Header Page 1 of 126.
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH
PHẠM THỊ NGA
MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUẢN LÝ NHÀ
NƯỚC VỀ KHAI THÁC KHOÁNG SẢN Ở TỈNH THÁI NGUYÊN
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Thái Nguyên - 2012
Số hóa bởi trung tâm học liệu
Footer Page 1 of 126.
http://www.lrc.tnu.edu.vn/
Header Page 2 of 126.
1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Thái Nguyên là tỉnh có tiềm năng khoáng sản với trữ lượng lớn. Hiện
có trên 250 mỏ và điểm quặng (trong đó có 176 mỏ, điểm quặng đã được
công bố trong sổ mỏ và trên 74 mỏ, điểm quặng mới phát hiện, đang được
khảo sát, thăm dò đánh giá chất lượng, trữ lượng), gồm 24 loại khoáng sản
rắn, thuộc 05 nhóm: Nhiên liệu khoáng, khoáng sản kim loại, khoáng chất
tra, kiểm tra công tác công tác quản lý nhà nước về tài nguyên khoáng sản ở
các đơn vị cấp huyện, xã để xảy ra tình trạng khai thác khoáng sản trái phép.
Một thực tế không thể phủ nhận rằng, không dễ dàng kết hợp hài hoà
giữa phát triển kinh tế - xã hội với bảo vệ môi trường, khai thác và sử dụng
một cách hiệu quả tài nguyên thiên nhiên, nhất là đối với nước ta, khi mà nền
kinh tế về cơ bản vẫn phải dựa vào nguồn tài nguyên thiên nhiên. Việc khai
thác và sử dụng có hiệu quả nguồn tài nguyên khoáng sản, nhất là đối với các
nguồn tài nguyên khoáng sản không tái tạo là một nhân tố quan trọng góp
phần đắc lực vào sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa của cả nước nói
chung và tỉnh Thái Nguyên nói riêng. Xác định được tầm quan trọng của tài
nguyên khoáng sản, vấn đề quản lý và khai thác khoáng sản là một trong
những vấn đề quan trọng, cấp bách hiện nay, nếu quản lý và khai thác một cách có
hiệu quả sẽ góp phần vào mục tiêu chung là xây dựng và phát triển đất nước.
Xuất phát từ thực tế khách quan đó, tôi lựa chọn đề tài: “Một số giải
pháp nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về khai thác khoáng sản ở tỉnh
Thái Nguyên".
2. Mục tiêu nghiên cứu
2.1. Mục tiêu chung
Đề tài thực hiện nhằm góp phần nâng cao hiệu quả quản lý và khai thác
khoáng sản trên địa bản tỉnh Thái Nguyên.
2.2. Mục tiêu cụ thể
- Hệ thống cơ sở lý luận về tài nguyên khoáng sản, quản lý hoạt động
khoáng sản và hiệu quả hoạt động khoáng sản. Trên cơ sở tham khảo thực tiễn
hoạt động quản lý khoáng sản của các nước trên thế giới để đúc rút bài học
kinh nghiệm quản lý hoạt động khoáng sản cho tỉnh Thái Nguyên.
- Tìm hiểu đặc điểm tự nhiên, điều kiện kinh tế - xã hội và đánh giá
thực trạng quản lý nhà nước về khai thác khoáng sản ở tỉnh Thái Nguyên.
Số hóa bởi trung tâm học liệu
nước về khai thác khoáng sản ở tỉnh Thái Nguyên.
Số hóa bởi trung tâm học liệu
Footer Page 4 of 126.
http://www.lrc.tnu.edu.vn/
Header Page 5 of 126.
4
Chƣơng 1
TỔNG QUAN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ KHAI THÁC KHOÁNG SẢN
1.1. Quản lý nhà nƣớc về khai thác khoáng sản
1.1.1. Khái niệm về tài nguyên khoáng sản
a. Tài nguyên
Theo nghĩa rộng tài nguyên gồm tất cả các nguồn vật liệu, năng lượng,
thông tin có trên Trái đất và trong vũ trụ mà con người có thể sử dụng phục
vụ cuộc sống và sự phát triển của nhân loại.
Tài nguyên thiên nhiên là nguồn của cải vật chất nguyên khai, được
hình thành, tồn tại trong tự nhiên và tất cả những gì thuộc về thiên nhiên mà
con người có thể khai thác, sử dụng thoả mãn nhu cầu tồn tại và phát triển của
mình.
Tài nguyên thường được phân thành tài nguyên thiên nhiên gắn liên với
các nhân tố thiên nhiên và tài nguyên con người gắn liên với nhân tố con
người và xã hội. Tài nguyên là tất cả các dạng vật chất hữu dụng phục vụ cho
sự tồn tại và phát triển cuộc sống con người và thế giới động vật. Tài nguyên
thiên nhiên là một phần của các thành phần môi trường như rừng cây, đất đai,
lượng lòng đất biểu hiện ở các nguồn địa nhiệt, lửa và năng lượng phóng xạ.
Tài nguyên đất là một hỗn hợp phức tạp bao gồm các hợp chất vô cơ,
các mảnh vụn hữu cơ đã và đang bị phân ra, nước, không khí và vô số các vi
sinh vật đang sinh sống trong đó. Đồng thời, đất còn là môi trường sống của
con người và hầu hết sinh vật trên cạn, là nền móng cho toàn bộ các công
trình xây dựng phục vụ hoạt động kinh tế và xã hội.
Tài nguyên nước là nguồn tài nguyên vô cùng quan trọng cho tất cả các
sinh vật trên trái đất. Nước là nguồn cung cấp thực phẩm và nguyên liệu công
nghiệp. Nước rất cần cho sản xuất nông nghiệp, công nghiệp, cho sinh hoạt
của con người. Nước còn được coi là một khoáng sản đặc biệt vì nó tàng trữ
một nguồn năng lượng lớn và lại hòa tan nhiều vật chất có thể khai thác phục
vụ cho nhu cầu nhiều mặt của con người.
Tài nguyên rừng là một hệ sinh thái phong phú nhất có trên mặt đất. Ở
đó, các loài thực vật đóng vai trò như một nhà máy khổng lồ cung cấp các
chất hữu cơ, cung cấp oxy và điều hòa khí hậu. Rừng cò là một guồng máy tự
điều chỉnh lưu lượng nước rất hiệu quả trên trái đất. Như vậy, rừng có ý nghĩa
trong sự phát triển kinh tế xã hội, sinh thái và môi trường.
Số hóa bởi trung tâm học liệu
Footer Page 6 of 126.
http://www.lrc.tnu.edu.vn/
Header Page 7 of 126.
6
Tài nguyên biển là một tài nguyên vô tận mà trời phú cho con người.
http://www.lrc.tnu.edu.vn/
Header Page 8 of 126.
7
Khoáng vật, khoáng chất ở bãi thải của mỏ mà sau này có thể khai thác
lại cũng là khoáng sản. Tài nguyên khoáng sản thường tập trung trong một
khu vực gọi là mỏ khoáng sản.
Khoáng sản có ý nghĩa rất lớn và quan trọng trong quá trình phát triển
kinh tế xã hội của mỗi quốc gia, mỗi địa phương và mỗi vùng. Khoáng sản là
nguồn vật chất để tạo nên các dạng vật chất có ích và của cải cho con người.
Khoáng sản được phân loại theo nhiều cách khác nhau:
Theo nguồn gốc có khoáng sản nội sinh (sinh ra trong lòng đất) và
khoáng sản ngoại sinh (sinh ra trên bề mặt trái đất).
Theo dạng tồn tại thì có khoáng sản rắn, khoáng sản lỏng và khoáng sản khí.
Theo thành phần hóa học có khoáng sản kim loại, khoáng sản phi kim
và khoáng sản cháy.
Trong hoạt động khoáng sản có hai hoạt động chính là thăm dò khoáng
sản và hoạt động khai thác khoáng sản.
Thăm dò khoáng sản là hoạt động nhằm xác định trữ lượng, chất lượng
khoáng sản và các thông tin khác phục vụ khai thác khoáng sản.
Khai thác khoáng sản là hoạt động nhằm thu hồi khoáng sản bao gồm:
xây dựng cơ bản mỏ, khai đào, phân loại, làm giàu và các hoạt động khác có
liên quan.
Khai thác tận thu khoáng sản là hoạt động khai thác khoáng sản còn lại
ở bãi thải của mỏ đã có quyết định đóng cửa.
c. Đặc điểm về tài nguyên khoáng sản Việt Nam
Hiện nay, các nhà địa chất đã phát hiện trên đất nước ta có gần 5.000
Hồng tuy dự báo có tài nguyên đến vài trăm tỷ tấn nhưng độ sâu hàng ngàn
mét dưới lòng đất, điều kiện khai thác cực kỳ khó khăn và phức tạp cả về
công nghệ, an ninh xã hội và môi trường. Tiềm nang Urani và địa nhiệt không
đáng kể và chưa được thăm dò để đánh giá trữ lượng cụ thể. Thứ hai, Nước ta
có nhiều khoáng kim loại nhưng trữ lượng không nhiều. Rất nhiều khoáng sản
kim loại (vàng, bạc, đồng, thiếc, kẽm, chì...) thế giới rất cần trong khi trữ
lượng lại có hạn, chỉ khai thác mấy chục năm là cạn kiệt nên không đảm bảo
tiêu dùng trong nước phục vụ cho phát triển kinh tế. Một số ít khoáng sản như
Bauxit, đất hiếm, ilmenit có trữ lượng lớn nhưng các khoáng sản này trên thế
giới các quốc gia khác cũng có trữ lượng tương đương hoặc lớn hơn nước ta.
Trữ lượng Bauxit trên thế giới là 27 tỉ tấn với sản lượng khai thác hàng năm
khoảng 200 triệu tấn. Đất hiếm trên thế giới đạt 99 triệu tấn, nhu cầu hàng
năm chỉ khoảng 125.000 tấn. Trữ lượng Titan trên thế giới đạt hơn 2 tỷ tấn,
Số hóa bởi trung tâm học liệu
Footer Page 9 of 126.
http://www.lrc.tnu.edu.vn/
Header Page 10 of 126.
9
hàng năm thế giới tiêu thụ hơn 6 triệu tấn titan và dự báo khoảng 128 năm
nữa thế giới sẽ khai thác hết. Thứ ba, Nước ta có nhiều khoáng chất công
nghiệp và vật liệu xây dựng phục vụ tốt cho phát triển kinh tế đất nước và có
thể xuất khẩu. Tuy nhiên, nguồn tài nguyên này không có giá trị kinh tế cao.
Thứ tư, Các loại khoáng sản quý có giá trị kinh tế cao như đá quý, ruby, kim
10
kém phát triển. Ngược lại nhiều quốc gia có ít tài nguyên khoáng sản nhưng
lại trở thành nước phát triển như Nhật Bản, Anh, Pháp...
Có thể nói, tài nguyên thiên nhiên khoáng sản là yếu tố thúc đẩy sản
xuất phát triển, các nước đang phát triển thường quan tâm đến việc xuất khẩu
sản phẩm thô, đó những sản phẩm được khai thác trực tiếp từ nguồn tài
nguyên thiên nhiên của đất nước, chưa qua chế biến hoặc ở dạng sơ chế.
Nguồn tài nguyên thiên nhiên cũng là cơ sở để phát triển các ngành sản xuất
nông nghiệp, công nghiệp, công nghiệp chế biến, công nghiệp năng lượng,
công nghiệp vật liệu xây dựng...
Tài nguyên thiên nhiên là cơ sở tạo tích lũy vốn và phát triển ổn định.
Đối với hầu hết các nước, việc tích lũy vốn đòi hỏi một quá trình lâu dài, gian
khổ liên quan chặt chẽ với tiêu dùng trong nước và thu hút vốn đầu tư từ nước
ngoài. Tuy nhiên, có nhiều quốc gia, nhờ những ưu đãi về tài nguyên thiên
nhiên nên có thể rút ngắn quá trình tích lũy vốn bằng cách khai thác các sản
phẩm thô để bán hoặc để đa dạng nền kinh tế tạo nguồn tích lũy vốn ban đầu
cho sự nghiệp công nghiệp hóa đất nước. Như trên chúng ta thấy, nguồn tài
nguyên thiên nhiên là cơ sở để phát triển các ngành công nghiệp khai thác,
công nghiệp chế biến và cung cấp nguyên liệu cho nhiều ngành kinh tế khác,
góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong nước. Sự giàu có về tài nguyên,
đặc biệt về năng lược giúp cho một quốc gia ít lệ thuộc hơn vào các quốc gia
khác và có thể tăng trưởng một cách ổn định, độc lập khi thị trường tài
nguyên thế giới rơi vào tình thái bất ổn [20].
1.1.3. Quản lý Nhà nước về khai thác khoáng sản [8], [14]
1.1.3.1. Sự hình thành và phát triển của luật khoáng sản
Hiến pháp đầu tiên của Nhà nước dân chủ nhân dân được Quốc hội
nước Việt Nam dân chủ cộng hòa thông qua ngày 9/11/1946, đây là đạo luật
cơ bản của Nhà nước, đạo luật gốc làm cơ sở cho việc ban hành các đạo luật
vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của nước ta. Luật khoáng sản được
ban hành như một đạo luật độc lập để điều chỉnh các mối quan hệ liên quan
đến tài nguyên khoáng sản và hoạt động khoáng sản.
Trải qua 17 năm với 02 lần ban hành, 01 lần sửa đổi một số điều trong
luật khoáng sản đã thể hiện tính phức tạp trong công tác quản lý nhà nước,
thực tiễn của việc ban hành và thi hành các quy định pháp luật đối với tài
nguyên khoáng sản là tài sản quan trọng của quốc gia.
1.1.3.2. Hiện trạng thi hành luật trong hoạt động khai thác khoáng sản
a. Công tác quản lý nhà nước đối với hoạt động khai thác khoáng sản
Số hóa bởi trung tâm học liệu
Footer Page 12 of 126.
http://www.lrc.tnu.edu.vn/
Header Page 13 of 126.
12
Luật khoáng sản khẳng định: “Tài nguyên khoáng sản trong phạm vi
đất liền, hải đảo, nội thủy, lãnh hải, vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền
kinh tế và thềm lục địa của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đều
thuộc sở hữu toàn dân, do Nhà nước thống nhất quản lý”.
Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về khoáng sản. Chính phủ phân
công các Bộ, ngành ở Trung ương và giao nhiệm vụ cho Ủy ban nhân dân các
tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thực hiện các nhiệm vụ cụ thể về quản
lý nhà nước về khoáng sản và hoạt động khoáng sản.
Việc ban hành các văn bản để hướng dẫn thi hành Luật khoáng sản đã
hiệu lực) cho các doanh nghiệp khai thác các loại khoáng sản. Việc phân cấp
rõ ràng trong luật khoáng sản đã tạo ra cơ chế minh bạch và hạn chế trồng
chéo trong cấp phép khai thác khoáng sản. Bước đầu đem lại hiệu quả trong
hoạt động quản lý, phục vụ cho mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của cả
nước nói chung và từng địa phương nói riêng.
b. Quản lý hoạt động khai thác khoáng sản
Các tổ chức, cá nhân tham gia khai thác khoáng sản gồm doanh nghiệp
nhà nước, doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ
phần, hợp tác xã. Các tổ chức này có quy định chức năng khai thác khoáng
sản trong quyết định cho phép thành lập hoặc có trong đăng ký ngành nghề
khai thác khoáng sản theo quy định.
Theo thống kê, hiện nay có gần 2.000 tổ chức (doanh nghiệp) đang hoạt
động khai thác khoáng sản trên phạm vi cả nước. Số lượng các doanh nghiệp
tham gia hoạt động khai thác khoáng sản làm việc liệu xây dựng chiếm đa số
(khoảng 80%). Các doanh nghiệp khai thác khoáng sản than đá, apatit, đồng,
chì, kẽm, titan, đá vôi xi măng, đá hoa trắng có quy mô đầu tư lớn, công nghệ
khai thác tiên tiến. Còn lại các doanh nghiệp khai thác khoáng sản khác, đặc
biệt là khai thác khoáng sản vật liệu xây dựng thông thường đều có quy mô
vừa và nhỏ, công nghệ khai thác lạc hâu, thậm chí khai thác khoáng sản bằng
phương pháp thủ công hoặc bán cơ giới.
Do đặc thù của các loại hình doanh nghiệp tham gia hoạt động khai
thác khá đa dạng và phong phú nên việc chấp hành luật khoáng sản cũng
không đồng nhất. Từ thực tế cho thấy, tồn tại chủ yếu của các doanh nghiệp
khai thác khoáng sản:
- Không có dự án đầu tư hoặc dự án đầu tư được lập sơ sài, chưa đúng
quy định. Các thông tin chính về khoáng sản, công nghệ, thị trường và thông tin
khác có liên quan sử dụng để lập dự án đầu tư chưa đầy đủ, thiếu chính xác.
Số hóa bởi trung tâm học liệu
c. Tình trạng khai thác khoáng sản trái phép
Tình trạng khai thác khoáng sản trái phép tồn tại ở nhiều địa phương.
Loại khoáng sản bị khai thác chủ yếu là vàng sa khoáng, thiếc, vonfram, titan
sa khoáng, mangan, sắt, than đá, cát sông suối. Vàng sa khoáng và cát sông
suối là các đối tượng bị khai thác trái phép nhiều trên địa bàn các địa phương
trong cả nước. Hoạt động khai thác trái phép vàng và cát sông suối rất khó
Số hóa bởi trung tâm học liệu
Footer Page 15 of 126.
http://www.lrc.tnu.edu.vn/
Header Page 16 of 126.
15
kiểm soát, nguyên nhân là do công tác quản lý yếu kém của chính quyền địa
phương (cấp xã, huyện), khoáng sản dễ khai thác bằng phương pháp thủ công
và bán cơ giới, quy định trách nhiệm quản lý chưa rõ ràng và đồng bộ, thiếu
kinh phí cho công tác bảo vệ tài nguyên khoáng sản.
1.1.3.3. Những quy định mới của Luật khoáng sản đối với hoạt động khai thác
khoáng sản
Thứ nhất, chuyển đổi từ cơ chế “xin – cho” sang cơ chế đấu giá quyền
khai thác khoáng sản. Đây là chính sách nhằm đảm bảo tính công bằng, bình
đẳng cho các nhà đầu tư, tạo điều kiện thuận lợi để lựa chọn được nhà đầu tư
có năng lực. Việc cấp quyền khai thác khoáng sản phải thực hiện trên cơ sở
kết quả đấu giá quyền khai thác khoáng sản nhằm bảo đảm tính công khai,
minh bạch, tăng thu cho ngân sách nhà nước. Việc cấp quyền khai thác
hệ thống từ cơ quan quản lý Nhà nước đến người dân tham gia hoạt động
khoáng sản xác định mục tiêu: bảo vệ tài nguyên khoáng sản, khai thác và
sử dụng hợp lý, tiết kiệm tài nguyên khoáng sản và xây dựng ngành công
nghiệp khai khoáng phát triển bền vững.
1.2. Kinh nghiệm quản lý Nhà nƣớc về khai thác khoáng sản của một số
nƣớc trên thế giới và Việt Nam
1.2.1. Kinh nghiệm quản lý Nhà nước về khai thác khoáng sản của một số
nước trên thế giới [3], [5]
a. Kinh nghiệm Philippines: Khi thế giới đang đứng trước thách thức cạn kiệt
tài nguyên và xu thế cạnh tranh toàn cầu về tài nguyên khoáng sản, nhiều
quốc gia chậm phát triển hoặc đang phát triển nhưng có lợi thế về tài nguyên
đang trở thành đối tượng để các quốc gia và các tập đoàn khai khoáng có tiềm
lực gây ảnh hưởng và giành quyền khai thác tài nguyên.
Đông Nam Á, khu vực giàu tài nguyên khoáng sản vào loại bậc nhất thế
giới, luôn là đích ngắm của nhiều công ty, tập đoàn khai thác lớn trên thế giới.
Trước tình hình đó, nhiều quốc gia đã bắt đầu tiến hành cùng với việc
điều chỉnh luật và các chính sách liên quan cho ngành công nghiệp khai
khoáng để bảo đảm việc duy trì nguồn tài nguyên của mình cũng như loại bỏ
dần vai trò độc tôn của các doanh nghiệp nước ngoài.
Chính phủ Philippines vừa tuyên bố sẽ nâng thuế khai thác đối với việc
khai khoáng của các công ty nước ngoài. Tương tự nhiều quốc gia trong khu
vực Đông Nam Á, Philippines là quốc gia có trữ lượng tài nguyên địa chất
vào loại nhiều nhất thế giới. Ước tính, Philippines xếp thứ 3 thế giới về trữ
lượng đồng, Quốc gia này cũng có rất nhiều mỏ vàng, niken và kẽm. Đây hiện
Số hóa bởi trung tâm học liệu
Footer Page 17 of 126.
http://www.lrc.tnu.edu.vn/
của đất nước đã gia tăng ở Indonesia kể từ khi giá hàng hóa tăng mạnh trong
thập kỷ vừa qua. Chính phủ Indonesia đã tiến hành các quy định nhằm hạn
chế xuất khẩu thiếc, đồng thời cấm xuất khẩu một số quặng kim loại chưa qua
Số hóa bởi trung tâm học liệu
Footer Page 18 of 126.
http://www.lrc.tnu.edu.vn/
Header Page 19 of 126.
18
chế biến vào năm 2014, nhằm tạo điều kiện cho ngành khai khoáng trong
nước phát triển và nâng cao giá trị gia tăng của các mặt hàng xuất khẩu.
Hướng tới các mục tiêu phát triển bền vững, nhiều nước Đông Nam Á
đang thắt chặt dòng vốn đầu tư nước ngoài vào khai thác khoáng sản nhằm
bảo vệ nguồn tài nguyên của mình.
Hành động này của Indonesia nằm nỗ lực gia tăng sự kiểm soát của
Nhà nước cũng như nâng cao lợi nhuận từ nguồn tài nguyên thiên nhiên
phong phú. Chính phủ Indonesia vừa đưa ra quyết định buộc tất cả các công
ty nước ngoài hoạt động trong lĩnh vực khai khoáng ở nước này phải bán bớt
cổ phần tại các cơ sở đã hoạt động 10 năm, với số lượng sao cho sở hữu trong
nước của Indonesia ít nhất là 51%. Trong thời gian tiếp theo, Chính phủ
Indonesia sẽ thực hiện việc giảm dần cổ phần của các doanh nghiệp nước
ngoài trong lĩnh vực khai thác khoáng sản từ 80% xuống còn 49%.
Hiện tại, chính phủ Indonesia cũng đang tiến hành đàm phán lại hợp
đồng với các công ty khai khoáng lớn của nước ngoài hiện đang hoạt động ở
25/4/2011 về định hướng chiến lược khoáng sản và công nghiệp khai khoáng
đến năm 2020, tầm nhìn đến 2030. Theo đó, mục tiêu của Nghị quyết là:
“Phấn đấu đến năm 2020 hoàn thành công tác lập bản đồ địa chất và điều tra
khoáng sản tỷ lệ 1:50.000 và các diện tích biển ven bờ sâu đến 30m nước.
Xây dựng chuyên ngành điều tra cơ bản địa chất về khoáng sản ở mức hiện
đại,…; Nâng tỷ trọng ngành công nghiệp khai khoáng trong GDP từ khoảng
10% hiện nay lên 15-20% vào năm 2020 ….; Tăng dự trữ một số khoáng sản
chiến lược vì lợi ích lâu dài của quốc gia”.
Trên cơ sở lãnh đạo, chỉ đạo đó, Quốc hội, Chính phủ, các bộ ngành,
UBND các tỉnh/thành phố trực thuộc Trung ương đã kịp thời ban hành các
văn bản để triển khai như sau:
a. Về việc ban hành Luật, Pháp lệnh, Nghị quyết của Quốc hội, Ủy ban
thường vụ Quốc hội
Quốc hội Khóa IX đã thông qua Luật Khoáng sản năm 1996, tiếp theo
năm 2005, Quốc hội khóa XI đã thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều
của Luật Khoáng sản năm 1996 và đến năm 2010 Quốc hội khóa XII đã thông
qua Luật khoáng sản (sửa đổi), sau đây gọi là Luật Khoáng sản năm 2010.
Luật Khoáng sản năm 2010 đã bổ sung 48 điều mới hoàn toàn về nội dung và
sửa đổi, bổ sung 38 điều của Luật khoáng sản năm 1996.
Luật Khoáng sản Việt Nam từ năm 1996, theo từng thời kỳ sửa đổi, bổ
sung để đáp ứng với yêu cầu của công tác quản lý khai thác khoáng sản như:
Số hóa bởi trung tâm học liệu
Footer Page 20 of 126.
http://www.lrc.tnu.edu.vn/
Header Page 21 of 126.
Số hóa bởi trung tâm học liệu
Footer Page 21 of 126.
http://www.lrc.tnu.edu.vn/
Header Page 22 of 126.
21
khai thác khoáng sản gắn với chế biến, sử dụng hợp lý khoáng sản để làm ra
sản phẩm kim loại, hợp kim hoặc các sản phẩm khác có giá trị và hiệu quả
KT-XH cao đã được chú trọng. Chính sách xuất khẩu khoáng sản trong từng
thời kỳ được điều chỉnh phù hợp với mục tiêu phát triển bền vững KT-XH,
bảo đảm quốc phòng, an ninh.
Từ khi có Luật Khoáng sản năm 1996, Luật BVMT năm 2005 đến hết
tháng 7 năm 2011, theo Báo cáo của Chính phủ, Chính phủ, các Bộ, ngành
liên quan đã ban hành một số lượng lớn các văn bản QPPL liên quan đến quản
lý, khai thác khoáng sản gắn với BVMT, về khá đẩy đủ góp phần quản lý,
khai thác khoáng sản gắn với BVMT đáp ứng yêu cầu phát triển KT - XH của
đất nước. Cụ thể:
Theo Báo cáo của Chính phủ đã có 217 văn bản QPPL về khoáng sản,
môi trường trong khai thác khoáng sản và các văn bản liên quan đến khoáng
sản (đất đai, nước, bảo vệ và phát triển rừng v.v...), gồm: 47 Nghị quyết, Nghị
định của Chính phủ; 15 Chỉ thị, Quyết định của Thủ tướng Chính phủ; 119
Quyết định, Thông tư và Thông tư liên tịch của các Bộ: Công nghiệp (nay là
Công thương), TN&MT, Xây dựng, Tài chính, 36 Chỉ thị của Thủ tướng
Chính phủ chỉ đạo điều hành trong quản lý khoáng sản.
bản QPPL nêu trên, việc ban hành Tiêu chuẩn Việt Nam – TCVN, Tiêu chuẩn
ngành - TCN (sau này là quy chuẩn kỹ thuật-QCVN), nhất là bộ các quy chuẩn
môi trường trong khai thác khoáng sản đã góp phần tăng cường hiệu lực QLNN
về khoáng sản và khai thác, sử dụng hợp lý khoáng sản gắn với BVMT. Đây là
một trong những công cụ pháp lý quan trọng trong việc thẩm định, kiểm tra,
giám sát quá trình thực hiện các dự án khai thác khoáng sản, đóng góp thiết
thực cho công tác quản lý môi trường. (Xây dựng báo cáo ĐTM và các quy
hoạch môi trường; đánh giá hiện trạng và diễn biến môi trường; hoạt động
thanh kiểm tra và giải quyết khiếu nại). Nhìn chung, việc ban hành các tiêu
chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật về BVMT được thực hiện và từng bước hoàn
thiện, đã tạo được hiệu quả nhất định trong công tác quản lý và BVMT trong
khai thác khoáng sản; tạo hành lang pháp lý cho các tổ chức, cá nhân tham gia
hoạt động trong lĩnh vực khoáng sản, chấp hành và tuân thủ các quy định của
pháp luật về BVMT. Phần lớn các tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật, an toàn
trong khai thác khoáng sản đang được áp dụng trong quá trình lập dự án đầu tư,
thiết kế khai thác mỏ cũng như giám sát quá trình thực hiện của các tổ chức, cá
nhân khai thác khoáng sản. Các tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật về môi trường
đang sử dụng trong hoạt động khai thác khoáng sản cũng được sử dụng để lập
Số hóa bởi trung tâm học liệu
Footer Page 23 of 126.
http://www.lrc.tnu.edu.vn/
Header Page 24 of 126.
23
Footer Page 24 of 126.
http://www.lrc.tnu.edu.vn/
Header Page 25 of 126.
24
dựng được cơ sở pháp lý nhất định trong quản lý khai thác khoáng sản gắn
với BVMT trong hoạt động khoáng sản.
(1) Việc ban hành hai luật cơ bản điều chỉnh lĩnh vực khoáng sản gắn
với BVMT đó là Luật Khoáng sản năm 2005 và năm 2010 và Luật BVMT
2005 cùng với các hệ thống văn bản QPPL đi cùng đã tạo được hành lang
pháp lý cho công tác này trong thời gian qua, làm cho công tác quản lý và
khai thác tài nguyên khoáng sản từng bước phát triển.
(2) Các quy định, các văn bản hướng dẫn thi hành Luật Khoáng sản,
Luật BVMT đã được Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ và các Bộ, ngành, địa
phương quan tâm ban hành khá đầy đủ, tương đối đồng bộ, từng bước phù
hợp với thực tiễn QLNN, đã góp phần tháo gỡ những vướng mắc trong thực
tế để xử lý các mối quan hệ xã hội về tài nguyên khoáng sản.
(3) Các tiêu chuẩn, quy chuẩn ký thuật đã được ban hành góp phần điều
chỉnh cơ bản các hoạt động về khoáng sản và BVMT theo các chuẩn mực và
là công cụ quan trọng trong QLNN.
(4) Các văn bản QPPL liên quan đến thuế, phí về khoáng sản và BVMT
trong hoạt động khoáng sản đã tăng nguồn thu cho NSNN, góp phần thúc đẩy
phát triển KT - XH của đất nước và từ đây nguồn kinh phí này lại được tái
đầu tư cho hoạt động khoáng sản và BVMT.
(5) Để phù hợp với từng thời kỳ phát triển các hệ thống luật đã kịp thời
sửa đổi. Luật Khoáng sản sửa đổi hai lần sau khi ban hành năm 1996; Luật