ỨNG DỤNG một số TRÒ CHƠI vận ĐỘNG NHẰM PHÁT TRIỂN tố CHẤT THỂ lực CHO học SINH KHÔI 4, 5 TRƯỜNG TIỂU học - Pdf 42

I. ĐẶT VẤN ĐỀ
Sức khỏe được coi là vốn quý giá của con người. Thiếu sức khỏe là thiếu
hạnh phúc, thiếu tinh thần sáng suốt. Quan tâm và chăm sóc tới sức khỏe con
người chính là quan tâm đến sự phát triển mọi mặt, không chỉ đối với mọi
người, mọi gia đình mà còn là cả dân tộc, quốc gia và toàn nhân loại. Chỉ thị số
36/CT/TW ngày 24/03/1994 của Ban Bí thư TW Đảng cộng sản Việt Nam về
công tác TDTT trong giai đoạn mới đã khẳng định phương hướng "Phát triển thể
dục thể thao là bộ phận quan trọng trong chính sách phát triển kinh tế - xã hội
của Đảng và Nhà Nước, nhằm phát huy nhân tố con người, công tác thể dục thể
thao phải góp phần tích cực nâng cao sức khỏe, thể lực, giáo dục nhân dân, đạo
đức lối sống lành mạnh làm phong phú đời sống tinh thần của nhân dân và phấn
đấu đạt vị trí xứng đáng trong hoạt động thể thao quốc tế trong sạch về mặt đạo
đức, phong phú về mặt tinh thần, hoàn thiện về mặt thể chất". Đó là mục tiêu
của toàn Đảng, toàn dân ta và là điều bác Hồ mong muốn.
Mỗi môn thể thao đều mang lại cho riêng nó những đặc điểm, những tính
ưu việt khác nhau, tùy thuộc vào khả năng, năng lực, điều kiện hoàn cảnh của
mỗi người sẽ chọn môn phù hợp để tập luyện nhưng cho dù tập bất kỳ môn thể
thao nào thì yếu tố "thể lực" luôn được xem là nền tảng quyết định trực tiếp đến
sự tập luyện thành công của vận động viên.
Trong TDTT thể lực của mỗi vận động viên được thể hiện qua các tố chất
vận động: sức nhanh, sức mạnh, sức bền, sức mềm dẻo, linh hoạt khéo léo. Do
đó phát triển các tố chất vận động trên cũng chính là phát triển và nâng cao thể
lực của vận động viên. chất lượng kết quả huấn luyện được thể hiện qua thành
tích của vận động viên. Thành tích trong môn TDTT phụ thuộc vào trình độ phát
triển toàn diện thể lực của vận động viên. Nội dung chính của nhiệm vụ chuẩn bị
thể lực là phát triển sức bền, sức mạnh, sức nhanh. Những tố chất đó là tiền đề
quan trọng trong thành tích thể thao đỉnh cao. Cơ sở để phát triển các tố chất, đó
là khả năng chịu đựng cao đối với các yêu cầu của lượng vận động, khả năng
này phải được xây dựng một cách hệ thống trong thời gian dài. Nếu chỉ số về
trình độ thể lực của vận động viên phát triển chứng tỏ có hiệu quả. Khi trình độ
1

- Địa điểm nghiên cứu: Tại trường Tiểu học Quyết Thắng - Mạo Khê Đông Triều - Quảng Ninh.
1. Cơ sở lí luận.
2


Trong sự nghiệp đổi mới do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo nhằm dân
giàu, nước mạnh, xã hội công bằng và văn minh. Thì yếu tố con người luôn
chiếm vị trí quan trọng hàng đầu. Chủ tịch Hồ Chí minh đã chỉ rõ “Muốn có chủ
nghĩa xã hội phải có con người chủ nghĩa xã hội”. Trong hình mẫu và phẩm chất
con người, sức khoẻ và thể chất chiếm vị trí hết sức quan trọng để đáp ứng yêu
cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Do đó thể dục thể thao là một bộ phận của nền
giáo dục xã hội chủ nghĩa, nó tổng hợp các phương tiện, phương pháp nhằm tạo
nên những con người phát triển toàn diện, hài hoà, đặc biệt hoạt động thể dục
thể thao là một trong những hình thức cơ bản, chuẩn bị thể lực phục vụ cho lao
động và các hoạt động khác.
Vì thế mỗi quốc gia đều chú trọng đến công tác thể dục thể thao và đưa
nền TDTT nước mình lên đỉnh cao nhất cũng như giữ vững và phát triển những
môn TDTT mang tính bản sắc dân tộc. Kinh nghiệm của các nước phát triển cho
thấy rằng “Truyền thống dân tộc là một trong những động lực thúc đẩy sự phát
triển của đất nước”. TDTT là một lĩnh vực của nền văn hoá vì vậy nó cũng mang
tính dân tộc đậm nét, ở Việt Nam cũng đã trải qua hàng nghìn năm các môn thể
thao dân tộc như: Vật, đua thuyền, đánh đu…. vẫn tồn tại và trở thành một nội
dung hấp dẫn trong các dịp lễ hội của dân tộc.
Trong công tác ngoại giao TDTT có chức năng là nhịp cầu nối giao lưu,
nối tình hữu nghị và thắt chặt tình đoàn kết giữa các dân tộc, các quốc gia trên
thế giới. Thông qua việc thi đấu thể thao giữa các quốc gia trên thế giới có sự
trao đổi tiếp thu tinh hoa của nhau, qua đó tìm hiểu học tập, giúp đỡ lẫn nhau
đưa thế giới vào cuộc sống hoà bình đầy tình hữu nghị.
Ngày nay đất nước đang đi trên con đường CNH- HĐH với khẩu lệnh
“Khoẻ để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”. Hiểu được ý nghĩa tác dụng của việc

tập, đồng thời là phương pháp, phương tiện rèn luyện sức khoẻ. Giáo dục đạo
đức cho học sinh đạt kết quả cao, được trẻ yêu thích, hầu hết các trò chơi vận
động được sử dụng trong giáo dục thể chất đều mang tính mục đích rõ ràng.
Trong quá trình chơi trò chơi học sinh tiếp súc với nhau, cá nhân phải hoàn
thành nhiệm vụ của mình trước tập thể ở mức độ cao, tập thể có nhiệm vụ của
mình trước tập thể ở mức độ cao, tập thể có nhiệm vụ động viên giúp đỡ cá nhân
hoàn thành nhiệm vụ. Vì vậy tình bạn, lòng nhân ái, tinh thần tập thể…được
hình thành cũng trong quá trình chơi, xây dựng cho các em học sinh tác phong
4


khẩn trương, nhanh nhẹn, tính kỉ luật, sự sáng tạo để hoàn thành với chất lượng
cao.
Trò chơi vận động nhằm phát triển tố chất thể lực cho học sinh là vô cùng
cần thiết và chiếm một vị trí quan trọng vì ở lứa tuổi này quá trình thần kinh
hưng phấn chiếm ưu thế hơn nên các em rất hiếu động, do vậy quá trình phát
triển thể lực của các em cần sử dụng các bài tập đa dạng với các hình thức tập
luyện phong phú, các nhà khoa học cho rằng: “Khi phát triển thành tích đỉnh cao
phải có trình độ học tập tốt, muốn có thể lực tốt chỉ có một con đường duy nhất
là thông qua quá trình tập luyện lâu dài, liên tục, có hệ thống, có khoa học mới
đảm bảo các tố chất thể lực phát triển tốt ”, song mỗi tố chất thể lực mang đặc
trưng “Nhanh, mạnh, bền, khéo léo”, đóng một vai trò quan trọng trong việc
nâng cao thành tích của các môn TDTT. Việc phát triển thể thao đối với trẻ em
được đặc biệt quan trọng vì nó là nền tảng cho việc tăng cường sức khoẻ và giáo
dục đối với thế hệ trẻ.
II. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
1. Mục đích nghiên cứu.
Mục đích của đề tài này là tìm ra được hệ thống những bài tập trò chơi
vận động nhằm phát triển tố chất thể lực cho học sinh và ảnh hưởng của trò chơi
vận động có tác dụng đến sự phát triển thể lực của học sinh.

mạnh khỏe... góp phần cho cả nước mạnh khỏe”, “... Dân cường thì nước thịnh.
Tôi mong đồng bào bào ta ai cũng gắng tập thể dục. Tự tôi ngày nào cũng tập.”
Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm đến mục tiêu giáo dục toàn diện cho thế hệ
trẻ. Trong văn kiện Đại Hội Đảng lần thứ VII nêu rõ “Giáo dục đào tạo cùng với
khoa học và công nghệ phải thực sự trở thành quốc sách hàng đầu, chuẩn bị tốt
hành trang cho thế hệ trẻ đi vào thế kỉ 21” và khẳng định: “Sự cường tráng về thể
chất là nhu cầu của bản thân con người, đồng thời là vốn quí để tạo ra tài sản trí tuệ
và vật chất cho xã hội”.
Chỉ thị 36 CT/TW của Ban Bí Thư TW Đảng: “Thực hiện GDTC trong tất
cả các trường học, làm cho việc tập luyện TDTT trở thành nếp sống hằng ngày
cho hầu hết học sinh sinh viên và các tầng lớp nhân dân trong cả nước”.

6


Điều 41 Hiến pháp nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam năm 1992
cũng nêu rõ: “Việc dạy và học thể dục là bắt buộc trong nhà trường”.
* Tóm lại: Qua những chỉ thị, nghị quyết, thông tư của Đảng, nhà nước
chứng tỏ các cấp chính quyền rất quan tâm đến công tác giáo dục thể chất của
học sinh nói riêng, và nhân dân nói chung, tạo những điều kiện thuận lợi nhất để
các em phát triển toàn diện về Đức – Trí - Thể – Mĩ, góp phần cải tạo nòi giống,
đáp ứng được yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
b. Khái quát về các công trình nghiên cứu liên quan.
Ở nhiều nước, giờ học thể dục là một bộ phận không thể thiếu được trong
nhà trường và nó được tiến hành không dưới 3 tiết/ tuần.
Chương trình học thể dục ở Việt Nam từ những năm 1991 đã áp dụng cho
tất cả các học sinh là 2 tiết/tuần (chỉ riêng khối lớp 1 các em học 1 tiết/tuần) và
những hoạt động thể dục thể thao khác đã phần nào nâng cao được chất lượng
giáo dục thể chất. Rất nhiều đề tài nghiên cứu trong những năm qua ở nước ta
cũng đã đề cập đến sự phát triển thể lực ở học sinh như:

nội dung của nó phải thể hiện hoàn chỉnh các vốn tri thức sau:
- Hệ thống tri thức về hiểu biết tác dụng phong phú của thiên nhiên tới
việc nâng cao, bảo vệ sức khoẻ (Không khí, Ánh sáng, Môi trường,…).
- Hệ thống tri thức cơ bản về vệ sinh (Cơ thể, Lao động, Học tập, Vui
chơi,…).
- Hệ thống tri thức cơ bản về phòng bệnh (Bệnh học đường, Cận thị, Cong
vẹo cột sống,…).
- Hệ thống tri thức cơ bản về phương pháp tập luyện TDTT hiện đại và
dân tộc (Trò chơi, kĩ thuật TDTT,…).
Trong đó hệ thống tri thức cơ bản về phương pháp tập luyện TDTT và trò
chơi có ý nghĩa to lớn.
Đối với trẻ em trò chơi là một nhu cầu không thể thiếu, là thế giới thu nhỏ
của các em. Thông qua trò chơi, trẻ em được chuẩn bị từng bước để đi vào cuộc
sống xã hội. Trò chơi là một nội dung quan trọng để thực hiện chức năng chuẩn
bị thế hệ trẻ làm quen với đời sống cho mỗi xã hội. Do vậy, không thể đối lập
hoặc tách rời giữa việc học và chơi của trẻ.
8


Xuất phát từ thực trạng trên nghiên cứu ứng dụng các bài tập trò chơi vận
động cho trẻ em học sinh Tiểu học là một cộng việc hết sức cần thiết. Mục đích
của đề tài này là khai thác hiệu quả nội dung tổ chức các trò chơi vận động, phát
triển thể chất cho các em, đa dạng hoá các loại hình TDTT trong nhà trường.
4. Đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi học sinh Tiểu học (10 đến 12 tuổi) và đặt
điểm các phương pháp giảng dạy thể dục, trò chơi vận động.
a. Đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi từ 10 đến 12 tuổi.
Các em học sinh TH ở độ tuổi từ 10 đến 12, việc lựa chọn bài tập thể dục
và trò chơi có vận động hợp lý với lứa tuổi này là rất quan trọng. Do vậy đòi hỏi
người giáo viên cần nắm vững đặc điểm tâm sinh lý và tâm lý lứa tuổi này.
Hệ thần kinh: Quá trình thần kinh đã có sức mạnh và sự ổn định, các

thực hiện động tác hoặc sử dụng theo kiểu soi gương thì phải giải thích cho các
em biết như :(Thầy bước chân phải thì các em nhìn theo và bước chân trái ). Tri
giác về nhịp độ có đặc điểm riêng khi làm sai không tự nhận thấy mà chỉ nhờ
nhịp điệu mới hoàn thành.
Khả năng tập trung chú ý: Ở lứa tuổi này chú ý không chủ định chiếm
ưu thế sức tập trung, chú ý thấp. Tuy nhiên cũng có nhiều em biết tập
trung chú ý. Sự di chuyển chú ý chưa linh hoạt, khối lượng chú ý chưa lớn.
Sự phân phối chú ý chưa đúng mức.
Trí nhớ: Đặc điểm trí nhớ ở lứa tuổi này là trí nhớ trực quan hình tượng,
các em dễ dàng nhớ sự việc với những hình ảnh cụ thể. Một đặc điểm nữa của trí
nhớ trong lứa tuổi này là: tính không chủ định chiếm ưu thế, trí nhớ vận động
chưa hoàn thiện, chưa chính xác, tiếp thu động tác máy móc không có phê
phán… nên các em hay lẫn lộn với những động tác có cử động giống nhau, do
ức chế phân biệt của các em chưa phát triển, cần giải thích kỹ sự khác nhau giữa
các động tác.
Tư duy: Do có sự chuyển biến, từ tư duy cụ thể sang tư duy trừu tượng,
có thể dạy các em phân tích quá trình thực hiện động tác của bản thân và người
khác.
Tưởng tượng: Có những tiến bộ rõ rệt, quán trình tưởng tượng thường
phản ánh chủ quan được phát triển chủ yếu trong quá trình tập luyện và vui chơi.
Cảm xúc: Cảm xúc phụ thuộc nhiều vào đặc điểm của hệ thần kinh. Quá
trình hưng phấn chiếm ưu thế nên dễ mệt mỏi. Do vậy, ảnh hưởng đến quá trình
10


cảm xúc của các em. Cảm xúc luôn xuất hiện trong vui chơi và tập luyện, thoải
mái khi làm được bài, nghi ngờ khi gặp khó khăn. Cảm xúc được biểu lộ ra bên
ngoài, chưa biết che dấu, vui buồn nhất thời. Tâm trang đó thường gặp và
chuyển hoá qua lại rất nhanh. Vì vậy giáo viên cần thận trọng nhận xét và phê
bình bình về mặt tâm lý, cần gây cảm xúc tình cảm cho các em khi có nhiệm vụ

dẻo. Vì vậy trong 10 – 12 tuổi cần cho các em nắm thật chắc những kĩ xảo vận
động cơ bản. Những kĩ năng, kĩ xảo vận động đã không chỉ có ý nghĩa thực
dụng, mà còn có ý nghĩa chung. Đối với các em ở lứa tuổi này cần phải phát
dụng, mà còn có ý nghĩa chung. Đối với các em ở lứa tuổi này cần phải phát
triển một cách tuyệt đối các tố chất cần đặc biệt chú ý phát triển tố chất tốc độ,
tính linh hoạt và mềm dẻo.
Đối với các em 10 – 12 tuổi cần giải thích cụ thể và dễ hiểu, nhưng chủ
yếu vẫn là làm mẫu để các em tập theo, ví dụ: bật xa tại chỗ thì cần lưu ý cho
các em về tư thế chân trước khi giậm nhảy, tư thế tay khi dậm nhảy và rơi xuống
đệm hoặc cát tiếp xúc bằng 2 chân và phối hợp khuỵ gối và tay để giữ thăng
bằng.
Điều cơ bản trong giảng dạy đối với các em ở lứa tuổi 10 – 12 là phải
nghiêm chỉnh thực hiện các bài tập theo thứ tự (Từ dễ đến khó, từ đơn giản đến
phức tạp, dần dần nâng cao độ khó). Khi giảng dạy bài tập khó phải dạy theo
từng phần sau đó mới tiến hành giảng dạy hoàn chỉnh. Có như vậy, các em mới
tiếp thu một cách hiệu quả những kĩ năng, kĩ xảo vận động trong chương trình
học tập. Bên cạnh đó khi giảng dạy thể dục và trò chơi vận động cần tính tới các
đặc điểm của hệ thần kinh trung ương, hệ tuần hoàn và hô hấp.
5. Cơ sở lựa chọn trò chơi vận động nhằm phát triển thể lực cho học sinh
trường TH Quyết Thắng.
Với mục đích của đề tài là lựa chọn và sử dụng một số trò chơi nhằm phát
triển thể lực cho học sinh TH. Tôi đã tham khảo các trò chơi trong cuốn “Trò
chơi vận động và vui chơi giải trí” của Phạm Vĩnh Thông (chủ biên), Hoàng
Mạnh Cường và Phạm Hoàng Dương với một số trò chơi tôi đã thu thập từ
những giáo viên giảng dạy, huấn luyện có kinh nghiệm và được lựa chọn phù
hợp với đặc điểm tâm sinh lý của các em.
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và khoa học thực tiễn và xây dựng các bài
tập cụ thể cho các em học sinh ở trường TH Quyết Thắng. Tôi đã tiến
12


10

76%

4

Bỏ khăn

8

61%

5

Bóng chuyền sáu

7

53%

6

Đi qua cầu

6

46%

7


11

Qua cầu tiếp sức

7

53%

12

Chuyền, bắt bóng tiếp sức

8

61%

13

Lò cò tiếp sức

12

92%

14

Mèo đuổi chuột

8


13

100%

nhanh,

nhảy

nhanh
Căn cứ vào kết quả trên tôi đã lựa chọn ra 11 trò chơi có số phiếu đạt từ
60% trở lên để đưa vào thực nghiệm nhằm giáo dục tăng cường thể lực cho học
sinh TH. Những trò chơi được lựa chọn được đưa vào thực nghiệm với lượng
vận động phù hợp với tâm sinh lý của các em học sinh TH.
13


Bảng 3: Một số trò chơi được lựa chọn nhằm phát triển thể lực cho
học sinh TH.
TT

Tên trò
chơi

Lượng
vận

Mục đích của trò chơi

động
Nhằm rèn luyện

nhanh theo

hoạt, tính nhanh nhẹn.
Rèn phản xạ, kĩ năng Sân bãi rộng rãi bằng
15’

nhanh.

số

bắt bóng

di chuyển chuyền và bắt chơi, đoàn kết nhiệt tình
15’

tiếp sức

5

6

7

Lăn bóng
bằng tay

Lò cò tiếp
sức
Mèo đuổi
chuột


qua vạt chuẩn đúng quy

định, tích cực.
Rèn luyện kĩ năng chạy, Tự giác tích cự trong
phát triển sức nhanh, sự khi chơi không được
14


8

Nhanh lên
bạn ơi

thông minh sáng tạo.
vượt quá vòng tròn.
Rèn luyện kĩ năng chạy, Học sinh có tinh thần
15’

phát triển sức mạnh, sự tập thể, tính tổ chức kĩ
khéo léo nhanh nhẹn.
luật và tự giác.
Rèn luyện kĩ năng chạy Học sinh tự giác tích
kết hộp với nhảy, phát cực tập trung chú ý

9

Nhảy cừu

10’

sức mạnh của chân, giáo viên.
dục tinh thần tập thể.

6. Đánh giá thực trạng và những mâu thuẫn thể lực của học sinh trường
TH Quyết Thắng.
a. Thực trạng.
Công tác giáo dục thể chất ở trường TH Quyết Thắng đã có những bước
tiến bộ đáng kể. Tuy nhiên qua thực tế tìm hiểu kế hoạch giảng dạy và học tập
của trường, tôi thấy rằng việc giảng dạy thể dục còn nhiều điểm hạn chế, số giáo
viên dạy thể dục chuyên môn chưa cao, có một số bài tập luyện nhưng chưa đảm
bảo yêu cầu, do sân trường không có bóng mát cho các em tập luyện, nội dung
còn nghèo nàn, giáo viên chủ yếu dạy xoay quanh các nội dung đội hình đội ngũ
và các bài thể dục tay không hay các bài tập đơn giản như: Các bài tập rèn luyện
tư thế và kĩ năng vận động cơ bản, đá cầu...để dạy cho các em.
b. Mâu thuẫn.
15


Theo như chúng ta đã biết giờ học thể dục của các em rất quý giá và cần
thiết sau một thời gian phải ngồi trên lớp và động não với nhiều môn thì các em
lại muốn ra sân tập để chạy nhảy và thay đổi bầu không khí giảm đi sự căng
thẳng. Nhưng với thực tế giảng dạy thể dục trong nhà trường thì chưa giúp ích
được nhiều cho các em, chưa lôi cuốn các em, các em vận động còn ít vì vậy thể
lực các em vẫn còn yếu.
Qua đó chúng tôi đã tiến hành kiểm tra trong 2 khối 4 và khối 5 với tổng
số học sinh là 212 em (Nam và Nữ).
Chúng tôi đã tiến hành kiểm tra với các test sau:
• Chạy tuỳ sức 5 phút (m).
• Nằm ngửa gật bụng (30lần/giây).
• Bật xa tại chỗ (cm).

Bật xa tại

loại

chỗ (cm)
Nam N÷

Nam



Tốt
Đạt
Tốt
Đạt

›110

›100

›750

›700

›9

›6

≥ 100


≥ 670

≥5

≥4

≥ 640

16

(lần/30giây)
Nam N÷

Nam



‹13,30 ‹13,50

≤ 14,20

≤ 14,50
≤ 14,40


Tốt
Đạt
Tốt
Đạt
Tốt


›850

›800

›12

›9

‹13,00 ‹13,20

≥ 137

≥ 127

≥ 750

≥ 690

≥7

≥6

≤ 14,00

›163

›152

›900


›940

›820

›14

›11

‹12,70 ‹13,00

11

Tốt
Đạt
Tốt

≥ 152

≥ 140

≥ 820

≥ 710

≥9

≥8

≤ 13,20


8
9

12

‹13,10 ‹13,30

≤ 14,30
≤ 14,20
≤ 14,10

≤ 14,00

≤ 13,80

7. Phát triển các hoạt động ngoại khoá thể dục thể thao trong nhà trường.
Biện pháp cụ thể : Phát động phong trào thể dục thể thao trong toàn
trường kết hợp với Công đoàn, Đoàn đội, Đoàn thanh niên thành lập đội cầu
lông, bóng bàn, cờ vua, cờ tướng, điền kinh của cán bộ giáo viên và học sinh.
Học sinh ngoại khoá có giáo viên thể dục thể thao hướng dẫn.
Kết hợp với Đoàn thanh niên, Đoàn đội và giáo viên thể dục thể thao tổ
chức cho học sinh thường xuyên tập thể dục buổi sáng, thể dục giữa giờ có kiểm
tra và đánh giá xếp loại các lớp.
Đề ra thời gian tập luyện trong một ngày, một tuần với học sinh. Để thực
hiện tốt hoạt động ngoại khoá thể dục thể thao: Bộ môn thể dục thể thao, giữ vai
trò tham mưu và là lực lượng nòng cốt trong hoạt động thể dục thể thao của nhà
trường.
* Đầu tư trọng điểm công tác cải tạo xây dựng và tăng cường các trang
thiết bị, dụng cụ sân bãi thể dục thể thao.

Kiểm tra thường xuyên đối với học sinh bằng cách bắt mạch, kiểm tra vệ
sinh răng miệng, mắt.
Kiểm tra định kỳ về thể lực, sức khoẻ nhằm đạt cơ sở khoa học và thực
tiễn công tác giáo dục thể chất.
Kiểm tra đánh giá hàng năm theo đúng quy định của Bộ giáo dục và đào
tạo về tiêu chuẩn rèn luyện thân thể. Khi kiểm tra đánh giá phải đánh giá nghiêm
túc, khách quan có tiêu chuẩn đánh giá rõ ràng, công bằng.
* Tăng cường kinh phí cho hoạt động thể dục thể thao.
18


Bộ môn thể dục trình lãnh đạo nhà trường cấp kinh phí để xây dựng, tu
sửa, mua sắm trang thiết bị, dụng cụ phục vụ cho giảng dạy và học tập của học
sinh.
Tranh thủ được sự giúp đỡ của hội phụ huynh học sinh, của các cơ quan
có liên quan với trường.
III. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
1. Trước khi thực hiện sáng kiến kinh nghiệm.
- Vào đầu năm học tôi có kiểm tra thực nghiệm thể lực của các em học
sinh khối 4, khối 5 tôi trực tiếp giảng dạy, tôi thấy thể lực của các em vẫn còn
yếu. Qua đó tôi nhận thấy để tạo cho các em một không khí vui tươi trong giờ
học nhằm phát triển thể lực cho học sinh trường để các em có một sức khỏe tốt.
- Trước khi áp dụng các phương pháp tập như trên, tôi thấy học sinh chưa
nắm được yêu cầu và mục đích của trò chơi và tình hình thể lực của các em vẫn
chưa tốt. Do đó các em phải nắm được cách chơi và thường xuyên tổ chức ở nhà
thì các em mới đạt được kết quả như mông muốn.
- Từ những thực tế trên nên tôi chọn lựa một số trò chơi vận động vừa tạo
nên một sự hứng thú, từ đó nâng cao thể lực rèn luyện sức khỏe phục vụ tốt cho
học tập, lao động, sinh hoạt hằng ngày của các em.
BẢNG THỐNG KÊ KẾT QUẢ ĐẦU NĂM


Tỉ lệ
(%)
29.67
29

2. Hiệu quả thực hiện.
- Sau một thời gian nghiên cứu tôi nhận thấy một số trò chơi được lựa
chọn và áp dụng trong các giờ học của trường học. Đa số là các em thích thú
trong các trò chơi các em nắm được cách chơi và tự tổ chức các trò chơi trong
các giờ học ngoại khóa, tuy nhiên do điều kiện dụng cụ, sân tập, cơ sở vật chất
còn nhiều hạn chế nên ảnh hưởng đến các vấn đế tổ chức các trò chơi.
19


- Qua gần học kỳ I của năm học 2013-2014 và áp dụng những biện pháp
đã đề ra, các em đạt được chứng cứ về trò chơi vận động và tình trạng thể lực
sức khỏe của các em cũng tốt hơn, thay đổi vượt bậc.
BẢNG THỐNG KÊ KẾT QUẢ
Tổng số
học sinh
Khối 4
105
Khối 5
107
TT

Tốt
32
37

giảng dạy còn chưa hợp lý, nên ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng giáo dục thể
chất của trường TH Quyết Thắng nói riêng và các trường TH, THCS nói chung.
Thực trạng thể lực học sinh trường TH Quyết Thắng so với chỉ tiêu RLTT
thì chưa đảm bảo yêu cầu của thực tế.
Qua nghiên cứu tôi đã lựa chọn được một số trò chơi vận động có tác
dụng tối đối với sự phát triển thể chất của học sinh TH.
Trên đây là toàn bộ nội dung mà tôi đã nghiên cứu, tìm hiểu trong quá
trình giảng dạy và học tập. Mặc dù đã có nhiều cố gắng song công tác nghiên
cứu khoa học cũng còn mới mẻ với tôi và điều kiện thời gian không nhiều nên
sáng kiến kinh nghiệm cua tôi không tránh khỏi những hạn chế nhất định. Rất
mong được sự đóng góp của các Đ/c lãnh đạo chuyên môn, các bạn đồng nghiệp
đi trước để tôi hoàn thiện đề tài góp phần nhỏ bé của mình vào giảng dạy và học
tập để đạt kết quả tốt hơn.
V. KIẾN NGHỊ
- Qua quá trình nghiên cứu và giảng dạy ở trường TH Quyết Thắng tôi
cũng mạnh dạn đưa ra một số đề xuất như sau:
20


- Để giúp cho giáo viên có điều kiện giảng dạy tốt và đạt hiệu quả cao
trong các giờ dạy học Thể dục và đặc biệt là trong các hoạt động tổ chức cho
học sinh tham gia các trò chơi thì nhà trường, Phòng Giáo Dục Và Đào Tạo
Huyện cũng như các cấp trên cần quan tâm, đầu tư và tăng cường thêm về cơ sở
vật chất kịp thời như:
+ Xây dựng sân tập có diện tích tối thiểu 25m x 35m đảm bảo cho việc
dạy và học Thể dục và xây dựng nhà tập đa năng cho trường TH Quyết Thắng.
+ Có đầy đủ đồ dùng, dụng cụ phục vụ cho các trò chơi có trong chương
trình học để phục vụ cho quá trình học và giảng dạy của giáo viên.
+ Cung cấp thêm một số tài liệu về trò chơi giân gian và trò chơi hiện đại.
+ Tạo điều kiện cho giáo viên Thể dục được tham gia giao lưu học tập,


22


MỤC LỤC
Trang
I. Đặt vấn đề.

1

1. Cơ sở lí luận.

2

2. Cơ sở thực tiễn.

4

II. Nội dung nghiên cứu.

5

1. Mục đích nghiên cứu.

5

2. Phương pháp nghiên cứu.

5


7

d. Nghiên cứu vận dụng của trò chơi vận động trong Trường TH hiện nay.

8

4. Đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi học sinh Tiểu học (10 đến 12 tuổi) và

9

đặt điểm các phương pháp giảng dạy thể dục, trò chơi vận động.
a. Đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi từ 10 đến 12 tuổi.

9

b.Đặc điểm tâm lý lứa tuổi từ 10 đến 12 tuổi.

9

c. Đặc điểm giảng dạy thể dục và trò chơi vận động cho các em

11

học sinh TH ( từ 10 – 12 tuổi).
5. Cơ sở lựa chọn trò chơi vận động nhằm phát triển thể lực cho
học sinh trường TH Quyết Thắng.
23

12


IV. Kết luận.

20

V. Kiến nghị.

20

VI. Tài liệu tham khảo.

22

24


25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status