng nguyện vọng chính đáng của cha mẹ trẻ em; Chăm sóc, giáo dục trẻ bằng
tình thương yêu, sự công bằng và trách nhiệm của một nhà giáo.
1.4.2. Các yêu cầu thuộc lĩnh vực kiến thức
1. Kiến thức cơ bản về giáo dục mầm non. Bao gồm các tiêu chí sau: Hiểu
biết cơ bản về đặc điểm tâm lý, sinh lý trẻ lứa tuổi mầm non; Có kiến thức về
giáo dục mầm non bao gồm giáo dục hoà nhập trẻ tàn tật, khuyết tật; Hiểu biết
mục tiêu, nội dung chương trình giáo dục mầm non; Có kiến thức về đánh giá sự
phát triển của trẻ.
2. Kiến thức về chăm sóc sức khoẻ trẻ lứa tuổi mầm non. Bao gồm các tiêu chí
sau: Hiểu biết về an toàn, phòng tránh và xử lý ban đầu các tai nạn thường gặp ở
trẻ; Có kiến thức về vệ sinh cá nhân, vệ sinh môi trường và giáo dục kỹ năng tự
phục vụ cho trẻ; Hiểu biết về dinh dưỡng, an toàn thực phẩm và giáo dục dinh
dưỡng cho trẻ; Có kiến thức về một số bệnh thường gặp ở trẻ, cách phòng bệnh
và xử lý ban đầu.
3. Kiến thức cơ sở chuyên ngành. Bao gồm các tiêu chí sau: Kiến thức về phát
triển thể chất; Kiến thức về hoạt động vui chơi; Kiến thức về tạo hình, âm nhạc
và văn học; Có kiến thức môi trường tự nhiên, môi trường xã hội và phát triển
ngôn ngữ.
4. Kiến thức về phương pháp giáo dục trẻ lứa tuổi mầm non. Bao gồm các tiêu

quan sát, đánh giá trẻ và có phương pháp chăm sóc, giáo dục trẻ phù hợp.
4. Kỹ năng quản lý lớp học. Bao gồm các tiêu chí sau: Đảm bảo an toàn cho
trẻ; Xây dựng và thực hiện kế hoạch quản lý nhóm, lớp gắn với kế hoạch hoạt
động chăm sóc, giáo dục trẻ; Quản lý và sử dụng có hiệu quả hồ sơ, sổ sách cá
nhân, nhóm, lớp; Sắp xếp, bảo quản đồ dùng, đồ chơi, sản phẩm của trẻ phù hợp
với mục đích chăm sóc, giáo dục.
5. Kỹ năng giao tiếp, ứng xử với trẻ, đồng nghiệp, phụ huynh và cộng đồng.
25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status