tiểu luận công tác xã hoii trong trường học - Pdf 42

PHỤ LỤC

1


Lý do chọn đề tài
Để một nền kinh tế phát triển bền vững thì nhân tố con người luôn
đóng vai trò quyết định. Vì vậy, không chỉ Việt Nam mà tất cả các nước
trên thế giới đều coi giáo dục là quốc sách hàng đầu. Cùng với xu thế trên,
Việt Nam luôn tạo mọi điều kiện để nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực,bồi
dưỡng nhân tài cho đất nước và nâng cao trình độ chuyên môn kỹ thuật
cho người lao động, nhằm đáp ứng tốt hơn cho nhu cầu công nghiệp hóahiện đại hóa đất nước.
Giáo dục đóng vai trò quan trọng là vậy, tuy nhiên thời gian gần đây,
dư luận đang xôn sao lên vì những thôn tin học sinh bỏ học. Tình trạng bỏ
học hàng loạt đang được gia tăng ở các địa phương, kiến những ai có tâm
huyết với giáo dục, cùng những nhà công tác xã hội trong trường học
không khỏi băn khoan, trăn trở. Vấn đề này nếu không được quan tâm
đúng mức sẽ đưa đến những hậu quả xấu cho bản thân học sinh bỏ học,
gia đình của các em và cũng ảnh hưởng không nhỏ đến xã hội
Có thể thấy rằng, thực trạng học sinh bỏ học hiện nay là vấn đề hết
sức “ nóng” trong xã hội. trong điều kiện giới hạn, tôi đã chọn thực hiện đề
tài: “ thực trạng vấn đề bỏ học của học sinh THCS” ( Nghiên cứu tại xã Yên
Trị- huyện Ý Yên- Nam Định). Nhằm góp phần tìm hiểu thực trạng và nêu
ra hậu quả cũng như cách khắc phục thực trạng này.

2


I.
1.


- Ngăn ngừa học sinh trốn học hoặc bỏ học
Học sinh thì phải đến trường để học. Tuy nhiên, vẫn có những vấn đề
từ phía gia đình và cá nhân cản trở học sinh đến lớp. NVXH học đường
cần đánh giá nhu cầu của học sinh và gia đình để có thể giúp họ lập kế
3


hoạch giúp học sinh tham gia hoc tập. Ngăn ngừa học sinh bỏ học cũng là
nhiệm vụ quan trọng của nhà trường. Vì vậy, NVXH phải là một phần của
tất cả các nhóm: quản lý nhà trường, giáo viên, phụ huynh, và cả các
nhóm học sinh để có thể phát hiện kịp thời những học sinh có nguy cơ bỏ
-

học và có kế hoạch giúp học sinh và gia đình để ngăn chặn nguy cơ này.
Ngăn ngừa bắt nạt/ bạo lực học đường
Tình trạng bắt nạt trong trường học cũng là một trong những nguyên
nhân gây ra nạn bỏ học, vì những học sinh hay bị bắt nạt sẽ không tập
trung được vào việc học, học kém đi, và trở nên sợ hãi trường học. NVXH
có thể ngăn ngừa hoặc giảm thiểu nạn bắt nạt bằng cách tăng cường hỗ
trợ cho những học sinh có nguy cơ bị bắt nạt và thực hiện những chương
trình tập huấn kỹ năng xã hội hướng vào giải quyết mâu thuẩn như kiểm
soát sự giận dữ, cách giải tỏa ức chế, cách thương lượng để giải quyết
mâu thuẩn không cần đến bạo lực,… NVXH cũng cần phối hợp với giáo
viên và đoàn thể (Đoàn, Đội,…) giúp những học sinh yếu lấy lại căn bản để
có thể theo kịp bạn đồng học và tự tin hơn.
NVXH có thể tìm mời các chuyên gia đến trường và giúp cho thấy cô
giáo và ban quản lý nhà trường trang bị kiến thức và kỹ năng nhận diện trẻ
bị lạm dụng, những dấu hiệu có thể dẫn đến bạo hành, dấu hiệu trẻ đang
có vấn đề sức khỏe tâm thần,… để có thể can thiệp kịp thời.
- Ngăn ngừa tự tử

behavioral interventions ans supports) thúc đẩy việc xây dựng và duy trì
môi trường học đường thân thiện, tăng cường sự tôn trọng và tin cậy giữa
các giáo viên, giữa học sinh, và giữa học sinh với giáo viên. Môi trường
học đường thân thiện và an toàn sẽ giúp các em yêu thích trường học và
yên tâm học tập
NVXH giúp học sinh xây dựng giá trị bản thân và phát triển những kỹ
năng như nhận diện và quản lý cảm xúc, biết quan tâm đến người khác, đi
đến những quyết định có trách nhiệm, xây dựng được những mối quan hệ
tích cực, và giải quyết một cách hiệu quả những thách thức của cuộc sống.
- Giúp học sinh đang gặp khủng hoảng
Khủng hoảng xảy ra khi học sinh gặp phải những chấn thương đột
ngột vượt quá khả năng ứng phó thường ngày của các em như bạo hành
gia đình, mất người thân, mất nhà cửa, thiên tai, bị tai nạn,… Trong những
trường hợp như thế, NVXH trước hết cần giúp học sinh vượt qua giai đoạn
khủng hoảng, sau đó giúp các em đánh giá lại hoàn cảnh và tìm những giải
5


pháp thích hợp để giải quyết vấn đề. Khi cần thiết, phải cùng làm việc với
gia đình và các bên liên quan để có được giải pháp tốt nhất cho các em.
- Tham vấn nhóm
Làm việc nhóm là cách hiệu quả nhất để xây dựng mối quan hệ tốt với
học sinh, giúp các em trang bị kỹ năng xã hội, và hỗ trợ các em đúng lúc.
Khi tham gia nhóm, học sinh có cơ hội thực tập kỹ năng mới và xây dựng
được cho mình những mối qua hệ lành mạnh. Nhóm có thể cùng làm việc
để giúp nhau giải quyết những vấn đề cá nhân như học yếu môn học, bất
hạnh hoặc mất mát, gia đình bất hòa, ly dị, … Nhóm tập trung vào mối
quan tâm hoặc vấn đề chung mà các thành viên gặp phải và cùng nhau
xây dựng mục tiêu và chương trình hành động phù hợp với điều kiện và
hoàn cảnh của nhóm và nhà trường. Khi cần thiết, NVXH có thể trao đổi

thoát khỏi mặc cảm bị cô lập ngay trong lớp học. NVXH có thể phối hợp
với các chuyên gia về khuyết tật và các trung tâm, tổ chức hỗ trợ NKT để
có kế hoạch giúp các em học hòa nhập tốt và học tốt.
- Hỗ trợ học sinh cuối cấp
Đối với học sinh cuối cấp phổ thông cơ sở hoặc phổ thông trung học,
nhân viên xã hội học đường còn có nhiệm vụ phát triển những chương
trình chuyển giai đoạn (transitional program) giúp các em chuẩn bị tốt cho
việc bước vào một môi trường sống lớn hơn, với nhiều trách nhiệm và
nghĩa vụ hơn như vào đại học, học nghề, hoặc đi làm kiếm sống.
Như vậy, để thực hiện tốt nhiêm vụ công tác xã hội học đường, người
NVXH học đường cần phải có vài năm kinh nghiệm làm việc với trẻ em và
gia đình. Đồng thời, họ cũng cần được tạo điều kiện để tiếp cận được với
một hệ thống hỗ trợ cần thiết tại nhà trường và cộng đồng. Đây là trường
hợp lý tưởng ở các nước đã hình thành và phát triển hệ thống an sinh xã
hội. Việt Nam ta cũng cần phải bắt đầu xây dựng hệ thống hỗ trợ này nếu
3.

muốn hoạt động công tác xã hội được hiệu quả.
Các nghiên cứu liên quan
Thực trạng bỏ học của một số học sinh nói chung và học sinh trung
học cơ sở nói riêng, thực chất đã diễn ra trong một thời gian khá dài nhưng
hầu như chưa được quan tâm đúng mức. Vấn đề này chỉ được nhắc đến
và đưa ra bàn luận trong thời gian gần đây, đặc biệt là sau sự kiện Việt
Nam gia nhật tổ chức thương mại thế giới WTO. Ngoài trọng tâm đào tạo
con người với đầy đủ năng lực và phẩm chất, thì vấn đề bỏ học của học
sinh trung học cũng ngày càng được Đảng, Nhà nước và các tổ chức ban
ngành quan tâm. Tuy nhiên, có thể thấy các nghiên cứu liên quan đến vấn
đề này vẫn chưa nhiều và chưa thật sự phản ánh một cách chân thật nhất,
khái quát nhất thực trạng vấn đề. Có chăng chỉ là những trang tin đăng tải
7


một số kiến nghị( tại tp. HCM)
Đề tài “ các giải pháp khắc phục tình trạng học sinh bỏ học ở trường trung

-

học cơ sở Lê Lai- Ngọc Lạc- Thanh Hóa
Đề tài: “ thực trạng học sinh bỏ học ở các trường THCS huyện Càng Long”
Trong điều kiện giới hạn về thời gian và phương tiện nghiên cứu, tôi
chỉ có thể sơ lược được một số nghiên cứu nêu trên. Nguồn tư liệu thu
thập được chủ yếu từ một số bài trích của các đề tài nghiên cứu cách đây
lâu còn lại một số thông tin liên quan đến vấn đề bỏ học của học sinh
THCS hiện nay được lấy từ các bài báo, dữ liệu trên internet, các luận văn,

8


luận án. Qua đó cũng có thể nhận định rằng tình hình nghiên cứu vấn đề
bỏ học của học sinh THCS còn rất hạn chế
4.

Mô hình
Trước mắt để triển khai mô hình CTXH trường học đại trà vào thực
tiễn, Khoa CTXH đề nghị có một mô hình CTXH bán chuyên nghiệp thể
hiện ở những điểm sau:
Thứ nhất, nhân viên làm việc tại phòng CTXH là nhưng sinh viên đang
học CTXH và dành thời gian thực hành tại phòng hoặc cử nhân tốt nghiệp
đại học ngành CTXH tại Trường ĐHSP làm nhân viên tại Phòng CTXH
trường học.
Thứ hai, tiến hành tập huấn, bồi dưỡng về kiến thức, kỹ năng CTXH


BẢNG HỎI THU THẬP THÔNG TIN VỀ THỰC TRẠNG, NGUYÊN NHÂN,
HẬU QUẢ VIỆC BỎ HỌC TẠI TRƯỜNG THCS YÊN TRỊ-Ý YÊN-NAM
ĐỊNH
Xin chào anh (chị, em…) tôi là sinh viên khoa công tác xã hội trường Đại
học lao động- Xã hội. Hiện nay tôi đang làm tiểu luận môn Công tác xã hội
trong trường học. Tôi mong muốn tìm hiểu về thực trạng, nguyên nhân,
hậu quả vầ đề ra hướng giải quyết tình trạng bỏ học của học sinh THCS.
Xin anh ( chị, em,…) vui lòng dành thời gian quý báu trở lời các câu hỏi
dưới dây. Tôi rất hoan nghênh sự cộng tác của anh( chị, em…). Ý kiến của
anh (chị, em …) là tài liệu đóng góp quan trọng cho bài tiểu luận của tôi.
A.

PHẦN THÔNG TIN CÁ NHÂN
Tên anh (chị) : ………………………
Số điện thoại: ………………………
Địa chỉ: ………………….................
Giơí tính:
1. Nam 2. Nữ
Tuổi: …………

Tên sinh viên phỏng vấn: ……..
Ngày phỏng vấn: …………

B.
1.

PHẦN NỘI DUNG CHÍNH
Gia đình anh (chị, em…) có bao nhiêu thành viên?



………………………………………………………………………………
Theo anh (chị, em…) việc học có quan trọng không?
A. Quan trọng
B. Bình thường
C. Không quan trọng
10


8.

Nếu chọn quan trọng thì anh ( chị, em) cho biết nó quan trọng như
thế nào?
………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………….

9.

Anh ( chị, em…) nghĩ như thế nào về việc bỏ học?
………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………

………………………………………………………………………………
10. Anh ( chị, em ….) nghĩ việc bỏ học gây ra những hậu quả như thế
nào?
………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………
11. Theo anh (chị, em…) có những biện pháp nào khắc phục, ngăn ngừa

không quá khó với tôi. Nhưng cũng có khi đến nhà họ và nhiều khi không
4.
-

biết nói gì làm cho cuộc trò chuyện ngắt quãng
Kết quả thu được
Thực trạng bỏ học: với tổng số học sinh là 694 em trong đó có 30 em bỏ
học trong năm vừa qua, chưa tính các em học hết lớp 9 xong nghỉ không
thi vào cấp 3. Học sinh bỏ học thường tập trung ở làng vĩnh trị, làng nguồi,
làng mờm, làng hạc bổng… tỉ lệ học sinh bỏ học ở trường THCS Yên Trị
cao hơn so với trường THCS Yên Đồng và cao gần nhất so với các trường

-

cấp 2 trong huyện Ý Yên
Nguyên nhân:
+ Do điều kiện kinh tế gia đình khó khăn, bố mẹ không đủ điều kiện
cho con đến trường buộc các em phải bỏ học. Một phần vì bố mẹ phải lo
kiếm kế sinh nhai, không có thời gian quan tâm chăm sóc, nhắc nhở các
em học hành dẫn đến tình trạng lười học, không muốn đến lớp. Có trường
hợp gia đình khó khăn, các em phải bỏ học để ở nhà phụ việc hoặc đi công
ty may để phụ bố mẹ trang trải. Tuy nhiên, đây không hẳn là nguyên nhân
tuyệt đối vì có những gia đình khó khăn nhưng con em vẫn đến trường và
còn học rất giỏi mà nó còn phụ thuộc vào thái độ của bố mẹ và cá tính của
các em
+ Do gia đình chuyển nơi ở đi làm ăn xa nên việc học không được
đảm bảo. Có trường hợp học sinh chuyển đến nhưng em đó vẫn bỏ học do
không làm quen được với môi trường mới, không theo kịp bạn bè do việc
học bị phân tán trong quá trình chuyển nơi ở…
12

hư xấu, những hành vi lệch chuẩn.
+ Với gia đình và xã hội: Trong một tương lai không xa khi các em
trưởng thành, xã hội sẽ đón nhận các em như thế nào khi nền kinh tế đang
trong xu thế quốc tế hóa, làm sao các em có thể xin được việc làm khi
chưa tốt nghiệp THCS và như thế các em sẽ thực sự trở thành gánh nặng
cho gia đình và xã hội. Với những em có hoàn cảnh khá giả, bố mẹ các em
13


có thể bao bọc hoặc lo cho công việc nào đó nhưng còn những em có
hoàn cảnh khó khăn thì sao? Khi không có công ăn việc làm, khó khăn sẽ
trồng chất khó khăn và nếu không có bản lĩnh các em sẽ trở thành tay sai
của tệ nạn xã hội( như trộm cướp, cờ bạc, mại dâm…)
Có thể nói, hậu quả từ việc bỏ học là rất tệ hại mà chúng ta không thể
lường hết được. Nó tác động xấu đến sự phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội
-

của cả nước nói chung và của địa phương nói riêng.
Giải pháp
+ Cần có cuộc vận động “Nói không với hiện tượng học sinh bỏ học vì
hoàn cảnh khó khăn”, không thể để cho các em vì nghèo mà thất học. Cần
rá soát lại những chính sách ưu tiên, hỗ trợ học sinh nghèo, bổ sung
những ưu đãi mới, có những giải pháp vận động nguồn tài chính cho học
ssinh nghèo, thực hành tiết kiệm để giành tiền cho học sinh nghèo, đẩy
mạnh phong trào từ thiện trong các nhà trường, vận động những học sinh
nhà khá giả giúp đỡ bạn nghèo. Cần có chính sách cho những hộ nghèo
vay vốn cho con học THCS, cũng như có những quy định xử phạt những
trường có học sinh bỏ học vì nghèo, học sinh bỏ học nhiều. Đối với những
địa phương khó khăn, cần điều tra khảo sát và xin nhà nước hỗ trợ kinh
phí

phương pháp truyền đạt kiến thức theo hướng tích cực sẽ giúp các em
cảm thấy thú vị, hứng thú, yêu thích việc học tập hơn và nhận thấy rất
nhiều điều bổ ích trong việc học. Từ đó sẽ khắc phục được tình trạng học
sinh chán học dẫn đến bỏ học.
+ Kết hợp các tổ chức chính quyền ở địa phương, tuyên truyền, vận
động nâng cao nhận thức cho các bậc làm cha mẹ về tầm qua trọng của
việc học và tạo điều kiện cho các em học tập thật tốt, về việc giáo dục con
cái, nhất là cần hiểu tâm lí của con cái. Biện pháp này chỉ có hiệu quả khi
người cán bộ quản lý giáo dục cũng như người cán bộ xã phường có đầy
đủ trách nhiệm và bản lĩnh trước nhiệm vụ bức thiết này.
+ Kết hợp với gia đình để tìm ra những nguyên nhân của từng tình
hình cụ thể để có thể giáo dục và ngăn chặn kịp thời tình trạng học sinh bỏ
học. Biện pháp này chỉ có kết quả khi giáo viên chủ nhiệm có thời gian trên
lớp và biết áp dụng nhiều biện pháp, hình thức giáo dục và phối kết hợp
với gia đình, nhà trường trong những tình huống xác định.

15


+ Phối hợp với các tổ chức trong và ngoài trường khảo sát, điều tra
nắm chắc và kịp thời về tình hình diễn biến của số lượng học sinh bỏ học
ở địa phương để có thể ngăn chặn kịp thời và có hiệu quả. Biện pháp này
chỉ mang lại hiệu quả nếu nhà trường luôn trung thực về việc báo cáo số
lượng học sinh bỏ học, không chạy theo thành tích, để có thể đưa ra con
số chính xác, phối hợp với các tổ chức ban ngành ngăn chặn tình trạng
học sinh bỏ học.
+ Cải thiện đời sống cán bộ, giáo viên bằng các chế độ chính sách
phù hợp với tay nghề, cải thiện môi trường sư phạm ngày càng đạt chất
lượng và đạt chuẩn để thu hút học sinh tới trường. Đặc biệt là đối với đội
ngũ cán bộ giáo viên mới vào nghề.

có thời gian. Thời gian tôi giành cho đề tài này không nhiều vì trước đó tôi
đi thực hành tại Chúc Sơn- Chương Mỹ. Và sau đó tôi về quê tôi mới bắt
tay vào làm, nên cũng còn nhiều thiếu xót, chưa đi sâu vào tìm hiểu các
trường quanh đó để có sự so sánh.
Chưa có sự đầu tư về kinh phí, khi đến gặp hiệu trưởng, các thầy cô
trong trường để làm quen nên nhiều khi trường còn làm khó và lúc đầu
trường chỉ nói qua loa nhưng một thời gian gặp trường mới cho số liệu cụ

-

thể.
Kiến nghị
Đối với xã hội:
+ Nhà nước: Cần nhân rộng mô hình công tác xã hội trong trường học
để NVXH có cơ hội việc làm và nhất là phát hiện sớm cũng như can thiệp
kịp thời các tình huống trong trường học.
+ Nhà trường: Cần có các khóa học về các kỹ năng sống để chăm sóc
bản thân cho các học sinh tại trường học để các em có vốn kiến thức kỹ
năng sống nhất định cho mình để có thể giải quyết được vấn đề. Có các
biện pháp can thiệp kịp thời khi các em có ý định bỏ học. Cần có các biện
pháp can thiệp với những em đã bỏ học
+ Thầy cô giáo: Cần quan tâm và phát hiện kịp thời để tình trạng bỏ
học được khắc phục, ngăn chặn được ý nghĩ bỏ học của các em để các
em có thể tiếp tục đến lớp. Cần thay đổi cách giảng dạy cho phù hợp với

-

điều kiện hiện nay
Đối với gia đình:
+ Cần có các kiến thức và hiểu biết nhất định để nắm bắt được tâm

2.
-

Vai trò của nhân viên công tác xã hội trong giải quyết vấn đề học đường
Lập và thực hiện các kế hoạch can thiệp nhận thức- hành vi
+ Tìm hiểu thông tin liên quan đến vấn đề đối tượng
+ Sử dụng công cụ đánh giá những cảm xúc, hành vi không đúng gây
ra những vấn đề cho đối tượng
+ Xác định những yếu tố dẫn đến hành vi không đúng
+ Cùng nhóm cộng tác lên kế hoạch hỗ trợ giúp đối tượng nhận thức
phát triển cảm xúc tích cực và dẫn đến thay đổi hành vi
+ Hỗ trợ học sinh thực hiện kế hoạch can thiệp
+ Giám sát và thường xuyên theo dõi sự tiến bộ của phương pháp can
thiệp. Trong trường hợp cần có chỉnh sửa để phù hợp với đối tượng thì

-

cần bàn bạc và thay đổi phương pháp can thiệp hiệu quả hơn
+ Đánh giá hiệu quả của kế hoạch thay đổi hành vi
Quản lý ca đảm bảo đối tượng nhận được các dịch vụ, các cơ hội trị liệu
và giáo dục
+ Đánh giá tình hình, thu thập thông tin thông qua mẫu đơn tiếp nhận
của đối tượng, gia đình đối tượng
+ Xác định các chương trình, dịch vụ sẵn có trong trường học và cộng
đồng
+ Xây dựng kế hoạch hỗ trợ, tiếp cận các nguồn lực, có thể là kết nối
đối tượng đến các dịch vụ hỗ trợ tâm lý xã hội và giáo dục hay cả hỗ trợ tài

-



20


TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Thái Duy Tiên “ Hiện tượng lưu ban, bỏ học: Thực trạng, nguyên
2.

nhân, vấn đề và biện pháp”, viện ghiên cứu giáo dục, 1992
Phạm Thanh Bình, Về nguyên nhân và biện pháp chống bỏ học” ,

3.

Viện nghiên cứu giáo dục, 1992.
Trần Văn Kham, Công tác xã hội trong trường học, tạp chí, tháng 2

4.
5.

năm 2011
Nguyễn Thị Oanh, Công tác xã hội đại cương, NXB gióa dục, 1999
/>
6.

hoc-cua-hoc-sinh-trung-hoc-co-so-40473/
/>
7.

hoi-voi-truong-hoc.htm
/>%A7a-nhan-vien-cong-tac-xa-h%E1%BB%99i-h%E1%BB%8Dc-d


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status