1
Mở đầu
1. Tính cấp thiết của đề tài
Văn hóa vốn gắn liền với toàn bộ cuộc sống và với sự phát triển của xã
hội. Con người ra đời cùng với văn hóa, trưởng thành nhờ văn hóa, hướng tới
tương lai cũng từ văn hóa. Văn hóa của một dân tộc trước hết thể hiện ở bản
sắc của dân tộc ấy. Bản sắc dân tộc thể hiện trong hệ giá trị của văn hóa dân
tộc, nó biểu hiện và định hướng cho sự lựa chọn trong hành động của con
người. Những giá trị văn hóa là thước đo trình độ phát triển và đặc tính riêng
của mỗi dân tộc “Một dân tộc thiếu văn hóa chưa phải là một dân tộc thật sự
hình thành, một nền văn hóa không có bản sắc dân tộc thì nền văn hóa ấy
không có sức sống thật sự của nó” [9, tr.16].
Việt Nam là một quốc gia đa dân tộc, 54 dân tộc là 54 sắc màu văn hóa
tạo nên nền văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc Việt Nam, được phân bố ở các
vùng, miền của Tổ quốc. Do đặc điểm về điều kiện địa lý, kinh tế - xã hội và
nhiều nhân tố ảnh hưởng khác nhau, đã hình thành nên các vùng văn hóa khác
nhau, từ đó văn hóa của các dân tộc cũng có những điểm khác biệt và mang
tính đặc thù. Trong các vùng văn hóa ấy, vùng Tây Bắc nước ta gồm 6 tỉnh:
Hòa Bình, Sơn La, Lai Châu, Điện Biên, Lào Cai, Yên Bái. Là một vùng rộng
lớn, có địa chính trị, kinh tế - văn hóa độc đáo, có vị trí rất quan trọng đối với
sự phát triển của đất nước cả về an ninh - quốc phòng, kinh tế, văn hóa, xã hội bao
gồm rất nhiều dân tộc thiểu số sinh sống. Mỗi dân tộc với những đặc điểm riêng,
đều sớm hình thành những nét văn hóa riêng có, độc đáo của mình.
Dân tộc Thái là dân tộc có số dân đông thứ hai trong 53 dân tộc thiểu
số ở nước ta. Cũng như mọi dân tộc khác, người Thái ở Tây Bắc đã sớm hình
thành một nền văn hóa mang mầu sắc riêng và hết sức đặc sắc. Nền văn hóa
ấy ảnh hưởng sâu xa đến từng cá nhân trong cộng đồng người Thái, góp phần
2
làm phong phú thêm những giá trị cho nền văn hóa đa dân tộc vùng Tây Bắc
3
riêng, tôi chọn vấn đề “Kế thừa và phát huy bản sắc văn hóa của dân tộc
Thái ở Tây Bắc hiện nay (qua thực tế ở tỉnh Sơn La)" làm đề tài cho luận
văn tốt nghiệp của mình.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Vấn đề này đã được nhiều người nghiên cứu ở những phạm vi và góc độ
khác nhau.
Nghiên cứu dưới góc độ bản sắc văn hóa có những tác phẩm tiêu biểu như:
"Suy nghĩ về bản sắc văn hóa dân tộc", Huy Cận, Nxb Chính trị Quốc
gia, 1994. "Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam", PGS. Viện sĩ Trần Ngọc
Thêm, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh, 2001. "Bản sắc văn hóa Việt Nam",
Phan Ngọc, Nxb Văn học, 2002. "Xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt
Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc", Nguyễn Khoa Điềm (chủ biên). "Bản
sắc văn hóa dân tộc", Hồ Bá Thâm, Nxb Văn hóa Thông tin, 2003.
Nghiên cứu về văn hóa các dân tộc thiểu số có:
"Tìm hiểu văn hóa vùng các dân tộc thiểu số" của Lò Giàng Páo, Nxb
Văn hóa dân tộc, Hà Nội, 1997. "Văn hóa các dân tộc thiểu số ở Việt Nam",
Ngô Văn Lệ, Nxb Giáo dục, Hà Nội, 1998. Đề tài: "Văn hóa truyền thống của
các dân tộc Jrai và Bahnar ở tỉnh Gia Lai hiện nay - Thực trạng và giải
pháp", Luận văn thạc sĩ Triết học của Lê Thị Mỹ Vân, 1999, Đại học KHXH
& NV - ĐHQG Hà Nội."Văn hóa truyền thống các dân tộc thiểu số trong
cuộc sống hôm nay", Nguyễn Khoa Điềm, Tạp chí Văn hóa nghệ thuật, số
7/2000. Đề tài: "Vấn đề giữ gìn và phát huy giá trị văn hóa các dân tộc thiểu
số ở Gia Lai trong điều kiện kinh tế thị trường hiện nay", Luận văn thạc sĩ
Triết học, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, 2003 của Đỗ Văn Hòa...
Nghiên cứu văn hóa dân tộc Thái có các công trình:
“Nghệ thuật trang phục thái”, Lê Ngọc Thắng, Nxb Văn hóa Dân tộc,
Hà Nội, 1990. "Văn hóa thái Việt Nam", Cầm Trọng, Phan Hữu Dật, Nxb Văn
6
Thực hiện đề tài này, luận văn chủ yếu dựa trên cơ sở lýý luận là chủ
nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối quan điểm của Đảng
và Nhà nước ta về văn hóa và chính sách phát triển văn hóa, nhất là quan hệ
biện chứng giữa tồn tại xã hội và ý thức xã hội; đồng thời có tham khảo một
số công trình nghiên cứu, đề tài khoa học, sách, báo... tài liệu có liên quan đến
nội dung được đề cập trong luận văn.
* Phương pháp nghiên cứu:
Luận văn sử dụng các phương pháp của chủ nghĩa duy vật biện chứng và
duy vật lịch sử, phương pháp lịch sử và lôgíc; phân tích và tổng hợp; quy nạp
và diễn dịch, điều tra, so sánh... nhằm thực hiện mục đích mà đề tài đặt ra.
6. Đóng góp khoa học của luận văn
Luận văn góp phần làm rõ thêm những nét đặc sắc của tộc Thái ở Tây
Bắc; phân tích và hệ thống hóa các giá trị văn hóa của dân tộc Thái dưới góc
độ triết học. Qua đó đưa ra những giải pháp cơ bản và thiết thực nhằm kế thừa
và phát huy bản sắc văn hóa của dân tộc Thái ở Tây Bắc và Sơn La trong giai
đoạn hiện nay.
7. ý nghĩa của luận văn
Kết quả nghiên cứu của luận văn sẽ góp phần bổ sung và làm sáng tỏ lý
luận về văn hóa, bản sắc văn hóa và vấn đề kế thừa nó; đồng thời góp phần
khẳng định vai trò, ý nghĩa của những giá trị văn hóa của dân tộc Thái ở Tây
Bắc theo hướng: Xây dựng một nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản
sắc dân tộc.
Luận văn có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu và
giảng dạy các bộ môn: Triết học, Văn hóa, Dân tộc học... ở các nhà trường,
làm tài liệu tham khảo cho cán bộ hoạch định chính sách và quản lý văn hóa ở
Tây Bắc và tỉnh Sơn La.
8. Kết cấu của luận văn
lịch sử tộc người Thái, ngoài việc rút ra và đúc kết những hiểu biết mới về đời
sống tâm linh của họ. Từ đó, đưa ra những kết luận về nguồn gốc hình thành
của dân tộc này.
9
Người Thái ở Việt Nam không theo một tôn giáo chính thống nào trên
thế giới mà theo một trong những tục có nghi thức thờ Nước (nặm) và Đất gọi là
Cạn (bốc). Nước có biểu tượng Thần chủ là con Rồng (Tô Luông) mang tên chủ
nước (chảu nặm), và đất có biểu tượng thần chủ là loài Chim ở núi mang tên chủ
đất (chảu đin). Hai biểu tượng thần chủ Rồng, Chim cũng là Mẹ, Cha của
Mường và tục thờ này nằm trong toàn bộ nghi lễ cúng mường (xên mương).
Theo truyền thống, Thái Đen và Thái Trắng có tục thờ Mẹ- Cha gắn với
biểu tượng thần linh Rồng- nước và Chim- cạn trong cúng Mường chéo
ngược như sau:
Mường Thái Đen thờ: Mẹ - Rồng - nước > < Cha - Chim - Cạn
Mường Thái Trắng thờ: Mẹ - Chim - Cạn > < Cha - Rồng - Nước
Điều này cho thấy mối liên hệ giữa văn hóa biểu tượng cội nguồn giữa
người Thái với truyền thuyết thủy tổ người Việt (Kinh): “Mẹ thủy tổ người
Kinh là bà Âu Cơ thuộc giống Tiên (Chim lạc) ở đất, và Cha thủy tổ là ông
Lạc Long Quân thuộc loài Rồng- nước (Thủy tộc (biển). Bà Âu Cơ sinh ra
một bọc trăm trứng, nở ra trăm con trai, khi khôn lớn thì năm mươi con trai
theo cha xuống biển và năm mươi con trai theo mẹ về núi” [41, tr. 23]. Từ
đây, ta có thể hình dung được bức tranh có thể có về sự hình thành, và phát
triển văn hóa cội nguồn của hai ngành Người thuộc nhóm nói tiếng Thái có
liên hệ với Người Việt (Kinh) trong lịch sử hàng ngàn năm hình thành và phát
triển:
Trong khi Mẹ thủy tổ hay thần Mẹ của ngành người Thái
Trắng ở cùng nhóm nữ với bà Âu Cơ trong tập đoàn người mang
biểu tượng Chim - cạn thì Mẹ thủy tổ, hay thần Mẹ của ngành
là Thái Trắng nhưng có nhiều nét giống Thái Đen sống tập trung ở Mường
Tấc (Phù Yên), Bắc Yên; mường Sang, Mộc Châu (Sơn La).
11
Nhóm Thái Hòa Bình (Mai Châu, Đà Bắc) có nét giống với các nhóm
Thái ở Thanh Hóa. Nhóm Thái ở Thanh Hóa cư trú ở mường Một- mường
Đeng tự nhận mình thuộc ngành Đeng (Tay Thanh), ngành Trắng (Tay
Mường- Hàng Tổng, Tay Dọ). Nhóm Thái Nghệ An với việc chia ngành Đen,
Trắng đã mờ nhạt, họ chỉ quan tâm đến thời gian và quê hương xuất xứ của
mình khi đến nơi này.
Lịch sử phát triển của người Thái theo con đường dích dắc qua hàng
ngàn năm, nhưng với người trong nhóm nói tiếng Thái vẫn giữ mạch tư duy
văn hóa lưỡng phân, lưỡng hợp để tưởng nhớ quê cha đất tổ xa xưa nhất.
1.1.1.2. Người Thái ở Tây Bắc
Là dân tộc cú số dõn khá đông ở miền Tây Bắc, năm 1955 người Thái ở
miền Tây Bắc nước ta mới có 22 vạn người, thì đến năm 1989 riêng người Thái
ở tỉnh Sơn La đã có khoảng 40 vạn người, năm 2005 có khoảng 52 vạn người.
Có thể thấy rõ điều này khi khảo sát sự phân bố dân cư của tỉnh Sơn La (phụ
lục).
Người Thái ở Tây Bắc là bộ phận tiêu biểu của người Thái. Mặc dù có
những đặc trưng cơ bản, nhưng người Thái ở Tây Bắc vẫn chia hai ngành:
Thái Trắng và Thái Đen.
Thái Trắng có thể chia thành hai nhóm địa phương: Nhóm thứ nhất cư
trú ở phía Bắc ở các huyện Mường Lay, Mường Tè, Phong Thổ, một phần ở
Tuần Giáo (Lai Châu), Quỳnh Nhai, Sình Hồ, Tủa Chùa và xã Ngọc Chiến
thuộc Mường La, Sơn La. Về đại thể, nhóm này có những đặc trưng văn hóa
của một nhóm địa phương thống nhất như: cùng một vùng thổ ngữ, cùng một
loại hình sinh hoạt phong tục tập quán, văn học, nghệ thuật, tôn giáo…Nhóm
thứ hai, phân bố ở phía Nam trong các huyện Mộc Châu, Phù Yên (Sơn La)
triển của người Thái, quýý tộc thống trị Mường Lay đã bành trướng thế lực
khắp nơi. Phía Bắc phát triển tới giáp tỉnh Vân Nam (Trung Quốc). Từ
13
Mường Tè ở phía Đông kéo sang đầu Nặm U (Thượng Lào) ở phía Tây. Phía
Nam phát triển dọc theo sông Đà từ Mường Chiên (Quỳnh Nhai) xuống đến
miền đất thuộc huyện Mường La ngày nay.
Phía Nam, sau đợt thiên di của người Thái Trắng từ Lào sang, bản
mường bắt đầu xuất hiện. Khoảng cuối thế kỷ thứ VIII đầu thế kỷ thứ IX dưới
thời chúa Nhọt Cằm, Mường Sang đã trở thành trung tâm của vùng này. Thế
lực của quýý tộc Mường Sang đã ảnh hưởng khắp khu vực rộng lớn. Phía Bắc
đến vùng đất thuộc Mường Vạt (Yên Châu), Phia Đông là đất Mường Tấc
(Phù Yên, Sơn La). Phía Tây và miền Tây Nam là miền đất thuộc Mường ét,
Chiềng Cọ (Sầm Nưa- Thượng Lào), và phía Nam là vùng đất thuộc hai
huyện Đà Bắc, Mai Châu thuộc Hòa Bình ngày nay.
Khu vực giữa- sau khi Lạng trượng thu phục đất Mường Thanh, con
cháu ông đã nối nghiệp nhau thống trị đất này. Càng về sau anh em trưởng
thứ của quýý tộc càng trở nên bất hòa. Lợi dụng tình thế đó, các thế lực của
quýý tộc Mường Lay và người Lự ở Thượng Lào đã đánh đuổi quýýý tộc
Thái Đen ở Mường Thanh. Con cháu Lạng Trượng phải dần về ở Mường
Muổi. Sau khi ổn định tại Mường Muổi, họ lại bắt đầu bành trướng khắp vùng
cư trú của người Thái Đen, kéo suốt từ vùng hữu ngạn sông Hồng sang sông
Mã. Từ đó, trung tâm Mường Muổi thời chúa Lò Lẹt đã nổi tiếng khắp vùng
Tây Bắc. Theo nhà nghiên cứu Cầm Trọng trong cuốn “Người Thái ở Tây
Bắc Việt Nam”, ông đã dựa trên các tài liệu lịch sử và cho rằng: Vào khoảng
thế kỷ X cho đến thế kỷ XIV, do quýý tộc Thái Đen đã sớm quy thuận triều
đình và được triều đình tin dùng, nên đã tạo điều kiện cho thế lực này ở trung
tâm Mường Muổi phát triển nhanh chóng. Vào cuối thế kỷ thứ XIV, nơi đây
đã trở thành trung tâm thống nhất bộ tộc Thái ở phía Tây. Đây là bước phát
của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài
người đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi
hỏi của sự sinh tồn [35, tr. 431].
15
Trong diễn văn khai mạc lễ phát động “Thập niên quốc tế phát triển văn
hóa” tại Pháp (21/1/1998), Tổng thư kýý UNESCO định nghĩa:
Văn hóa phản ánh và thể hiện một cách tổng quát sống động
mọi mặt của cuộc sống (của mỗi cá nhân và cộng đồng) đã diễn ra
trong quá khứ, cũng như đang diễn ra trong hiện tại, qua hàng bao
thế kỷ, nó đã cấu thành nên một hệ thống các giá trị, truyền thống,
thẩm mỹ và lối sống mà dựa trên đó từng dân tộc tự khẳng định bản
sắc riêng của mình [72, tr. 23].
UNESCO thừa nhận văn hóa là cội nguồn trực tiếp của phát triển xã hội,
có vị trí trung tâm và đóng vai trò điều tiết xã hội. Nó không những là yếu tố
nội sinh của sự phát triển, mà còn là mục tiêu động lực cho sự phát triển xã
hội. Văn hóa giúp cho con người tự hoàn thiện, nó quyết định tính cách riêng
của một xã hội, làm cho dân tộc này khác dân tộc khác.
Nghiên cứu về văn hóa các nhà văn hóa Việt Nam cũng đưa nhiều định
nghĩa khác nhau: “Văn hóa là tất cả những sản phẩm vật chất và không vật
chất của hoạt động con người, là giá trị và phương thức xử thế được công
nhận, đã khách thể hóa và thừa nhận trong một cộng đồng truyền lại cho một
cộng đồng khác và cho các thế hệ mai sau” [28, tr.11]. Định nghĩa này nhấn
mạnh trong văn hóa bao gồm các sản phẩm vật chất và các hệ thống giá trị
các mẫu mực xử thế và các hệ thống hành vi. Vấn đề cần được nhấn mạnh ở
đây là trong khái niệm văn hóa, điều quan trọng là phải được thừa nhận hoặc
có nhiều khả năng được thừa nhận trong một nhóm xã hội, và được truyền bá
cho các cá thể hoặc các nhóm trong cộng đồng.
“Văn hóa là khái niệm dùng để chỉ tổng thể những năng lực bản chất
dân tộc, văn hóa của các tộc người đan xen, hấp thụ lẫn nhau tạo nên nét
17
chung của văn hóa quốc gia, của cả cộng đồng dân tộc, và mỗi nền văn hóa
đều có những giá trị riêng của nó.
Giá trị văn hóa: “là cái dùng để căn cứ vào đó mà xem xét, đánh giá, so
sánh nền văn hóa của dân tộc này với nền văn hóa của dân tộc khác, là cái để
xác định bản sắc văn hóa của một dân tộc, những nét đặc thù về truyền thống,
phong tục, tập quán, lối sống của một dân tộc trên nền tảng các giá trị chân,
thiện, ích, mỹ” [60, tr.19]
Bản chất đặc trưng của văn hóa là chiều cạnh trí tuệ, năng lực sáng tạo,
khát vọng nhân văn biểu hiện ở hoạt động sống của mỗi cá nhân, cộng đồng,
dân tộc. Mục đích của giá trị văn hóa là nhằm hướng tới các giá trị nhân bản,
hướng tới sự hoàn thiện của mỗi cá nhân và của cộng đồng, dân tộc. Mặc dù,
tiêu chuẩn của các giá trị văn hóa của các cộng đồng, dân tộc là không như
nhau. Giá trị văn hóa còn mang tính khách quan, không phụ thuộc vào bất cứ
cái gì từ bên ngoài áp đặt vào để trở thành văn hóa của một cộng đồng, một
dân tộc. Không thể căn cứ vào văn hóa của một dân tộc nào đó để làm tiêu chí
xem xét, đánh giá nền văn hóa của các dân tộc còn lại là cao hay thấp, phát
triển hay không…điều đó sẽ rơi vào bệnh chủ quan, tạo nên sự nô dịch hay sự
áp đặt về văn hóa.
Có thể nói, giá trị văn hóa của mỗi cộng đồng, dân tộc như là “mật mã di
truyền xã hội” của tất cả các thành viên sống trong cộng đồng, dân tộc đó, đã
được tích lũy lắng đọng trong quá trình hoạt động của mình. Chính quá trình
đó đã hình thành nên bản sắc văn hóa riêng của dân tộc họ. Cộng đồng sẽ bền
vững khi nó trở thành dân tộc. Yếu tố dân tộc là yếu tố quyết định nhất của một
nền văn hóa, bởi: “Nói đến văn hóa là nói đến dân tộc; một dân tộc đánh mất
truyền thống văn hóa và bản sắc dân tộc thì dân tộc ấy sẽ mất tất cả” [65, tr.13].
Một dân tộc đánh mất bản sắc văn hóa, dân tộc ấy đã đánh mất chính mình,
khóa của tự do, độc lập [6, tr. 48].
19
Bản sắc văn hóa còn là mối liên hệ thường xuyên, có định hướng của cái
riêng (văn hóa dân tộc) và cái chung (văn hóa nhân loại). Mỗi dân tộc trong
quá trình giao lưu văn hóa, sẽ cống hiến những gì đặc sắc của mình vào kho
tàng văn hóa chung. Đồng thời tiếp nhận có lựa chọn, nhào nặn thành giá trị
của mình, tạo ra sự khác biệt trong cái đồng nhất đó chính là bản sắc văn hóa
của một dân tộc. Bản sắc văn hóa dân tộc không phải là một biểu hiện nhất
thời, nó có mối liên hệ lâu dài, sâu sắc và bền vững trong lịch sử và đời sống
văn hóa dân tộc.
Bản sắc dân tộc gắn liền với văn hóa và thường được biểu hiện thông
qua văn hóa. Vì vậy, có thể coi bản sắc dân tộc của văn hóa hoặc bản sắc văn
hóa dân tộc: “Bản sắc chính là văn hóa, song không phải bất cứ yếu tố văn
hóa nào cũng được xếp vào bản sắc. Người ta chỉ coi những yếu tố văn hóa
nào giúp phân biệt một cộng đồng văn hóa này với một cộng đồng văn hóa
khác là bản sắc” [64, tr.13].
“Bản sắc văn hóa dân tộc” là tổng hòa những khuynh hướng cơ bản
trong sáng tạo văn hóa của một dân tộc, vốn được hình thành trong mối liên
hệ thường xuyên với điều kiện kinh tế, môi trường tự nhiên, các thể chế, các
hệ tư tưởng…trong quá trình vận động không ngừng của dân tộc đó” [18, tr.
37].
Khi nói tới bản sắc văn hóa của một dân tộc, cũng có nghĩa là nói tới
bản sắc riêng của dân tộc ấy, hay nói cách khác bản sắc văn hóa là cái cốt lõi
của bản sắc dân tộc. Bởi bản sắc của dân tộc không thể biểu hiện ở đâu đầy đủ
và rõ nét hơn ở văn hóa. Sức sống trường tồn của một nền văn hóa khẳng định
sự tồn tại của một dân tộc, khẳng định bản sắc và bản lĩnh của dân tộc ấy.
Bản sắc văn hóa dân tộc có hai mặt giá trị. Giá trị tinh thần bên trong
và biểu hiện bên ngoài của bản sắc dân tộc có mối quan hệ khăng khít củng cố
biến, cố định hoặc khép kín mà nó luôn vận động mang tính lịch sử cụ thể.
Trong quá trình này nó luôn đào thải những yếu tố bảo thủ, lạc hậu và tạo lập
những yếu tố mới để thích nghi với đòi hỏi của thời đại. Truyền thống cũng
21
không phải chỉ bao hàm các giá trị do dân tộc sáng tạo nên, mà còn bao hàm
cả các giá trị từ bên ngoài được tiếp nhận một cách sáng tạo và đồng hóa nó,
biến nó thành nguồn lực nội sinh của dân tộc.
Văn hóa truyền thống các dân tộc thiểu số gồm nhiều loại hình, nhiều
tầng, nhiều lớp, nhiều sắc màu, nhiều mức độ và quy mô khác nhau, tạo nên
giá trị to lớn là nền tảng bền vững của bản sắc dân tộc. Nguồn nuôi dưỡng vô
tận tâm hồn và đời sống tinh thần của đồng bào các dân tộc. Đây là kho của
cải vô giá, di sản vô cùng quý báu của văn hóa Việt Nam. Việc nhận diện
đúng về bản sắc văn hóa mỗi dân tộc và các dân tộc thành viên là việc làm hết
sức có ýý nghĩa. Bởi lẽ, việc giữ gìn, kế thừa và phát huy bản sắc văn hóa dân
tộc phải có sự chặt chẽ, hài hòa và thực hiện theo định hướng, đường lối của
Đảng, Nhà nước và ýý thức dân chủ tự nguyện của nhân dân.
1.1.2.2. Văn hóa của dân tộc Thái
Nói đến văn hóa của dân tộc Thái là ta nói đến hệ thống những giá trị
văn hóa do chính cộng đồng tộc người đó tạo ra và là sản phẩm của con người
bao gồm nhiều lĩnh vực khác nhau: văn hóa vật chất, văn hóa tinh thần và văn
hóa thiết chế xã hội...Như đã trình bày ở phạm vi nghiên cứu, luận văn chỉ
trình bày những giá trị văn hóa đặc trưng thuộc về văn hóa của dân tộc Thái:
Trước hết, nói đến văn hóa của dân tộc Thái là phải nói đến một loại
hình văn hóa thung lũng. Bởi lẽ, với những đặc điểm đặc thù về điều kiện tự
nhiên của miền Tây Bắc đã hình thành nên một nền văn hóa tương ứng, đó là
loại hình văn hóa thung lũng.
Nói đến văn hóa thung lũng, nghĩa là muốn nói đến mối quan hệ giữa
tộc người này với môi trường sinh sống là thung lũng lòng chảo. Điều này
mạnh và cơ chế thị trường thì liệu có thể giữ gìn và phát huy được dòng
truyền thống này không? Điều này còn phụ thuộc vào khả năng phát huy bản
23
lĩnh và bản sắc dân tộc đã tạo ra được các mô hình thích nghi mới trong hệ
sinh thái nhân văn của mình.
- Các giá trị văn hóa vật chất:
+ Văn hóa nông nghiệp Thái: Sống với điều kiện tự nhiên môi sinh có
nhiều điểm đặc thù cho nên, định hướng tác động trong khai thác tự nhiên
truyền thống của người Thái là đồng ruộng lòng chảo và nương rẫy trên sườn
núi. Hàng ngàn năm nay, dân tộc này đã có những biện pháp dẫn thuỷ nhập
núiđiền, đúc rút được tập quán làm thuỷ lợi bằng biểu tượng ngôn ngữ (điều
mà không phải bất cứ cộng đồng người làm ruộng nào cũng làm được). Người
Thái có bốn chữ nói lên bốn giải pháp: Mương, Phai, Lái, Lin. “Đây là mặt
biểu hiện cụ thể của văn hóa lúa nước có cội nguồn từ cư dân nói tiếng TàyThái cổ, trải qua các giai đoạn lịch sử của nó, không những đọng lại trong
ngôn ngữ Thái mà còn có ở ngôn ngữ văn hóa Việt - Mường” [10]. Yếu tố
đầu tiên trong văn hóa mưu sinh của tộc người Thái là việc làm ruộng nước,
nó trở thành động lực phát triển lịch sử cộng đồng tộc người theo mạch vừa tụ
cư, vừa định cư, lan tỏa chung cho cả nhóm nói tiếng Thái. Việc khai khẩn
vùng đất hoang vu thành cánh đồng trồng lúa trở thành hàng đầu trong hệ
thống kinh tế cổ truyền Thái. Trong đó, cùng với việc vỡ đất phải giải quyết
ngay khâu dẫn nước từ các dòng chảy tự nhiên vào tưới tiêu, sao cho cánh
đồng trồng lúa hợp lý với vùng tự nhiên của nó. Từ đó, dòng nước thiên nhiên
gắn chặt với các khâu của công trình thủy lợi truyền thống, mà người Thái
quen lấy Mương làm tiêu biểu chung “có nước mới có mương, có mường mới
có Tạo”. Nước đã sinh ra tổ chức xã hội mang tên Mường, mường xưa có
người đứng đầu mang tên Tạo. Tạo lại trở thành pháp nhân đứng ra tổ chức xã
hội, tác động và biến tự nhiên thành ruộng lúa, cung cấp cho con người thóc
gạo. Giải pháp nước (văn hóa Thủy lợi) được người ta đặt lên hàng đầu trong
cũng được người chủ mài sắc.
25
Cày và Mai là công cụ không thể thiếu được trong sản xuất trên đồng
áng của dân tộc Thái. Theo truyền thống, cày và mai là công cụ lao động của
nam giới vì cho rằng đây là công việc nặng nhọc, phụ nữ kiêng không sử
dụng công cụ này. Ngoài dao, rìu việc làm nương còn có các công cụ khác
như chiếc cuốc, vách, thuổng. Công cụ để gieo hạt là chiếc gậy vót nhọn để
chọc lỗ tra hạt. Trong quá trình làm ruộng còn có chiếc bừa, theo cách làm ăn
xưa thường làm bừa răng gỗ. Công cụ thu hoạch gồm có: liềm, nhíp, néo, ván
đập lúa và quạt đan tay bằng tre, nứa...
+ Nhà ở: Theo truyền thống thì người Thái ở nhà sàn làm bằng gỗ, tre,
nứa…lợp bằng cỏ tranh. Họ hiểu, không chỉ riêng dân tộc mình ở nhà sàn,
nhưng ở trong tâm thức vẫn coi đây như một trong những nét văn hóa của dân
tộc mình. Điều này được biểu hiện trong câu tục ngữ: “nhà Thái - nhà có gác
- đầu hồi có cột”. Nhà sàn của người Thái không phải dùng đến một mẩu sắt
nào trong thiết kế xây dựng. Thay vào những cái đinh đóng là cả một hệ
thống dây chằng, buộc, thắt khá công phu và tinh xảo bằng lạt tre, giang, mây
và một số loại vỏ cây chuyên dụng. Để nối các cột kèo, người ta dùng những
đòn dầm xuyên suốt các lỗ đục của các cột làm cho ngôi nhà rất chắc chắn, đủ
sức chống nắng, mưa, gió, bão...Nhìn vào cấu trúc mái, có thể phân biệt được
kiểu nhà của từng nhóm địa phương khác nhau. Nhà sàn của người Thái Đen
và Thái Trắng ở Mộc Châu, Sơn La thì có mái “vòm khum mai rùa” và
thường đặt ở hai đầu hồi biểu tượng tạc bằng gỗ quét vôi trắng hai thanh tre,
tựa như hai đôi sừng gọi là khau cút. Nhà sàn của người Thái trắng ở Mường
Lay, Mường Tè, Phong Thổ (Lai Châu) do có mặt phẳng hình chữ nhật gần
vuông nên có 4 mái thẳng và gấp góc...Nếp nhà sàn là một đơn vị không gian
chứa đựng tế bào của xã hội. Đó có thể là một gia đình nhỏ gồm một cặp vợ
chồng và con cái chưa đến tuổi trưởng thành, cũng có thể là tổ hợp gia đình