SỬ LIỆU VÀ VAI TRÒ CỦA SỬ LIỆU
ĐỐI VỚI QUÁ TRÌNH NHẬN THỨC LỊCH SỬ
Nhiệm vụ lớn nhất của khoa học lịch sử là nghiên cứu của hoạt động của loài
người trong quá khứ . Những hoạt động đó được biểu hiện thông qua các sự kiện,
biến cố lịch sử.Vì vậy khi nghiên cứu, giảng dạy và học tập lịch sử bao giờ cũng
bắt đầu trước hết từ việc nghiên cứu các sự kiện . nhưng sự kiện lịch sủ mang dặc
điểm không bao giờ lặp lại, nhà nghiên cứu lịch sử không thể dùng phương pháp
thực nghiệm hay thí nghiệm để buộc lịch sử lặp lại, như nó diễn ra trong quá khứ
để nghiên cứu. Sự kiện lịch sử có thể ghi lại, dưới dạng này, hay dạng khác trong
các tư liệu lịch sử.Do đó, nhà sử học muốn lý giải đúng thực sự khách quan và
tìm được câu trả lời đúng cho câu hỏi đặt ra, không có cách nào khác là phải dựa
trên cơ sở nguồn sử lịêu .
Sử liệu học là một môn khoa học về các nguồn sử liệu. Song đối tượng nghiên
cứu của sử liệu học không phải là những sử liệu cụ thể mà là những quy luật phát
sinh các tư liệu lịch sử và phản cánh quá trình lịch sử khách quan trong đó . Chỉ
nắm bắt được nhóm quy luật quy định sự xuất hiện tư liệu và chi phối nội dung
của chúng, ta mới đề ra được nguyên tắc sử dụng chúng và xây dựng lý luận cho
môn sử liệu học, nhưng khi nói về nhiệm vụ của của sử liệu học cần nhận thấy
hai mặt của chúng.
Thứ nhất , nó biểu hiện ở chổ xây dựng, đề xuất hệ thống các nguyên tắc,
phương pháp cách sử dụng tư liệu lịch sử. đó chính là sử liệu học lý luận .
Thứ hai, thể hiện trong thực tiễn công tác tư liệu, trong việc tìm kiếm, chọn
lọc phân tích tư liệu đẻ nghiên cứu các mặt khác nhau của quá trình lịch sử ,
trong việc kiến trúc tỏng thể sự kiện khoa học và các tư liệu. Đó chính là nhiệm
vụ của sử liệu học cụ thể hay thực tiển của công tác tư liệu . Sử liệu học lý luận
và thực tiển công tác tư liệu luôn gắn bó mật thiết và bổ sung chi nhau mối quan
hệ đó là mối quan hệ gữa lý luận và thực tiển . Sử liệu học lý luận soi sáng cho
cho sử liệu học cụ thể và ngược lại, thực tiển công tác tư liệu lại góp phần đề xuất
những hệ thống phương pháp các khái niệm phạm trù sử liệu học lý luận . Với
tư cách là môn khoa học luận giải lý thuyết về sử liệu, về các phương pháp
nghiên cứu và sử dụng nguồn sử liệu hỗ trợ cho quá trình nghiên cứu, sử liệu học
liệu là tất cả những di tích tâm- vật lý và xã hội, chúng là sản phẩm của lao động
con người nhưng đồng thời tham gia vào sự phát triển của đời sống xã hội, thông
qua đó mà chúng ta có khả năng phản ánh sự phát triển đó. Do những thuộc tính
đó (Tức là sản phẩm của lao động và khả năng phản ánh) nguồn là phương tiện
nhận thức cho phép tái hiện một cách khoa học sự phát triển của xã hội với tất cả
sự biểu hiện của nó"
Nếu coi định nghĩa của Ch. Langlois, Handelsman về sử liệu là những định
nghĩa một vế, thì rõ ràng các định nghĩa của Bernheim, Kosciatkonsky hay của
G.Labuda là những định nghĩa hai vế. Những định nghĩa hai vế một mặt vừa nói
đến sử liệu như là" Những dấu vết", "những kết quả", "những sản phẩm", "những
di tích" của hoạt động con người, mặt khác vừa đề cập đến vai trò sử liệu như là
"sự lợi ích", "việc phục vụ" hay "khả năng cho phép" con người nhận thức lịch sử
thông qua "dấu vết" hoặc "kết quả" mà hành động con người để lại. So sánh
những định nghĩa một vế, các định nghĩa hai vế có nội hàm rộng hơn và mang
tính khoa học hơn.
Tuy nhiên, cùng với sự phát triển của khoa học lịch sử và của sử liệu hoc, càng
ngày người ta càng nhận ra rằng, tất cả các định nghĩa về sử liệu vừa nêu trên dù
là định nghĩa một vế hay định nghĩa hai vế là đúng nhưng chưa đủ. Tư duy khoa
học mới đã chỉ ra hạn chế lớn nhất của các nhà nghiên cứu tiền bối là trong
3
các định nghĩa sử liệu mới chỉ nói đến những kết quả hoạt động của con
người mà không nói đến một yếu tố quan trọng nữa của sử liệu là nguồn gốc tự
nhiên của nó. Khi định nghĩa về sử liệu, họ chỉ chú ý đến sử liệu gắn với dấu vết
được tạo ra từ hoạt động con người trong quá khứ mà quên đi rằng, con người
luôn luôn hoạt động trong một môi trường tự nhiên nhất định và mọi hoạt động
của con người luôn bị chi phối bởi môi trường tự nhiên đó. Mặc dù các yếu tố tự
nhiên, không phải là sản phẩm do con người tạo ra, nhưng nó lại liên quan trực
nguồn sử liệu tự nhiên, do coi nhẹ, xem thường lịch sử, đã dẫn đến những hành
động làm tổn hại đến nhiều di tích lịch sử - văn hoá qúy báu của dân tộc.
Tóm lại, có thể khẳng định, phạm vi nguồn sử liệu là rất rộng, sử liệu không
chỉ là dấu vết từ hoạt động của con người trong quá khứ để lại mà nó còn bao
gồm những thông tin mà người ta có thể khai thác được từ tự nhiên (môi trường
sống của con người hay môi trường sự kiện), ngay cả các hình thức chuyển tải
thông tin (kênh thông tin) cũng thuộc phạm vi của nguồn sử liệu. Nói cách khác:
Sử liệu là một nguồn của nhận thức lịch sử, tức là mọi thông tin về quá khứ xã
hội, bất kỳ chúng nằm ở đâu cùng với những gì thông tin đó truyền đạt. Về vấn
đề này J - Jiowlsing đã chỉ rõ: Sử liệu là "mọi nguồn gốc của nhận thức lịch sử
(trực tiếp hoặc gián tiếp) bất kỳ chúng nằm ở đâu, cùng với những gì mà chúng
truyền đạt bằng kênh thông tin. Tuy nhiên cũng cần phải chú ý rằng, mặc dù
phạm vi về nguồn sử dụng là rất rộng, nhưng trong nghiên cứu, trong nhận thức
lịch sử, chỉ những tài liệu nào liên quan đến vấn đề mà ta quan tâm mới là sử
liệu, ngoài ra chỉ là tài liệu tham khảo.
Bản thân sử liệu luôn mang hai chức năng cơ bản, chức năng bản thể luận và
chức năng nhận thức luận. Với chức năng bản thể luận, mặc dù tồn tại khách
quan song sử liệu không đứng ngoài, tách bạch khỏi sự vận động và phát triển
của xã hội. Tự bản thân, sử liệu chính là nhu cầu của cuộc sống xã hội, thoả mãn,
đáp ứng yêu cầu xã hội đồng thời trực tiếp tham gia vào quá trình tồn tại và phát
triển của xã hội. Sử liệu luôn có ích, có tác dụng đối với cuộc sống con người. Nó
thoả mãn các nhu cầu của con người, trong đó có nhu cầu tìm tòi, khám phá
những vấn đề của quá khứ lịch sử để từ đó rút ra những bài học kinh nghiệm,
những quy luật lô gic nội tại trong phát triển xã hội nhằm vạch đường cho hiện
tại và tương lai, với chức năng nhận thức luận, sử liệu với tư cách là một bộ phận
của sự kiện mà nó phản ảnh, là cái còn lại của sự kiện lịch sử, nó cho phép con
người thông qua nó để khôi phục, xây dựng lại các sự kiện lịch sử đã diễn ra
trong quá khứ từ đó nhận thức được mọi quá trình lịch sử khách quan, chân thực.
Trên ý nghĩa này, sử liệu được coi là điều kiện, tiền đề của nhận thức lịch sử.
Luận giải về sử liệu, cũng cần phải thấy rằng, nguồn sử liệu luôn mang tính
hồi ký, hồi tưởng của những người trực tiếp tham gia vào sự kiện này hay văn
kiện của Đảng xuất hiện ở thời gian sau đó. Mấy năm gần đây, dựa vào một số
nguồn sử liệu khác, mà cơ bản nhất là dựa vào báo cáo gửi quốc tế cộng sản ngày
18/02/1930, của đồng chí Nguyễn Ái Quốc, một số nhà nghiên cứu cho rằng hội
nghị thực chất diễn ra từ ngày 6/01, chứ không phải là ngày 3/2 như ta vẫn nói.
Vậy thông tin nào là thông tin chính xác ? Để trả lời cho câu hỏi này , chúng ta
cần phải tìm hiểu thêm, bởi ngay cả thông tin "6.1" có được từ báo cáo gửi quốc
tế cộng sản, cũng chỉ là kết quả phản ánh gián tiếp thông qua người viết báo cáo
là đồng chí Nguyễn Ái Quốc, các yếu tố chủ quan dù ít, dù nhiều vẫn chi phối
đến sự xác thực của thông tin.
Trên tất cả những vấn đề đã phân tích về khái niệm, về chức năng, tính chất
của nguồn sử liệu, có thể khẳng định: Nguồn sử liệu có vị trí và vai trò đặc biệt
quan trọng đối với quá trình nhận thức lịch sử nói chung và quá trình nghiên cứu
khoa học lịch sử nói riêng. Đánh giá vai trò của nguồn sử liệu, chúng ta nhận thấy
nó được thể hiện trên ba khía cạnh cụ thể sau:
Thứ nhất, nguồn sử liệu là cơ sở, là điều kiện, tiền đề của mọi quá trình nhận thức
lịch sử. Không có sử liệu, nhận thức lịch sử sẽ thiếu đi tính khách quan, chân thực.
6
Lịch sử là một thực tế đã xảy ra trong quá khức. Nhận thức lịch sử là nhận
thức những gì đã diễn ra trong quá khứ mà thường là chúng ta không còn quan
sát, chứng kiến trực tiếp được nữa. Chính vì lẽ đó, nhận thức lịch sử cũng là một
quá trình khó khăn, phức tạp đòi hỏi chủ thể nhận thức phải triệt để phát huy khả
năng chủ động, sáng tạo tìm mọi cách để tiếp cận, tìm hiểu vấn đề nhận thức,
trong đó việc sử dụng các nguồn sử liệu (gồm tất cả những dấu vết có liên quan
đến các sự kiện lịch sử) để tái hiện lại lịch sử là vô cùng quan trọng. Muốn nắm
bắt được sự kiện lịch sử, muốn xây dựng được quá trình lịch sử đã diễn ra trong
thực tế cụ thể như thế nào, phải thông qua tất cả những thông tin chứa đựng trong
nguồn sử liệu, từ đó chắt lọc những thông tin hữu ích phục vụ cho quá trình nhận
Tóm lại: Nhận thức lịch sử phải bắt đầu từ sử liệu và thông qua sử liệu. Sử
liệu càn phong phú, đa dạng và bảo đảm độ xác thực của thông tin bao nhiêu,
nhận thức lịch sử càng mang tính chân thực khách quan bấy nhiêu.
Thứ hai, bản thân lịch sử, cũng như sự tồn tại của nguồn sử liệu là khách
quan. Nhờ có nguồn sử liệu, chúng ta có thể nhận thức được lịch sử để rồi từ quá
trình nhận thức đó con người có thể đáp ứng những yêu cầu thực tiễn mà xã hộ
đang đặt ra và trăn trở. Lịch sử là một dòng chảy tự nhiên nối liền giữa quá khứ,
hiện tại và tương lai. Sử liệu không chỉ cung cấp cho chúng ta trong quá trình
nhận thức, nghiên cứu những yếu tố, những điều kiện để khôi phục bức tranh
chân thực của lịch sử, mà nó còn là cơ sở quan trọng để chúng ta đánh giá, so
sánh giữa quá khứ với hiện tại, thông qua đó hiểu rõ các vấn đề của hiện tại, vận
động thông tin từ quá khứ giải quyết các vấn đề mà hiện tại xã hội đặt ra đối với
chúng ta. Nhận thức các thông tin lịch sử từ quá khứ, hay nói cách khác là nghiên
cứu lịch sử, mục đích chính là để tìm ra quy luật phát triển con đường đi lên của
lịch sử xã hội, chỉ ra những quy luật đúng đắn hay sai lầm, hạn chế của hoạt động
con người trong quá khứ, từ đó đúc rút những kinh nghiệm hữu ích cho mọi hoạt
động thực tiễn ở cả hiện tại và tương lai với vai trò này, người ta thường ví "Lịch
sử là bó đuốc soi đường đưa ta đến tương lai Lịch sử là hành trang quý giá của
chúng ta trong mỗi bước đường đi lên của lịch sử.
Đối với Đảng ta trong quá trình lãnh đạo cách mạng, những bài học kinh
nghiệm rút ra từ thực tế lịch sử luôn có một ý nghĩa rất lớn. Nhờ những kinh nghiệm
lịch sử quý giá (có cả thất bại và thành công) được kiểm nghiệm, minh chứng từ các
thông tin sử liệu cụ thể hết sức đa dạng và phong phú, Đảng mới có thể đề ra được
những chủ trương, đường lối chiến lược cách mạng đúng đắn dẫn dắt sự nghiệp cách
mạng đi đến thành công. Ví dụ, khi chúng ta ký kết hiệp định Giơ - ne - vơ (1954)
về việc chấm dứt chiến tranh ở Việt Nam và các nước Đông Dương, nhiều người
cho rằng những điều khoản được ký kết của Hiệp nghị, chưa phản ánh đầy đủ thế,
lực và những chiến thắng của quân và dân ta trên chiến trường. Đó là một thực tế
lịch sử, mà sau này, khi nhìn nhận lại Đảng ta đã thừa nhận và phân tích rõ những
nguyên nhân dẫn đến hạn chế này là do lúc đó chúng ta chưa nắm bắt đầy đủ tình
lực lượng trên cơ sở đánh giá về ưu thế quân sự (vũ khí, khí tài…) lẫn tiềm năng
kinh tế Mỹ hơn chúng ta gấp nhiều lần. Trong những thời điểm khó khăn của
cuộc chiến (Khởi điểm Mỹ mở rộng chiến tranh ra miền Bắc, Mỹ tập trung không
lực dội bom xuống Hà Nội với tuyên bố: "San phẳng Hà Nội, đưa Hà Nội về thời
kỳ đồ đá") đã từng có nhiều người không tin là ta có thể đánh thắng Mỹ. Một số
nước là bạn bè của ta cũng lo lắng cho ta và khuyên ta là nên có giải pháp thích
hợp bằng con đường ngoại giao, để tránh nguy cơ tổn thất nặng nền. Ở vào thời
khắc gay go nhất của lịch sử Đảng và Bác Hồ vẫn khẳng định "Cuộc kháng chiến
của nhân dân ta nhất định thắng lợi, đất nước nhất định sẽ thống nhất". Sở dĩ
Đảng và Bác tin tưởng tuyệt đối vào chiến thắng của dân tộc là bởi Đảng và Bác
một mặt nhận thức rõ được truyền thống bất khuất, kiên cường, đánh giặc và
thắng giặc của dân tộc ta trong cả ngàn năm lịch sử dựng nước và giữ nước trước
đó, mặt khác tự tin vào khả năng lãnh đạo của chính bản thân mình. Từ lịch sử
với những minh chứng sinh động, chân lý của lịch sử đã được rút ra: Một dân tộc
dù nhỏ bé nhưng nếu biết đoàn kết, kiên quyết chiến đấu với kẻ thù bằng một
đường lối đúng đắn và sáng tạo, dân tộc đó sẽ chiến thắng bất kỳ kẻ thù lớn mạnh
nào. Với niềm tin vào chân lý đó thực tế lịch sử đã cho thấy, cuối cùng chúng ta
đã chiến thắng đế quốc Mỹ.
9
Cũng chính nhờ nhận thức được tất cả những gì đã diễn ra trong bước đi
thăng trầm của lịch sử xã hội loài người mà trong bối cảnh phức tạp hiện nay, khi
hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và Đông Âu sụp đổ, khi kẻ thù với
lợi thế nhất thời đang tìm mọi cách chống phá cách mạng Việt Nam, thủ tiêu
phần còn lại của chủ nghĩa xã hội, Đảng và nhân dân ta vẫn kiên trì với con
đường đi lên xã hội chủ nghĩa, đồng thời tin tưởng vào sự thành công của chủ
nghĩa xã hội ở Việt Nam và cả trên phạm vi thế giới trong tương lai.
Kết luận lại, sử liệu với tư cách tồn tại khách quan, phản ánh một phần còn
lại của lịch sử đã diễn ra trong quá khứ có vai trò đặc biệt quan trọng trong nhận
kiện đọc sử liệu, đặc biệt là nắm vững các nguyên tắc đọc sử liệu. Trong khâu
phê phán sử liệu (đây là khâu quan trọng nhất trong quá trình xử lý sử liệu) đòi
hỏi phải tuyệt đối cẩn thận, thực hiện tỉ mỉ từng bước theo đúng nguyên tắc phê
phán cả bên ngoài (phê phán kênh thông tin) và phê phán bên trong (phê phán
thông tin) sử liệu với mục đích là xác định độ tin cậy và sự xác thực của nguồn sử
liệu nói chung và của thông tin chứa trong sử liệu nói riêng nhằm khôi phục lại
các sự kiện, các quá trình lịch sử một cách khách quan, chân thật.
Điều đặc biệt quan trọng đối với nhà nghiên cứu là trong quá trình nghiên
cứu phải quán triệt nguyên tắc tính Đảng, tính khoa học với những yêu cầu cụ thể
của nó.
Yêu cầu đầu tiên trong quá triệt nguyên tắc tính Đảng, tính khoa học là
không nên tuyệt đối hoá mặt nào, đồng thời cũng không đồng nhất tính Đảng,
tính khoa học là một. Một công trình lịch sử có chất lượng khoa học thấp thì cũng
không có thể có tính Đảng cao và ngược lại. Trong nhận thức, nghiên cứu lịch
sử, nếu coi thường sự thật lịch sử, không xuất phát từ hiện thực khách quan để
luận giải vấn đề, hiện tượng lịch sử thì không những làm giảm đi hàm lượng khoa
học của công trình, mà còn vi phạm nguyên tắc tính Đảng, gây tác hại đến quá
trình nhận thức, giải thích lịch sử.
Quán triệt nguyên tắc tính Đảng, tính khoa học trong nhận thức, nghiên cứu
lịch sử cần phải chống bệnh đơn giản, không coi trọng tư liệu, sử liệu. Nếu đơn
giản, xem nhẹ tư liệu, sử liệu, sử liệu sẽ dẫn đến giải thích sự kiện lịch sử đơn
giản, suy diễn theo ý muốn chủ quan của mình mới làm mất đi tính khách quan
khoa học, ngược lại, quán triệt nguyên tắc tính Đảng, tính khoa học cũng cần phải
chống bệnh chủ nghĩa minh hoạ lịch sử. Thực chất của căn bệnh này là không bắt
đầu từ việc nghiên cứu các sự kiện, các quá trình lịch để rút ra những kết luận
khoa học có tính thuyết phục, mà lại lấy một số mệnh đề có sẵn trong các tác
phẩm kinh điển Mác- Lê nin, Hồ Chí Minh, buộc mọi người thừa nhận cách làm
ấy dẫn đến bệnh giáo điều, sách vở, sao chép máy móc.
Quán triệt nguyên tắc tính Đảng, tính khoa học cũng đặt ra yêu cầu, không
cứu một lĩnh vực cụ thể nào đó (Ví dụ như các tư liệu về con số, tư liệu nhất
định, đánh giá một vấn đề). Tư liệu là kết quả của quá trình sưu tầm của các tổ
chức hay cá nhân bằng nhiều con đường khác nhau với nhiều ý đồ khác nhau, vì
thế khi sử dụng tư liệu, cần hết sức cẩn trọng và lưu ý đến định hướng chính trị
trong nội dung của tư liệu.
Ngoài những yêu cầu chung giống bất cứ một hoạt động nhận thức lịch sử
nào, trong nghiên cứu lịch sử Đảng cũng có những yêu cầu cụ thể mang tính đặc
thù của nó.
Phải trên cơ sở xác định đối tượng, mục tiêu, nhiệm vụ của khoa học lịch sử
Đảng để xác định chính xác nguồn sử liệu, chỉ có như vậy mới phát huy được vai
trò của nguồn sử liệu trong nhận thức và nghiên cứu. Mục đích cao nhất của công
tác sưu tầm, xử lý sử liệu lịch sử Đảng là để nghiên cứu sâu sắc hoạt động của
Đảng nhằm phục vụ cho quá trình hoạt động của Đảng, hoạt động của các tổ chức
chính trị và cho nhân ân. Sưu tầm, xử lý và sử dụng lịch sử Đảng trong nhận
thức, nghiên cứu vừa phải bảo đảm tính khách quan khoa học nhưng phải đặc biệt
chú ý đến định hướng chính trị của thông tin sử liệu nhằm bảo đảm tính Đảng của
khoa học lịch sử Đảng. Tính Đảng tính khoa học trong khoa học lịch sử Đảng cơ
bản là thống nhất với nhau, nhưng yêu cầu do bảo đảm tính Đảng trong nghiên
cứu khoa học lịch sử Đảng đòi hỏi cao ý thức của người nghiên cứu. Yêu cầu của
12
tính Đảng khi nghiên cứu, trình bày lịch sử Đảng phải xuất phát từ yêu cầu, mục
tiêu chính trị xã hội, phải đứng vững trên lập trường của giai cấp công nhân để
xem xét đánh giá mọi hiện tượng lịch sử, phát ngôn phải có nguyên tắc, công bố
kết quả nghiên cứu vào thời điểm nào, cho đối tượng nào, không thể tuỳ tiện theo
ý muốn chủ quan, mà phải tuân theo những quy định cụ thể. Yêu cầu của tính
khoa học là người nghiên cứu được tự do nghiên cứu, tranh luận, cọ xát thực tế,
kiểm tra thực nghiệm, để đánh giá kết quả nghiên cứu, tự do tư tưởng, tự do hoạt
động sáng tạo khoa học để phát hiện chân lý khách quan.
không biết nghiên cứư bằng cách nào, theo đường lối hay phương pháp nào để
13
tiến hành nghiên cứu, trong nghiên cứu lịch sử cần có thông tin hai nguồn hiện
tại .
Thông tin từ quá khứ, trong sử học người ta gọi là thông tin từ sử liệu. Bởi lẻ
thông tin đó không thể không qua sử liệu, còn thông tin hiện tại người ta gọi
thông tin ngoài sử liệu chúng ta có thể lập lập sơ đồ chi tiết các giai đoạn
nghiên cứu lịch sử từ chọn đề tài đến phân loại và phê phán sử liêụ đến khôi
phục sự kiện đến giải thích sự kiện đến giải đáp toàn bộ . Để nâng cao chất
lượng nhận thức lịch sử, chất lượng các công trình nghiên cứu khoa học, cần
phải kết hợp thực hiện nhiều biện pháp, yêu cầu khác nhau, trong đó cần chú ý
các bước cơ bản sau khi thu thập được các nguồn sử liệu . Tức là tiến hành phân
tích, đánh giá giám định và so sánh các nguồn sử liệu khác nhau trên cơ sở đó rút
ra những nguồn thông tin xác thực ; khôi phục sử kiện phê phán sử liệu xong,
chúng ta có được những thông tin đáng tin cậy, trên những thông tin đó chúng ta
tiến hành khôi phục lại sự kiện . Khôi phục lại sự kiện là trả lời cho câu hỏi cái gì
đả xẩy ra ; sau khi khôi phục sự kiện xong đòi hỏi chúng ta phải giải thích sự
kiện tức là trả lời câu hỏi tại sao lại xẩy ra như vậy ; cuối cùng là đi đến giải đáp
toàn bộ cho đề tài. Như vậy những những giải thích sự kiện có tính chất cá thể,
chúng ta đi đên đén giải đáp toàn bộ đề tài Nhìn chung mỗi một công trình
nghiên cứu hay một đề tài thường là thường di qua các bước như vậy ,và trong
các bước này, người nghiên cứu thường sử dụng đến các nguồn thông tin thông
tin từ sử liệu và thông tin ngoài sử liệu . Những nguồn thông tin này luôn ảnh
hưởng tới tất cả các giai đoạn . Nói cách khác bất cứ một bước nào của quy trình
nghiên cứu, nếu thiếu nguồn thông tin ( thông tin từ sử liệu và thông tin ngoài sử
liệu )những nguòn thông tin này luôn ảnh hưởng tới tất cả các quy trình nghiên
cứu, nếu thiếu nguồn thông tin đều dẫn tới sai lệch kết quả thậm chí bế tắc hoặch
thất bại . Do đó trong công tác sưu tầm, sử lý sử liệu, phát huy vai trò tích cực