TÀI LIỆU THAM KHẢO một số vấn đề về QUAN hệ tộc NGƯỜI TRÊN địa bàn tây NGUYÊN ở nước TA HIỆN NAY - Pdf 42

Một số vấn đề về quan hệ tộc người trên địa bàn Tây
Nguyên ở nước ta hiện nay
Trong những năm gần đây, tình hình xung đột dân tộc, sắc tộc trên thế giới
đã làm cho quan hệ giữa các quốc gia, dân tộc và giữa các tộc người trong cùng
một quốc gia có nhiều diễn biến phức tạp, căng thẳng và trở nên gay gắt, bùng
nổ nhiều điểm nóng. Đối với nước ta là một quốc gia đa dân tộc, mặc dù vấn đề
dân tộc và quan hệ tộc người chưa nảy sinh đến mức trở thành xung đột. Nhưng
trong quan hệ giữa các tộc người ở từng thời điểm cụ thể, từng địa bàn, từng
khu vực luôn luôn tiềm ẩn nhiều nhân tố gây nên sự mất ổn định, ảnh hưởng
trực tiếp đến công tác vận động quần chúng, tập hợp lực lượng cho sự nghiệp
cách mạng, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, trong đó
điển hình là địa bàn Tây nguyên.
Tây Nguyên là một địa bàn có vị trí chiến lược quan trọng về kinh tế,
chính trị, quân sự không những đối với Việt Nam và cả ba nước Đông Dương;
là vùng cao nguyên được mệnh danh là “mái nhà Đông Dương”. Nơi đây có 45
tộc người anh em sinh sống, vì thế kẻ thù đang ra sức lợi dụng vấn đề dân tộc,
tôn giáo khoét sâu mâu thuẫn nhằm chia rẽ sự đoàn kết giữa các tộc người, làm
mất ổn định tình hình an ninh, chính trị trên địa bàn, gây khó khăn cho sự
nghiệp đổi mới và phát triển đất nước của nhân dân ta.
Mặc dù thời gian qua, Đảng và Nhà nước ta đã có nhiều chủ trương, chính
sách phát triển Tây Nguyên về nhiều mặt cả kinh tế - xã hội, giữ vững an ninh quốc phòng, giải quyết tốt quan hệ tộc người, nâng cao đời sống vật chất, tinh
thần của đại bộ phận đồng bào, từng bước thu hẹp khoảng cách chênh lệch về
mức sống giữa các tộc người. Tuy nhiên, đời sống xã hội ở Tây Nguyên vẫn
tồn tại nhiều vấn đề phức tạp, tiềm ẩn nhiều nguy cơ xuất hiện “điểm nóng” trên
địa bàn, đòi hỏi Đảng, Nhà nước ta phải tiếp tục có nhiều chủ trương và thực
hiện tốt chính sách dân tộc, nhằm từng bước khắc phục sự chênh lệch về trình
độ phát triển và giải quyết tốt các vấn đề xã hội khác, góp phần tăng cường khối


đại đoàn kết toàn dân tộc. Do đó, quan tâm giải quyết tốt mối quan hệ giữa các
tộc người trên địa bàn Tây Nguyên là vấn đề vừa cấp bách, vừa cơ bản lâu dài

thác khoáng sản, du lịch… Những lợi thế kinh tế đó là điều kiện thuận lợi cho
việc giải quyết quan hệ giữa các tộc người trên địa bàn.
Tuy nhiên, về qui mô và tốc độ phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn Tây
Nguyên không đồng đều giữa các vùng, các tộc người. Ở vùng sâu, vùng xa,
vùng đồng bào dân tộc ít người đời sống còn khó khăn, tình trạng đồng bào
thiếu hoặc không có đất canh tác còn nhiều, tỷ lệ đói nghèo là các tộc người
thiểu số còn cao. Hiện nay, Tây Nguyên còn khoảng 10.000 hộ định canh, định
cư chưa vững chắc. Đây thực sự là vấn đề kinh tế - xã hội rất bức xúc, tiềm ẩn
sự gia tăng chênh lệch về mức sống giữa các tộc người, ảnh hưởng không nhỏ
đến quan hệ giữa các tộc người ở Tây Nguyên.
Đặc điểm về chính trị - xã hội, hệ thống chính trị cơ sở trên địa bàn Tây
Nguyên hiện nay, bước đầu đã được củng cố và tăng cường, phát huy được vai
trò trong tổ chức thực hiện các chính sách phát triển kinh tế - xã hội. Thế
nhưng, vẫn còn nhiều hạn chế cả về chất lượng và tổ chức. Về chất lượng,
không đồng đều giữa các xã ở vùng sâu, vùng xa và ở thành phố, thị xã, thị trấn;
trình độ, năng lực của đội ngũ cán bộ ở cơ sở còn rất thấp. Về tổ chức, chưa có
sự đồng bộ thống nhất, nhiều xã chưa có đảng uỷ, chưa có các tổ chức đoàn thể
nhân dân. Đây cũng là một hạn chế lớn đến việc cụ thể hoá và thực hiện chính
sách dân tộc của Đảng, Nhà nước ta trên địa bàn.
Nhìn chung, đồng bào các dân tộc Tây Nguyên đều tin tưởng vào đường
lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, một lòng, một dạ đi theo
Đảng. Song, các thế lực thù địch, phản động trong và ngoài nước đang đẩy
mạnh chiến lược “Diễn biến hoà bình” chống phá trên tất cả các lĩnh vực của
đời sống xã hội, làm cho tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trở


nền phức tạp, tiền ẩn và xuất hiện những điển nóng trên địa bàn. Điều này đã và
đang tác động lớn đến quan hệ giữa các dân tộc trên địa bàn.
Đặc điểm về văn hoá - xã hội, Tây Nguyên có nền văn hoá rất đa dạng về
ngôn ngữ, phong tục, tập quán. Mỗi dân tộc đều có bản sắc văn hoá riêng,

nhiều hủ tục. Nhóm các tộc người thiểu số di cư tự do từ miền Bắc, ven biển
miền Trung và Đông Nam bộ đến Tây Nguyên hiện nay có khoảng 150 vạn
người (chủ yếu là tộc người Nùng, Tày, Dao Thái, Mông, Khơ Me, Chăm…).
Phần lớn họ là những người nghèo, chủ yếu sống bằng nghề phát nương làn rẫy.
Sự xen cư giữa các tộc người làm cho tình hình quan hệ tộc người ở đây vừa
phong phú, nhưng cũng khá phức tạp.
Đồng bào dân tộc ít người ở Tây Nguyên theo các tôn giáo chiếm tỷ lệ cao,
có cả tín ngưỡng truyền thống và tôn giáo ngoại nhập. Tín ngưỡng truyền thống
của cư dân Tây Nguyên là thờ cúng đa thần “vạn vật hữu linh”, làm chỗ dựa về
tinh thần khi họ phải đối mặt với các thế lực thiên nhiên và xã hội, có tác dụng
liên kết cộng đồng, gắn bó cá nhân với gia đình, dòng họ. Nhưng đến nay tín
ngưỡng truyền thống đã bắt đầu bọc lộ những hạn chế, không đáp ứng được
những vấn đề tâm linh mà họ mong muốn, nên họ đã tìm đến tôn giáo hợp thời
hơn. Hiện tại, ở Tây Nguyên có khoảng 1,34 triệu tín đồ các tôn giáo ngoại
nhập (chiếm 32% dân số toàn vùng). Trong đó, số tín đồ theo các tôn giáo là tộc
người thiểu số chiếm tỉ lệ cao (41%) và đang có xu hướng gia tăng. Theo số liệu
của Ban Tôn giáo Chính phủ, so với năm 1975, số người là tộc người thiểu số ở
Tây Nguyên theo đạo Tin Lành hiện nay tăng gấp 6 lần, tỉnh Đắc Lắc tăng gấp
25 lần. Cho nên, giải quyết vấn đề tôn giáo luôn gắn liền với vấn đề dân tộc và
quan hệ tộc người.
Tình hình tôn giáo trên địa bàn Tây Nguyên rất phức tạp, hiện tượng mâu
thuẫn, xung khắc giữa tín ngưỡng truyền thống với tôn giáo ngoại nhập đã từng
xảy ra ở Mang Yang, Đức Cơ, Chư Sê (Kon Tum), làm cho nhiều người bỏ làng
cũ kéo nhau đi lập làng mới, gây mất ổn định về tình hình trong khu vực.


Các thế lực thù địch luôn lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo chống phá
cách mạng nói chung và quan hệ giữa các tộc người ở Tây Nguyên nói riêng.
Chúng ra sức kích động, chia rẽ, khoét sâu mâu thuẫn, phá hoại khối đại đoàn
kết dân tộc ở Tây Nguyên. Trên thực tế, chúng đã tiến hành nhiều chính sách

quyết 22- NQ/TƯ Về một số chủ trương, chính sách phát triển kinh tế - xã hội
miền núi. Ngày 18-4-1991, Ban Bí thư đã ra Chỉ thị số 68-CT/TƯ Về công tác ở
vùng Khơ Me. Đặc biệt, ngày 18-1-2002, Bộ Chính trị ra Nghị quyết số 10NQ/TƯ Về phát triển kinh tế - xã hội và bảo đảm quốc phòng, an ninh vùng
Tây Nguyên thời kỳ 2001-2010. Thành lập Ban Chỉ đạo Tây Nguyên trực thuộc
Ban Chấp hành Trung ương Đảng. Trong Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X,
Đảng ta tiếp tục chỉ rõ định hướng: “Vùng Tây Nguyên cần tập trung mọi nỗ
lực phát triển kinh tế nhanh và bền vững, gắn chặt với việc bảo đảm an ninh,
quốc phòng. Phát triển mạnh thuỷ điện, công nghiệp khai khoáng, sản xuất vật
liệu xây dựng và khai thác có hiệu quả quĩ đất trồng cây công nghiệp, cây ăn
quả xuất khẩu và trồng rừng nguyên liệu gắn với công nghiệp chế biến có công
nghệ hiện đại. Phát triển du lịch sinh thái và văn hoá dân tộc” 1. Điều đó, thể
hiện rõ quyết tâm của Đảng ta là đưa vùng Tây Nguyên phát triển cùng với sự
phát triển của các vùng trọng điểm khác trong cả nước.
Trên cơ sở quan điểm, nghị quyết của Đảng, Nhà nước ta đã có những
chính sách cụ thể nhằm từng bước thực hiện bình đẳng dân tộc đối với miền
núi, vùng dân tộc nói chung và Tây Nguyên nói riêng. Thủ tướng Chính phủ đã
ra nhiều quyết định, nghị định, đặc biệt la Quyết định số 184/1998/QĐ-Tgg Về
dự án quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội Tây Nguyên đến năm 2010;
Chương trình 327; Chương trình 135. Nhà nước còn có các chính sách cụ thể để
khuyến khích phát triển các thành phần kinh tế, các ngành kinh tế như chính
sách khoán rừng, giao đất nông nghiệp để phát triển ngành nông nghiệp, phát
. ĐCSVN, Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb CTQG, H. 2006, tr. 226.

1


triển công nghiệp, đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng ở Tây Nguyên, đổi mới khoa
học - công nghệ, các chương trình cụ thể về xoá đói giảm nghèo, định canh định
cư, vấn đề di dân đến Tây Nguyên, xây dựng trung tâm cụm xã, giáo dục - đào
tạo, y tế, văn hoá thông tin… Gần đây nhất là Quyết định số 226/2003/QĐ-TTg,

ổn định và phát triển sản xuất, xoá đói giảm nghèo, cải thiện đời sống nhân dân,
phát triển giáo dục nâng cao dân trí, đào tạo cán bộ là người dân tộc thiểu số…
nhằm từng bước giảm dần sự chênh lệch về mọi mặt giữ các tộc người ở Tây
Nguyên. Thực chất là làm cho quan hệ tộc người trong từng tỉnh và trên toàn
địa bàn Tây Nguyên ngày càng tốt đẹp hơn, tạo ra động lực to lớn đưa Tây
Nguyên tiến nhanh, tiến mạnh và bền vững, góp phần xứng đáng là địa bàn
chiến lược quan trọng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam
xã hội chủ nghĩa.
Thứ hai, quan hệ bình đẳng tộc người trên thực tế đã từng bước được thực
hiện.
Từ chủ trương, chính sách dân tộc đúng đắn với Tây Nguyên, Đảng và
Nhà nước ta, cùng các cấp, các ngành ở địa phương đã tổ chức thực hiện tốt,
làm cho bình đẳng dân tộc từng bước được thực hiện tốt trên thực tế. Quan hệ
giữa các tộc người ở Tây Nguyên ngày càng gắn bó, không có sự phân biệt đối
xử, cùng nhau xây dựng Tây Nguyên giàu đẹp. Xét về tổng thể, cơ bản 45 tộc
người ở Tây Nguyên hiện nay, có mối quan hệ tốt đẹp, bình đẳng, lành mạnh,
đoàn kết, hoà thuận, tương thân, tương ái, giúp đỡ lẫn nhau cùng tiến bộ. Quyền
bình đẳng giữa các tộc người từng bước được thể hiện trên thực tế một cách
toàn diện về mọi mặt của đời sống xã hội.
Trên lĩnh vực kinh tế, các tộc người ở Tây Nguyên đều được tạo mọi điều
kiện và cơ hội để phát triển kinh tế, tăng thu nhập, cải thiện và nâng cao mức
sống. Mô hình kinh tế trang trại, kinh tế vườn đang hình thành rõ nét, hoà nhập
với nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, thị trường vùng dân tộc,
miền núi được mở rộng. Nhiều tộc người đã bỏ thói quen du canh, du cư, đốt


nương làm rẫy truyền thống, chuyển sang canh tác lúa nước và trồng cây công
nghiệp có giá trị kinh tế cao. Đời sống của đại bộ phận nhân dân, trong đó có
các tộc người thiểu được cải thiện rõ rệt, thu nhập bình quân đầu người/năm
toàn vùng tăng nhanh, từ 467.000 đồng (1991) lên 2,1 triệu đồng (1995) và 2,9

người dân tộc ít người trên toàn khu vực chiếm 32% (3.998/12.684 người).
Công tác phát triển đảng đối với các tộc người thiểu số cũng được quan tâm đúng
mức, trong năm 2005, đã kết nạp được hơn 1.000/7.500 đảng viên là người dân tộc
thiểu số, nâng tổng số đảng viên sinh hoạt tại cơ sở lên hơn 50.000 đảng viên toàn
vùng1. Trong các cơ quan lãnh đạo của Đảng và Nhà nước ta cũng có nhiều đồng
chí là người dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên. Điều đó chứng tỏ, Đảng và Nhà
nước ta rất quan tâm xây dựng đội ngũ cán bộ là người dân tộc thiểu số, tạo
cơ sở từng bước thực hiện quyền bình đẳng về chính trị, làm cho đồng bào
các dân tộc ở Tây Nguyên ngày càng có quan hệ mật thiết, gắn bó chặt chẽ
với nhau trong khối đại đoàn kết toàn dân tộc.
Không chỉ vậy, quyền dân chủ của đồng bào các dân tộc Tây Nguyên
cũng từng bước được thực hiện đầy đủ và thực chất hơn. Ngày 25/4/2004, chỉ
2 tuần sau khi xảy ra biểu tình, bạo loạn ở một số địa phương, nhân dân các
dân tộc Tây Nguyên vẫn tham gia bầu cử Quốc hội, hội đồng nhân dân các
cấp với tỷ lệ cao, đạt trên 90% ở tất cả các địa phương. Đồng bào các dân tộc
được tham gia bàn bạc, kiểm tra, giám sát những công việc của buôn làng,
của chính quyền các cấp thường xuyên và bước đầu có hiệu quả.
Trên lĩnh vực văn hoá - xã hội, đã có nhiều chuyển biến tích cực, bản
sắc văn hoá các tộc người được trân trọng, gìn giữ và phát huy, trình độ dân
trí của đồng bào được nâng cao. Hệ thống giáo dục - đào tạo được đầu tư,
nâng cấp, trong vùng đã có 5 trường đại học và cao đẳng, 13 trường trung
học chuyên nghiệp, 7 trường công nhân kỹ thuật. Giáo dục phổ thông đã
được quan tâm và đầu tư đúng mức, có nhiều bước phát triển, gần 100% xã
có trường tiểu học, khoảng 60% xã có trường trung học cơ sở, các huyện, thị
đều có trường trung học phổ thông. Trường Dân tộc nội trú đã có hầu hết ở
. Báo QĐND, số 16149, ngày 10/4/2006, tr.1.

1





thêm vững chắc. Phần lớn số đồng bào lầm lỗi đã được sự quan tâm, giúp đỡ
trở về gia đình và buôn làng, yên tâm làm ăn, sinh sống. Nhiệm vụ về an
ninh, quốc phòng luôn được đề cao, thực hiện tốt các chỉ tiêu về nghĩa vụ
quân sự, giữ vững trật tự an toàn xã hội.
Thứ ba, sự đoàn kết, tôn trọng, giúp đỡ lẫn nhau cùng tiến bộ giữa các
tộc người ngày càng được phát huy. Trong kháng chiến cũng như hiện nay,
đồng bào các dân tộc Tây Nguyên luôn giữ được truyền thống đoàn kết, tôn
trọng, giúp đỡ lẫn nhau trong sản xuất và xây dựng đời sống mới, sống vui
vẻ, hoà thuận trong đại gia đình các dân tộc Việt Nam. Những người dân mới
di cư đến được các tộc người bản địa chấp nhận, nhiệt tình giúp đỡ, nhanh
chóng ổn định đời sống về mọi mặt, tiếp biến văn hoá giữa các tộc người,
như người Mông di cư vào Đắc Lắc, Đắc Nông đã sử dụng cơm từ gạo nương
thay cho “mèn mén”. Nhiều tộc người thiểu số đã biết tiếp thu văn hoá của
người Kinh trong sản xuất và sinh hoạt đời sống cộng đồng.
Thứ tư, ý thức tự chủ, tự vươn lên của các tộc người được nâng cao, các
nguy cơ chia rẽ tộc người, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc dần được
khắc phục. Trong những năm gần đây, đồng bào các dân tộc ở Tây Nguyên
đã có nhiều khởi sắc, biết tự vươn lên, tiếp thu khoa học kỹ thuật, vận dụng
vào quá trình sản xuất, kinh doanh theo hướng kinh tế hàng hoá, phát triển
kinh tế trang trại, chăn nuôi và trồng cây công nghiệp. Nhiều hộ gia đình đã
thoát khỏi đói nghèo, vươn lên thành hộ khá và giàu. Ví như ở tỉnh Lâm
Đồng, năm 2005 đã có 4.690 hộ người dân tộc thiểu số làm kinh tế giỏi, có
thu nhập trên 10 triệu đồng/năm.
Trong sản xuất cũng như quan hệ xã hội, đồng bào các dân tộc đã từng
bước khắc phục được tư tưởng tự ti, đã mạnh dạn hơn trong đầu tư phát triển
sản xuất, giao lưu giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc, học hỏi, phổ biến kinh
nghiệm làm ăn. Những biểu hiện kỳ thị, coi thường dân tộc ngày càng được
hạn chế. Ý thức tộc người được đề cao, nhận diện về bản chất của bọn phản



đẳng và gia tăng khoảng cách chênh lệch giàu nghèo, tỷ lệ người nghèo là
người dân tộc thiểu số còn cao, chiếm khoảng 31% tổng số người nghèo cả
nước”1. Thậm chí, trên thực tế còn nhiều sai phạm trong thực hiện các dự án,
biểu hiện ở tính hiệu quả thấp, còn xảy ra thất thoát, tham nhũng, tiêu cực…
Hai là, quan hệ bình đẳng tộc người trên thực tế ở các lĩnh vực vẫn chưa
được thực hiện đầy đủ và triệt để. Vẫn còn một bộ phận cán bộ, nhân dân có
tư tưởng phân biệt đối xử, miệt thị, chưa thực sự tôn trọng quyền bình đẳng
giữa các tộc người.
Trên lĩnh vực kinh tế, một số nơi, đồng bào dân tộc thiểu số chưa thực
sự có được cơ hội tốt nhất để phát triển kinh tế, nâng cao đời sống vật chất và
tinh thần. Thực trạng đó biểu hiện ở tỉ lệ đói nghèo của Tây Nguyên vẫn còn
cao 24,9% (cả nước là 13,3%), riêng miền núi và dân tộc thiểu số là 26,57%.
Ở tỉnh Kon Tum, tính đến năm 2004, có 196.744 hộ nghèo là người dân tộc
thiểu số (chiếm 53,65%). Tỉnh Lâm Đồng, tỷ lệ hộ đói nghèo là người dân
tộc thiểu số tính đến năm 2005 còn 25.488 hộ, chiếm 55,14% (theo chuẩn
mới).
Sự chênh lệch về mức sống của đồng bào dân tộc thiểu số tại chỗ với tộc
người đa số còn rất lớn và có nguy cơ ngày càng gia tăng. Tính đến năm
2002, chênh lệch giữa hộ giàu và hộ nghèo là 13 lần (các tỉnh miền Bắc là
6,8 lần); chênh lệch thu nhập bình quân đầu người/tháng, giữa nhóm thu nhập
cao nhất và nhóm thu nhập thấp nhất là 6,4 lần. Theo báo cáo của các tỉnh
năm 2002, so sánh thu nhập bình quân đầu người/năm của toàn tỉnh với thu
nhập của đồng bào dân tộc thiểu số cho thấy mức chênh lệch ở tỉnh Gia Lai
là 4,29 lần; tỉnh Kon Tum là 1,95 lần; tỉnh Lâm Đồng là 1,66 lần; tỉnh Đắc
Lắc là 1,56 lần. Sự chênh lệch giữa các hộ khá ở Tây Nguyên cũng rất cao,
nếu số hộ khá là người Êđê lên tới 21,55% thì tộc người Bana số hộ này chỉ
có 0,83%, còn các tộc người thiểu số như Brâu, Rmăm chưa có hộ khá 1. Điều
. Tạp chí Cộng sản, Số 8/ tháng 4 năm 2006, tr. 31.

vấn đề bức xúc liên quan đến quan hệ tộc người, quan hệ dân tộc - tôn giáo văn hoá chưa được giải quyết kịp thời, dứt điểm, làm rạn nứt đến sự cố kết,
hoà hợp dân tộc. Tỷ lệ trẻ em đi học đúng độ tuổi ở Tây Nguyên mới đạt
. Nguyễn Sỹ Hoạ, Luận văn Thạc sỹ Triết học, H.2006, tr. 71.

1


82% (cả nước là 92%); số người mù chữ từ 15 tuổi trở lên còn 30% (cả nước
là 10%). Việc dạy và học chữ mẹ đẻ chưa được quan tâm đúng mức, hiện tại
vẫn còn 10 tộc người chưa có con em học đại học và cao đẳng.
Bản sắc văn hoá tộc người có lúc, có nơi chưa được gìn giữ và phát huy,
còn có biểu hiện bị mai một như người H ’Mông di cư vào tỉnh Đắc Lắc và Đắc
Nông không còn kèn lá, khèn, sáo, hát, múa lễ hội, chợ phiên, không còn biết
làm “mèn mén, thắng cố”, không có bàn thờ kể cả bàn thờ tổ tiên… Một số tộc
người rất ít sử dụng trang phục truyền thống kể cả trong lễ hội. Tín ngưỡng và
các luật tục dân gian chưa được nghiên cứu kỹ để loại bỏ những yếu tố lạc hậu,
giữ lại những yếu tố truyền thống tốt đẹp.
Ba là, mối quan hệ đoàn kết, gắn bó giữa các tộc người có lúc chưa chặt
chẽ, sự tôn trọng giúp đỡ lẫn nhau chưa được thực hiện đầy đủ, vẫn còn hiện
tượng xích mích, va chạm, gây thù hằn giữa các tộc người, làm suy giảm mạnh
khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Mặc dù, đồng bào các dân tộc Tây Nguyên đã
phát huy truyền thống đoàn kết trong lịch sử, cũng như trong xây dựng cuộc
sống mới, nhưng trong thời gian qua ở nơi này, nơi khác việc giải quyết quan
hệ giữa các tộc người vẫn còn chưa tốt. Một bộ phận đồng bào dân tộc thiểu
số do mắc mưu kẻ thù, nên có tư tưởng “bài Kinh”, cho người Kinh là xâm
chiếm đất đai, đuổi người Thượng vào rừng sâu, dẫn đến gây thù hận lẫn
nhau. Có nơi còn xảy ra tình trạng xích mích va chạm giữa tộc người này với
tộc người khác. Chẳng hạn, tỉnh Gia Lai, năm 2003 xảy ra vụ tranh chấp đất
sản xuất giữa một số hộ đồng bào dân tộc ít người với một số hộ dân vùng
kinh tế mới ở xã Ia Hiao, huyện Ayun Pa. Việc quan tâm và thực hiện các

Về nguyên nhân khách quan:
Tây Nguyên là vùng chiến lược có nhiều tiềm năng thế mạnh cho phát
triển kinh tế - xã hội, nên thuận lợi cho việc triển khai thực hiện các chính
sách dân tộc của Đảng và Nhà nước ta. Người dân Tây Nguyên vốn có truyền
thống đoàn kết, gắn bó keo sơn, một lòng một dạ đi theo cách mạng trong kháng


chiến và cần cù, chịu khó trong làm ăn, phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng cuộc
sống mới; có nền văn hoá độc đáo là những yếu tố quan trọng bảo đảm cho quan
hệ giữa các tộc người được phát triển một cách vững chắc và toàn diện.
Mặt khác, do những thành tựu của công cuộc đổi mới đất nước trên các
lĩnh vực kinh tế, chính trị , văn hoá, xã hội, quốc phòng, an ninh… tạo ra
điều kiện thuận lợi để Đảng và Nhà nước ta đề ra những chủ trương, chính
sách ưu tiên, hỗ trợ cho phát triển kinh tế - xã hội các vùng đồng bào dân tộc
nói chung và Tây Nguyên nói riêng.
Về nguyên nhân chủ quan:
Trước tiên phải nói đến là Đảng, Nhà nước ta và hệ thống chính trị các
cấp, các ngành đã thực sự quan tâm, tích cực tổ chức thực hiện chính sách
dân tộc và chăm lo xây dựng mối quan hệ đoàn kết truyền thống, gắn bó son
sắc giữa các tộc người ở Tây Nguyên. Sự nỗ lực tổ chức thực hiện các chính
sách dân tộc của đảng, Nhà nước, các cấp, các ngành, của cả hệ thống chính
trị nói chung và ở Tây Nguyên nói riêng, làm cho kinh tế - xã hội trên địa
bàn phát triển, từng bước nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho đồng bào
dân tộc thiểu số, thu hẹp dần khoảng cách chênh lệch về mọi mặt giữa các tộc
người trong vùng; quốc phòng, an ninh được giữ vững…tạo điều kiện tốt cho
sự hoà hợp dân tộc.
Bên cạnh đó, các dân tộc Tây Nguyên có truyền thống yêu nước, thương
nòi, có tinh thần cách mạng bất khuất, biết đoàn kết, gắn bó, chung sức,
chung lòng, tự vươn lên trong đấu tranh cách mạng cũng như trong xây dựng
cuộc sống mới. Đây là một trong những nguyên nhân cơ bản dẫn đến những

nước ta không quan tâm đến đồng bào dân tộc thiểu số, trong đó có Tây
Nguyên. Chúng tuyên truyền cái gọi là “thực dân Kinh” để lừa gạt đồng bào,
chia rẽ người Kinh và người Thượng, giữa người dân tộc bản địa và dân tộc
mới di cư đến, kêu gọi thành lập “Nhà nước Đề Ga tự trị”…Đây là nguyên


nhân trực tiếp dẫn đến sự phân biệt đối xử, làm nảy sinh tư tưởng dân tộc hẹp
hòi, kì thị dân tộc, gây mất đoàn kết dân tộc.
Về nguyên nhân chủ quan:
Do nhận thức về chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan
điểm, đường lối, chủ trương, chính sách dân tộc của một bộ phận cán bộ,
đảng viên và đồng bào các dân tộc ở Tây Nguyên chưa đầy đủ. Đặc biệt, hệ
thống chính trị nói chung và đội ngũ cán bộ ở cơ sở nói riêng còn nhiều hạn
chế về trình độ và năng lực, số lượng và chất lượng, cơ cấu thành phần tộc
người, chưa đáp ứng kịp với đòi hỏi của nhiệm vụ trong tình hình hiện nay.
Một số xã, năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng còn
yếu kém, nội bộ mất đoàn kết; hoạt động của hội đồng nhân dân nhiều nơi
còn hình thức; năng lực điều hành của chính quyền chưa ngang tầm, chậm
đổi mới. Một số cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ chủ chốt chưa thực sự
gương mẫu, còn tư tưởng trông chờ, ỷ lại vào cấp trên; tính đấu tranh phê
bình và tự phê bình chưa được đề cao, nhận thức còn có biểu hiện chủ quan,
phiến diện về diễn biến hoà bình.
Cùng với những nguyên nhân trên, do việc tổ chức thực hiện chính sách
dân tộc của Đảng và Nhà nước ở từng địa phương, từng cấp, từng ngành chưa
tốt, thậm chí chưa được chú trọng. Cộng thêm với một bộ phận đồng bào dân
tộc thiểu số vẫn còn tư tưởng, tâm lý thụ động, chưa tích cực, chịu khó trong
khắc phục khó khăn, tự vươn lên, chưa mạnh dạn đổi mới tập quán sinh hoạt
và sản xuất, còn có biểu hiện tự ti dân tộc và hẹp hòi dân tộc.
Những hạn chế, yếu kém của việc thực hiện chính sách dân tộc và giải
quyết quan hệ tộc người ở Tây Nguyên hiện nay là sự tổng hợp cử nhiều

lối, chính sách dân tộc của Đảng, Nhà nước ta. Trên cơ sở đó, đồng bào dân
tộc Tây Nguyên có nhận thức thấu đáo và thực hiện tốt mọi chính sách dân
tộc. Mặt khác, giáo dục, nâng cao nhận thức cho cán bộ, đảng viên và đồng


bào nắm và hiểu rõ tiềm năng, thế mạnh, những thách thức, khó khăn của địa
bàn Tây Nguyên; xây dựng lòng tự hào dân tộc, tin tưởng vào sự lãnh đạo
của Đảng, mục tiêu của cách mạng và chính bản thân mình, theo đó để họ
phấn đấu vươn lên, khắc phục tư tưởng tự ti, kì thị, hẹp hòi dân tộc, tinh thần
cảnh giác không mắc mưu kẻ thù…
Để công tác tuyên truyền, giáo dục đạt hiệu quả cao, cần thực hiện tốt
các yêu cầu đó là, nâng cao vai trò, trách nhiệm của mọi cấp, mọi ngành, mọi
lực lượng và cả hệ thống chính trị trong công tác tuyên truyền, giáo dục chủ
nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối, chính sách
dân tộc của Đảng, Nhà nước ta. Đa dạng hoá các hình thức, biện pháp tuyên
truyền, giáo dục như thông qua hoạt động sinh hoạt văn hoá cộng đồng, lễ
hội truyền thống của đồng bào các dân tộc; thông qua việc hướng dẫn đồng
bào thực hiện chính sách định canh, định cư, hướng dẫn cách sản xuất,
chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi và phổ biến trực tiếp các chính sách
của Đảng và Nhà nước. Tổ chức các đội tuyên truyền lưu động đến tận các
buôn, làng để hướng dẫn, động viên, kết hợp với phát huy vai trò của các
trưởng thôn, già làng trong việc vận động đồng bào thực hiện theo chủ
trương, chính sách của Đảng và Nhà nước. Trong công tác tuyên truyền, giáo dục
cần phải chú ý nắm rõ đặc điểm, phong tục, tập quán của đồng bào; không nên dùng
lý luận cao xa mà phải ngắn gọn, dễ hiểu, dễ nhớ, đi thẳng vào những vấn đề cụ thể đã
và đang xảy ra ở địa phương, với người thực, việc thực và gắn với đời sống sinh hoạt
hàng ngày của đồng bào các dân tộc Tây Nguyên.
Hai là, tiếp tục hoàn thiện các chủ trương, chính sách và thường xuyên tổng kết
việc thực hiện chính sách dân tộc của Đảng, Nhà nước ta trên địa bàn Tây Nguyên.
Trong những năm qua, việc tổ chức thực hiện các chính sách nói chung

trên địa bàn Tây Nguyên hiện nay.
Hiện nay, chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch đang tập trung
chống phá cách mạng Việt Nam bằng chiến lược diễn biến hoà bình, kết hợp


với bạo loạn lật đổ, trong đó chúng coi Tây Nguyên là một vùng trọng điểm.
Vì vậy, để thực hiện tốt giải pháp này, cần tập trung vào những vấn đề sau,
tiếp tục tuyên truyền, giáo dục cho mọi cán bộ, đảng viên và nhân dân Tây
Nguyên nhận thức rõ hơn bản chất, âm mưu, thủ đoạn mới của kẻ thù nhằm
chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc trên địa bàn. Chúng lợi dụng vấn đề dân tộc,
tôn giáo để đối lập quan điểm, đường lối, chính sách dân tộc của Đảng, Nhà
nước ta với tư tưởng Hồ Chí Minh, làm cho đồng bào giảm sút niềm tin vào
sự lãnh đạo của Đảng, vai trò quản lý của Nhà nước, dẫn đến mơ hồ, mất
cảnh giác, mắc mưu, bị lợi dụng, kích động, lôi kéo, tham gia vào các vụ bạo
loạn như đã diễn ra ở Tây Nguyên trong thời gian vừa qua.
Gắn công tác đấu tranh chống âm mưu, thủ đoạn chia rẽ dân tộc với việc
thực hiện có hiệu quả các chính sách ưu tiên của Đảng, Nhà nước đối với
đồng bào Tây Nguyên trên tất cả các lĩnh vực; kịp thời phát hiện và khắc
phục những biểu hiện tư tưởng dân tộc lớn, tự ti dân tộc, kì thị dân tộc, hẹp
hòi dân tộc và “tự diễn biến” trong cán bộ, đảng viên và nhân dân. Kiên quyết
xử lý theo đúng pháp luật với những cá nhân và tổ chức lợi dụng vấn đề này để vu lợi,
tiếp tay cho kẻ địch, chống phá Tây Nguyên, chống phá cách mạng nước ta.
Trên đây là những giải pháp cơ bản để thực hiện tốt hơn nữa chính sách
dân tộc và quan hệ giữa các tộc người trên địa bản Tây Nguyên, đòi hỏi các
cấp, các ngành và đồng bào các dân tộc Tây Nguyên cần quán triệt, thực hiện
đồng bộ, đầy đủ. Mỗi giải pháp có vị trí, vai trò riêng, song có mối quan hệ
chặt chẽ với nhau, tạo thành một thể thống nhất. Tuỳ theo điều kiện cụ thể
của từng địa phương mà vận dụng cho phù hợp, tránh coi nhẹ hoặc đề cao
giải pháp nào. Thực hiện đồng bộ những giải pháp trên, sẽ góp phần giải
quyết tốt quan hệ giữa các tộc người ở Tây Nguyên hiện nay, nhằm xây dựng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status