Một số kinh nghiệm tạo hứng thú học tập phân môn luyện từ và câu thông
qua phương pháp trò chơi cho học sinh lớp 2.
MỤC LỤC
Contents
Contents.................................................................................................................1
1.Lý do chọn đề tài:..........................................................................................1
2. Cơ sở lý luận:.................................................................................................2
3. Cơ sở thực tiễn:.............................................................................................3
II. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU.............................................................................4
1. Điều tra thực trạng:............................................................................................4
1.1. Đặc điểm nội dung sách giáo khoa phân môn LTVC ở lớp 2........................4
1.2. Dự giờ khảo sát:.............................................................................................5
1.3. Phân tích nguyên nhân ...................................................................................6
2. Biện pháp thực hiện:..........................................................................................8
2.1. Về nhận thức của giáo viên............................................................................8
2.2. Về nội dung ...................................................................................................8
III. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU:...........................................................................19
A. DẠY THỰC NGHIỆM..................................................................................19
IV. KẾT LUẬN...........................................................................................25
I. ĐẶT VẤN ĐỀ:
1.Lý do chọn đề tài:
Trong xu thế đổi mới của nền giáo dục Việt Nam nói chung, giáo dục Tiểu
học nói riêng, đang tạo ra những chuyển dịch định hướng có giá trị. Cùng với
những môn học khác Tiếng Việt là môn học có nhiều sự đổi mới cả về mục đích, nội
dung và quan niệm dạy học. Bao gồm sáu phần môn Tiếng Việt có một vị trí đặc biệt
quan trọng. Nó là cơ sở để tiếp thu và lĩnh hội tri thức các môn học khác.
1
chơi, hoạt động chơi … từ đó các em lĩnh hội các tri thức sống động về thực tế
cuộc sống xung quanh và tri thức khoa học. Bởi “chơi” là được sống hết mình
và khác với hoạt động học. Các thành tích học tập cơ bản phụ thuộc vào bản
thân các em còn sự thắng thua trong trò chơi mang tính ngẫu nhiên. Các em
tham gia chơi với hy vọng chiến thắng và để khẳng định chính mình. Bên cạnh
đó trò chơi tạo cho bản thân các em sự thư giãn thoải mái, vui vẻ.
Áp dụng phương pháp trò chơi vào dạy phân môn LTVC là đưa học sinh vào
hoạt động vận dụng. Học sinh phải thể hiện chủ động, sáng tạo để phát hiện điều
cần học. Nó làm bớt đi sự căng thẳng khô khan không còn sự tẻ nhạt; đem đến
sự sôi nổi, ham mê, hấp dẫn, say sưa tìm hiểu khám phá và lĩnh hội tri thức
trong mỗi giờ học. Thành công của việc sử dụng trò chơi trong học tập là góp
phần đạt được mục tiêu giờ học. Bởi vậy để đảm bảo cho sự thành công việc sử
dụng trò chơi thì nội dung trò chơi phải gắn với mục tiêu bài học, luật chơi rõ
ràng đơn giản, dễ nhớ, dễ thực hiện, điều kiện - phương tiện tổ chức trò chơi
phong phú, chơi đúng lúc, đúng chỗ, đồng thời phải kích thích sự thi đua giành
phần thắng giữa các đội tham gia.
3. Cơ sở thực tiễn:
Việc áp dụng phương pháp trò chơi để gây hứng thú vào giờ dạy LTVC
chính là việc giáo viên khơi dậy hứng thú, niềm say mê học tập tạo không khí
sôi nổi cho một giờ học. Điều đó đòi hỏi giáo viên phải xác định rõ yêu cầu đạt.
Trên cơ sở đó xác định cần đưa trò chơi vào lúc nào, bài tập nào ? Nếu giáo viên
không tổ chức tốt thì trò chơi không gặt hái được kết quả như mong muốn mà
còn bị phản tác dụng gây sự mất trật tự trong giờ học. Thực tế ở trường tiểu học
nơi tôi đang công tác có bốn lớp 2, trong quá trình dạy học mỗi giáo viên đều
tích cực đổi mới phương pháp để đạt hiệu quả giờ dạy cao nhất. Song qua dự
giờ, thăm lớp tôi nhận thấy có giờ dạy đã tổ chức đến 3 hoạt động khác nhau mà
không khí giờ học vẫn trầm lắng. H/s ít tích cực, không sôi nổi chủ động tìm tòi
phát hiện kiến thức. Bên cạnh đó có giờ dạy giáo viên lạm dụng ba trò chơi học
hiểu biết sơ giản. Thay vì học kiến thức lý thuyết các thành phần chính của câu,
các kiểu câu h/s lớp 2 được hướng dẫn đặt câu theo kiểu Ai (con gì, cái gì) là
gì ? Ai (con gì, cái gì) làm gì ? Ai (con gì, cái gì) như thế nào ? Thay vì học các
kiến thức lý thuyết về trạng ngữ h/s lớp 2 được học cách đặt câu và trả lời câu
4
hỏi khi nào ? ở đâu ? Vì sao ? Nhận biết các dấu kết thúc câu kể, câu hỏi, câu
cầu khiến, câu cảm (dấu chấm, dấu hỏi, dấu chấm than) và dấu phẩy đặt ở giữa
câu để tách ý. Ở đây sách không yêu cầu h/s biết các khái niệm chủ ngữ, vị ngữ,
trạng ngữ, câu kể, câu hỏi, câu cầu khiến, câu cảm mà chỉ yêu cầu h/s hiểu đó là
các bộ phận để tạo câu; hiểu ý nghĩa của câu như thế nào thì thích hợp với một
dấu kết thúc câu ấy.
Như vậy kiến thức trong bài LTVC chủ yếu là rèn kỹ năng dùng từ, đặt
câu. Bên cạnh đó sách giáo khoa có cung cấp một số thuật ngữ như: từ trái
nghĩa, cụm từ, câu …. Nhưng không đòi hỏi h/s phải nắm được định nghĩa,
thông qua hàng loạt hình ảnh biểu tượng ở các dạng bài tập khác nhau. Xét theo
mục đích của bài tập, sách có các loại bài tập LTVC như sau:
Bài tập nhận diện từ và câu
Bài tập tạo lập từ và câu
Bài tập sử dụng dấu câu
Vậy hướng dẫn học sinh giải các bài tập LTVC ra sao, giờ dạy học như thế
nào để có hiệu quả cao. Tôi đã tiến hành điều tra việc dạy học của thầy trò hai
lớp 2A và 2B tại trường tôi.
1.2. Dự giờ khảo sát:
Ngày 27/9/2013 dự giờ lớp 2A
Tiết 3: Từ chỉ sự vật. Câu kiểu Ai là gì ?
Nhận xét: giáo viên lần lượt hướng dẫn h/s đi giải 3 bài tập (SGK trang
26, 27). Phương pháp giảng đơn điệu chỉ là thầy hỏi h/s trả lời. lớp nhận xét,
SL:
Trung bình
%
7
20
SL:
%
13
37,1
Yếu
SL:
5
%
14,3
Như vậy kết quả học sinh đạt điểm khá, giỏi là không nhiều, đồng thời
vẫn còn nhiều h/s điểm yếu. Kết quả học tập của học sinh đạt được do nhiều
nguyên nhân khách quan và chủ quan đem tới. Song một điều tôi thấy rằng do
tiết học tẻ nhạt, không có sự sôi động như vốn sống của học sinh, tạo ra tâm lý
chán hoặc sợ hãi. Chính áp lực tâm lý này làm kiến thức giáo viên đưa ra học
sinh tiếp thu chưa được cao.
là gì ?
là học sinh lớp 2A
- Giáo viên ghi mẫu lên bảng phân tích mẫu.
- Học sinh thảo luận nhóm .
Nhiều nhóm báo cáo trước lớp. Giáo viên nhận xét, sửa ý, câu….
- Học sinh làm bài vào vở - giáo viên chấm, chữa bài.
- Giáo viên chốt kiến thức
Như vậy ba hoạt động với các hình thức tổ chức khác nhau nhưng không
khí giờ học vẫn diễn ra một cách nặng nề vì học sinh phải làm việc không chút
thư giãn.
* Cũng có trường hợp giáo viên quá lạm dụng phương pháp trò chơi vào dạy
học dẫn đến cả một giờ, học sinh luôn trong tâm trạng phân kích thái quá. Mặt
khác do giáo viên tổ chức không “khéo” làm cho sự cổ vũ mạnh mẽ quá mức
cần thiết. Tất cả những điều đó sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến mạch kiến thức trong
7
bài và những lớp ở xung quanh. Ví dụ: Khi dạy bài: Từ chỉ sự vật. Câu kiểu Ai
là gì?
Giáo viên đưa vào bài tới 3 trò chơi. Riêng trò chơi ở bài tập 1 do giáo
viên chia lớp thành hai nhóm để thi đua, mỗi nhóm 8 học sinh nối tiếp tham gia.
Các thành viên còn lại cổ vũ. Do vậy tiếng “Cố lên” ầm cả những lớp xung
quanh.
Giáo viên chưa nắm bắt được biện pháp tổ chức trò chơi học tập trong giờ
Luyện từ và câu có hiệu quả. Thông thường giáo viên cho học sinh chơi theo
hình thức (4 - 5 h/s) mà các học sinh được tham dự là học sinh khá - giỏi. Sau,
thu được kết quả của yêu cầu trò chơi giáo viên chốt lại kiến thức bài thi có đến
1/3 số học sinh không nắm được kiến thức vì đó là những học sinh trung bình
h/s yếu (đối tượng cổ vũ trong trò chơi).
+ Luật chơi: Giáo viên chỉ định một học sinh ở nhóm A nói được từ theo
yêu cầu. Rồi h/s A1 chỉ 1 bạn bất kỳ B1, h/s B1 nói nhanh từ tìm được rồi chỉ
bất kỳ A2 nêu tiếp … Cứ như vậy cho tới hết lớp.
Trường hợp bạn bị chỉ định không nêu được từ theo yêu cầu hoặc nói từ
trùng lặp sẽ nói “chuyển” để bạn khác cùng nhóm (đứng cạnh, tiếp sức, mỗi lần
như vậy nhóm nào có h/s nói “chuyển” thì nhóm đó bị (trừ) 1 điểm phạt, nhóm
nào nhiều điểm phạt là nhóm bị thua.
- Trò chơi được áp dụng ở các bài:
Bài 1: (Tuần 7 - 59/TV2 - I). Kể tên các môn học ở lớp 2
Bài 2 (Tuần 10 - trang 82). Kể thêm các từ chỉ người trong gia đình họ hàng mà
em biết.
Bài 1 (Tuần 13 - trang 108). Kể tên những việc em đã làm ở nhà giúp cha mẹ.
Bài 2 (Tuần 15 - trang 122). Tìm những từ chỉ đặc điểm của người và vật.
Bài 2 (Tuần 26 - trang 74). Kể tên các con vật sống ở dưới nước. Mẫu: tôm, sứa,
ba ba …
Bài 1 (Tuần 28 - trang 87). Kể tên các loài cây mà em biết theo nhóm:
9
a. Cây lương thực, thực phẩm
Mẫu: lúa
b. Cây ăn quả
Mẫu: cam
c. Cây lấy gỗ
Mẫu: xoan
(học sinh, nhà, xe đạp, múa, trường, chạy, hoa hồng, cô giáo)
Mẫu 1: 1 trường học, 5 hoa hồng
Bài 1 (tuần 3 - trang 26). Tìm những từ chỉ sự vật (người, đồ vật, con vật,
cây cối …) được vẽ dưới đây.
Bài 1 (Tuần 17 trang 142). Chọn cho mỗi con vật dưới đây mỗi từ chỉ
đúng đặc điểm của nó: nhanh, chậm, khoẻ, trung thành.
Bài 1 (Tuần 22 - trang 35). Nói tên các loài chim trong những tranh sau:
(đại bàng, cú mèo, chim sẻ, sáo sậu, cò, chào mào, vẹt).
Bài 1 (Tuần 24 - trang 55). Chọn cho mỗi con vật trong tranh vẽ bên một
từ chỉ đúng đặc điểm của chúng: tò mò, nhút nhát, dữ tợn, tinh ranh, hiền lành,
nhanh nhẹn.
(3). Trò chơi: Kẻ giấu mặt là ai ?
- Mục đích: + Mở rộng vốn từ, gọi tên được sự vật ẩn trong tranh
+ Luyện kỹ năng quan sát, óc tưởng tượng
- Chuẩn bị: + Tranh phóng to trong bài
+ 3 giấy tô ki khổ to, bút dạ, nam châm (băng dính).
- Cách chơi: chia lớp thành 3 nhóm
+ Nêu yêu cầu: Kẻ giấu mặt trong mỗi bức tranh là đồ vật ẩn chứa trong bức
tranh đó.Nhiệm vụ của các em là tìm ra những đồ vật đó, số lượng là bao nhiêu?
+ Luật chơi: Trong một khoảng thời gian nhất định, khi có hiệu lệnh của
giáo viên, h/s quan sát tranh và ghi ra giấy tên các đồ vật đã quan sát được và số
lượng mỗi loại. Hết thời gian, các nhóm đính kết quả lên bảng, một bạn đại diện
nhóm đọc to kết quả. Giáo viên là trọng tài phân xử nhóm thắng cuộc dựa vào
kết quả đồ vật mà các nhóm gọi tên được.
- Trò chơi vận dụng được vào các bài tập
Bài 3 (Tuần 6 - trang 52). Tìm các đồ dùng học tập ẩn trong các tranh sau.
Cho biết mỗi đồ vật ấy được dùng để làm gì.
11
bài và số hoa phải có 2 màu khác nhau, gấp 2 lần số từ).
+ Cách chơi: Giáo viên chia lớp thành 2 nhóm và nêu yêu cầu: Phân
nhanh các nhóm từ.
12
+ Luật chơi: Trong khoảng thời gian quy định (có thể là 2 phút), học sinh
của các nhóm tiếp sức nhau dán hoa dưới các từ giáo viên đã viết sẵn lên bảng,
dán hoa màu xanh vào nhóm 1, dán hoa màu đỏ vào nhóm 2. Nhóm nào đúng và
nhanh hơn là thắng cuộc.
- Trò chơi vận dụng được ở các bài tập sau:
Bài 1 (Tuần 23 - trang 45). Xếp tên các con vật dưới đây vào nhóm thích
hợp.
a. Thú dữ, nguy hiểm
Mẫu: hổ
b. Thú không nguy hiểm
Mẫu: thỏ
(hổ, báo, gấu, lơn nòi, chó sói, sư tử, ngựa vằn, bò rừng, khỉ, vượn, tê
giác, sóc, chồn, cáo, hươu).
Bài 1 (Tuần 26 - trang 73). Hãy xếp tên các loài cá vẽ dưới đây vào nhóm
thích hợp:
a. Cá nước mặn (cá biển)
Mẫu: cá nục
nghĩa với nó:
a. trẻ con
b. cuối cùng
c. xuất hiện
d. bình tĩnh
Mẫu: Trẻ con trái nghĩa với người lớn
(7). Trò chơi: Thi đặt câu theo mẫu
- Mục đích:
+ Rèn kỹ năng nói viết đúng các mẫu câu Ai là gì ? (Ai làm gì ? Ai thế
nào ?); có sự tương hợp về nghĩa giữa hai thành phần của câu.
+ Luyện óc so sánh liên tưởng nhanh, tác phong nhanh.
- Cách chơi: + Giáo viên nêu yêu cầu: Đặt câu theo mẫu Ai là gì ? (Ai làm
gì ? Ai thế nào ?).
+ Luật chơi: Giáo viên hô Ai ? (Hoặc cái gì ? con gì ? cây gì ?) rồi chỉ
định h/s một. Nếu học sinh 1 trả lời đúng, giáo viên lại hô tiếp là gì ? (hoặc làm
gì ? như thế nào ?) tuỳ theo yêu cầu của bài rồi chỉ h/s 2. Học sinh 2 trả lời câu
hỏi của giáo viên nhưng nội dung phải phù hợp với nội dung từ ngữ h/s 1 đã đưa
14
ra. Ai trả lời đúng, nhanh sẽ được tuyên dương, ai không trả lời được sẽ phải
đúng nguyên, không được ngồi khi trò chơi kết thúc.
- Trò chơi có thể vận dụng ở các bài tập:
Bài 3 (Tuần 3 - trang 26). Đặt câu theo mẫu dưới đây:
Ai (hoặc con gì, cái gì)
sánh đúng. Có biểu tượng về hình ảnh so sánh.
+ Luyện phản ứng nhanh, óc liên tưởng, trí tưởng tượng.
- Chuẩn bị: Tranh vẽ các hình ảnh dùng để so sánh.
- Cách chơi:
+ Giáo viên nêu yêu cầu: Nhìn hình đoán chữ
15
+ Luật chơi: Giáo viên treo tranh có hình ảnh so sánh. H/s nhận biết các
sự vật có trong tranh từ đó liên tưởng tới hình ảnh so sánh. Học sinh nêu được so
sánh đúng thì giáo viên cất hình ảnh đó đi treo hình ảnh khác. Nếu học sinh
không nêu được thì giáo viên tiếp tục gợi ý để học sinh đoán.
- Trò chơi vận dụng trong các bài tập.
Bài 2 (tuần 17 tr 143). Thêm hình ảnh so sánh vào sau mỗi từ dưới đây.
- Đẹp, cao, khoẻ.
- Nhanh, chậm, hiền.
- Trắng, xanh, đỏ.
Mẫu: đẹp → đẹp như tiên.
Bài 2 (tuần 24 tr 55). Hãy chọn tên con vật thích hợp với mỗi chỗ trống dưới
đây.
a. Dữ như….
b. Nhát như…..
c. Khoẻ như….. d. Nhanh như…
(Thỏ, voi, hổ (cọp), sóc)
(2)Trò chơi: Tìm nhanh từ trong các câu thơ (văn)
- Mục đích:
+ Mở rộng vốn từ và củng cố cách sử dụng từ hơp nghĩa.
1
Em, chị em
Linh, cậu bé
2
3
quét dọn, giặt
nhà cửa, sách vở
xếp, rửa
bát đũa, quần áo
Ai
Mẫu: em
Làm gì
Quét dọn nhà cửa
Bài 2 (tuần 14 tr 116). Sắp xếp các từ ở ba nhóm sau thành câu
1
Anh, chị, em
Chị em, anh em
2
3
Anh, chị, em
khuyên bảo
anh, chị, em
chị em
chăm sóc
nhau
anh em
trông nom
giúp đỡ
Ai
Làm gì
Mẫu: Chị em
Giúp đỡ nhau
Các thao tác hướng dẫn học sinh
+ Tôi chép sẵn các nhóm từ 1, 2, 3 lên bảng
+ Che nhóm 1, 3 bằng hai tờ giấy màu, nhóm 2 gắn mỗi từ một bông hoa
(màu khác nhau).
? Các từ này thường trả lời cho câu hỏi nào? (câu hỏi ai?)
+ Tôi bỏ băng giấy mở nhóm từ 3 yêu cầu học sinh đọc.
+ Sau đó đến lúc này tôi mới yêu cầu: Sắp xếp từ ở 3 nhóm thành một câu theo
mẫu Ai làm gì?
Với cách đưa trò chơi vào củng cố nghĩa, từ loại của một nhóm từ này sẽ
giúp học sinh hiểu sâu bài, giờ học cũng bớt đi sự gò bó áp đặt khuôn thước do
kiến thức mẫu đưa ra.
Có thể nói để phương pháp trò chơi thực sự có hiệu quả trong giờ học
luyện từ và câu ở lớp 2 thì mỗi giáo viên phải lựa chọn trò chơi hay và hiệu quả
nhất cho mỗi bài dạy. Trong một tiết giáo viên không nên tổ chức quá 2 trò chơi
song cũng có bài chỉ cần tổ chức một trò chơi. Đổi mới trò chơi vận dụng để giải
bài tập giáo viên chỉ được tổ chức một lần trong tiết dạy. Cần phối hợp liên
hoàn, linh hoạt và sáng tạo giữa các phương pháp truyền thống, hiện đại và trò
chơi để tiết học sôi nổi, hứng thú và hiệu quả.
III. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU:
A. DẠY THỰC NGHIỆM.
* Tự thuật một kế hoạch bài dạy (dạy lớp 2A)
(Ngày dạy: 28/10/2013)
Tiết 23: Từ ngữ về muông thú. Đặt và trả lời câu hỏi Như thế nào?
I. Mục tiêu:
- Xếp được tên một số con vật theo nhóm thích hợp (BT1).
19
- Biết đặt và trả lời câu hỏi có cụm từ “Như thế nào?” (BT2, BT3)
- Học sinh yêu thích môn học, kích thích sự tìm tòi, ham hiểu biết về các
loài thú.
II. Đồ dùng dạy học.
- 4 tờ tô ki có ghi tên các con vật trong bài 1 (tr 45)
a. Giới thiệu: Trong tiết học trước các em
đã được mở rộng vốn từ về các loài chim.
Tiết học hôm nay sẽ giúp các em tiếp tục
được mở rộng vốn từ về loài thú sống
trong rừng qua việc tìm hiều một số đặc
điểm của chúng. Đồng thời tiết học này sẽ
dạy các em đặt câu và LTVH có cụm từ
“Như thế nào?”
Giáo viên ghi đầu bài
b. Hướng dẫn làm bài tập
Bài 1: Xếp các con vật dưới đây vào
nhóm thích hợp
20
a. Thú dữ, nguy hiểm
Đọc tên bài + mở sách giáo khoa
Mẫu: Hổ
b. Thú không nguy hiểm. Mẫu: Thỏ
- Giáo viên cho học sinh chơi trò: Phân
nhanh các nhóm từ (thời gian chơi: 2
phút)
- Giáo viên yêu cầu: N1 + N2: Dán hoa
màu xanh dưới tên thú dữ, nguy hiểm.
- Lớp chia 4 nhóm, mỗi nhóm nhận
cáo, hươu
Kết luận nhóm nhanh, đúng thắng cuộc.
- Giảng: Đây là tên các loài thú sống
trong rừng. Thú dữ, nguy hiểm là những
con thú mà thức ăn của chúng là thịt các
con động vật khác có khi chúng còn tấn
công ăn thịt cả con người, còn thú không
nguy hiểm là con thú bản tính thường hiền
lành thức ăn là cỏ cây hoa, lá không gây
hại cho con người.
? Kể tên loài thú khác mà em biết không
21
- 1 học sinh đọc to
- Lớp vỗ tay khen thưởng
có tên trong bài và xem xét đó là thú dữ - Học sinh khá, giỏi có thể kể thêm.
hay thú không dữ?
Giáo viên chốt kiến thức bài và liên hệ
cách bảo vệ các loài thú
Bài 2: Giáo viên nêu đề bài.
- Yêu cầu thảo luận nhóm 2.
-Học sinh đọc thầm bài
(giáo viên gợi ý học sinh nên trả lời thành - Các nhóm thảo luận
câu)
(bạn hỏi bạn trả lời)
câu hỏi cho từ in đậm”
? Nêu từ in đậm trong câu?
“Rất khoẻ”
? Từ “rất khoẻ” nêu đặc điểm về việc gì - “Việc cày của con trâu”
của con trâu?
? Để hỏi về việc đó, ta hỏi như thế nào?
“Trâu cày như thế nào?”
Các câu khác học sinh làm vở
- 1 học sinh lên bảng chữa
22
- Thu chấm 1 số bài, nhận xét
- Giáo viên nhận xét bài trên bảng, chốt
lời giải đúng.
Câu
Câu hỏi
a. Trâu cày rất khoẻ
a. Trâu cày như thế nào?
chim, loài thú và các đặc điểm của chúng.
4. Hướng dẫn tự học: Tìm hiểu các loài
thú qua (sách, báo…) và chuẩn bị bài sau
Tiết 24
23
nào thuộc loài thú.
B. KHẢO SÁT:
Đề bài (thời gian 6’)
Câu 1 (5 đ): Nối lên các con thú với đặc điểm của chúng:
Hổ
hiền lành
Nai
hung dữ
Cáo
nhanh nhẹn
Sóc
ranh mãnh
Câu 2(5đ): Gạch chân dưới bộ phận trả lời cho câu hỏi Như thế nào? trong mỗi
câu sau:
a. Bạn Mai rất ngoan
b. Cái áo này đẹp quá.
* KẾT QUẢ
Lớp
Kết quả
là một hướng đi đúng góp phần nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện học sinh
mở ra một triển vọng tốt đẹp trong mông Tiếng Việt nói chung, phân môn luyện
từ và câu nói riêng,
4. Bài học kinh nghiệm.
Trong quá trình nghiên cứu và vận dụng phương pháp trò chơi để gây
hứng thú tạo hiệu quả cho giờ học luyện từ và câu ở lớp 2, tôi nhận thấy:
Trước hết người giáo viên phải có tâm huyết với nghề, luôn tìm tòi, học
hỏi, trao đổi kiến thức, cập nhật những vấn đề mới của xã hội.
24
Cần khơi dậy hứng thú học tập, lòng say mê thích học hỏi của học sinh.
Làm cho học sinh cảm thấy mỗi giờ học là một buổi tham quan kỳ thú. Không
nên gò ép các em theo một khuôn thước nhất định. Biết trân trọng và phát huy
tính sáng tạo của học sinh.
Cần phối kết hợp các phương pháp trong quá trình dạy học. Cần coi trọng
phương pháp trò chơi và phát huy tối đa tiềm lực của phương pháp này trong
dạy học phân môn luyện từ và câu. Tuy nhiên khi vận dụng phương pháp trò
chơi vào dạy học giáo viên cần chú ý:
Trò chơi phải góp phần thực hiện được mục tiêu bài học.
Trò chơi phải được chuẩn bị kỹ, chu đáo phù hợp với đối tượng học sinh
(về thẩm mỹ và nội dung)
Luật chơi rõ ràng, đơn giản, dễ nhớ, dễ thực hiện.
Không nên lạm dụng trò chơi. Chỉ nên chọn 1 trò chơi hay áp dụng cho 1
bài. Trong 1 tiết chỉ nên tổ chức từ 1 đến 2 trò chơi. Tuyệt đối tránh hiện tượng
tổ chức 2 trò chơi trong 1 bài tập. Sử dụng trò chơi đúng lúc, đúng chỗ.
Giáo viên cần “khéo” tổ chức trò chơi để trò chơi học tập mang đúng
nghĩa của nó: Học mà chơi, chơi mà học. Giáo viên cần kích thích sự thi đua
giành phần thắng giữa các bên tham gia.