Áp dụng pháp luật trong giải quyết án hôn nhân và gia đình qua thực tiễn tòa án nhân dân thị xã phổ yên tỉnh thái nguyên - Pdf 42

I HC QUC GIA H NI
KHOA LUT

NGUYN TH THU H

áP DụNG PHáP LUậT
TRONG GIảI QUYếT áN HÔN NHÂN Và GIA ĐìNH QUA THựC TIễN TòA áN NHÂN DÂN THị Xã PHổ YÊN
TỉNH THáI NGUYÊN

LUN VN THC S LUT HC

H NI - 2016


I HC QUC GIA H NI
KHOA LUT

NGUYN TH THU H

áP DụNG PHáP LUậT
TRONG GIảI QUYếT áN HÔN NHÂN Và GIA ĐìNH QUA THựC TIễN TòA áN NHÂN DÂN THị Xã PHổ YÊN
TỉNH THáI NGUYÊN
Chuyờn ngnh: Lý lun v lch s Nh nc v phỏp lut
Mó s: 60 38 01 01

LUN VN THC S LUT HC

Ngi hng dn khoa hc: TS. PHM TH DUYấN THO

H NI - 2016


1.1.1 Khái niệm vụ án HN&GĐ..............................................................................8
1.1.2. Khái niệm ADPL trong giải quyết các vụ án HN&GĐ của TAND cấp huyện .......10
1.1.3. Đặc điểm ADPL trong giải quyết các vụ án HN&GĐ của TAND cấp huyện.........11
1.1.4. Vai trò ADPL trong giải quyết các vụ án HN&GĐ của TAND ..................13
1.2.
Cơ sở pháp lý, các trường hợp và nguyên tắc ADPL trong giải
quyết các vụ án HN&GĐ của TAND cấp huyện .....................................16
1.2.1. Cơ sở pháp lý................................................................................................16
1.2.2. Các trường hợp ADPL .................................................................................17
1.2.3. Nguyên tắc áp dụng ......................................................................................19
1.3.
Các giai đoạn ADPL trong giải quyết các vụ án HN &GĐ của TAND ........22
1.3.1. Giai đoạn phân tích những tình tiết khách quan của vụ án HN&GĐ
và các đặc trưng pháp lý của vụ án ..............................................................22
1.3.2. Giai đoạn làm sáng tỏ tư tưởng và nội dung của QPPL hôn nhân gia
đình và lựa chọn các QPPL về dân sự, tố tụng dân sự tương ứng để
giải quyết vụ án HN&GĐ ............................................................................25
1.3.3. Giai đoạn ra quyết định ADPL hoặc ra một bản án để giải quyết vụ
án HN&GĐ ..................................................................................................27
1.4.
Hiệu quả của hoạt động ADPL .................................................................34
1.4.1. Các yếu tố tác động đến hiệu quả ADPL trong giải quyến vụ án HN&GĐ ......34
1.4.2. Các tiêu chí đánh giá hiệu quả hoạt động ADPL trong giải quyết vụ
án HN&GĐ ..................................................................................................38
Kết luận chương 1 ...................................................................................................41


Chương 2: THỰC TRẠNG ÁP DỤNG PHÁP LUẬT TRONG GIẢI
QUYẾT CÁC VỤ ÁN HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH CỦA TÒA
ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ PHỔ YÊN - TỈNH THÁI NGUYÊN

Các quan điểm và yêu cầu cơ bản về nâng cao hiệu quả ADPL
trong giải quyết các vụ án HN&GĐ của TAND ......................................90
3.1.1. Các quan điểm cơ bản về ADPL ..................................................................90
3.1.2. Các yêu cầu đối với ADPL trong giải quyết án HN&GĐ của TAND .........91
3.2.
Các giải pháp chung nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả ADPL
trong giải quyết các vụ án HN&GĐ của TAND ......................................93


3.2.1. Hoàn thiện các quy định pháp luật liên quan đến ADPL giải quyết vụ
án về HN&GĐ làm cơ sở pháp lý cho hoạt động APPL của các
TAND trong giải quyết án HNGĐ ...............................................................93
3.2.2. Tăng cường cơ chế chịu trách nhiệm cá nhân của Thẩm phán và các
thành viên HĐXX trong quá trình ra bản án, quyết định ADPL giải
quyết các vụ án hôn nhân gia đình ...............................................................96
3.2.3. Tăng cường công tác giám đốc kiểm tra đối với việc giải quyết các vụ
án HN&GĐ của TAND cấp trên đối với cấp huyện ....................................99
3.3.
Các giải pháp nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động ADPL giải
quyết án HN&GĐ ở Tòa án nhân dân thị xã Phổ Yên, Thái Nguyên.....101
3.3.1. Nâng cao năng lực, kỹ năng nghề nghiệp của Thẩm phán phụ trách
giải quyết các vụ án về HN&GĐ của TAND thị xã Phổ Yên ở tỉnh
Thái Nguyên ...............................................................................................101
3.3.2. Sự cần thiết lựa chọn Hội thẩm nhân dân tham gia hòa giải, xét xử vụ
án HN&GĐ là những thành viên đang công tác tại các khối cơ quan,
đoàn thể ......................................................................................................103
3.3.3. Hoàn thiện cơ chế và tăng cường việc áp dụng các tập quán tích cực
của TAND thị xã Phổ Yên trong quá trình giải quyết vụ án HN&GĐ ......106
3.3.4. Nâng cao sự phối hợp của tòa án thị xã Phổ Yên với các cơ quan, tổ
chức hữu quan trong quá trình hòa giải các vụ án hôn nhân gia đình


Hội đồng xét xử

HLPL:

Hiệu lực pháp luật.

HN&GĐ:

Hôn nhân và gia đình

HTND:

Hội thẩm nhân dân

QPPL:

Quy phạm pháp luật

TAND:

Tòa án nhân dân

TANDTC:

Tòa án nhân dân tối cao


DANH MỤC CÁC BẢNG


của những người vợ, người chồng, đây cũng là mục đích của việc xây dựng gia đình
mà pháp luật đặt ra.
Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp, quan hệ hôn nhân do chịu sự tác động
của nhiều yếu tố chủ quan và khách quan, đã không giữ được ý nghĩa và giá trị như
mong muốn ban đầu, cuộc sống chung của vợ, chồng đã không còn hạnh phúc, nên
pháp luật dự liệu khả năng cho họ quyền được giải phóng khỏi quan hệ hôn nhân
bằng việc ly hôn. Nội dung của điều chỉnh pháp luật không chỉ là các quy định về
quyền và nghĩa vụ của các chủ thể, mà còn là các phương thức, biện pháp, các
nguyên tắc giải quyết các tranh chấp xảy ra trong quá trình chung sống.
Theo quy định của pháp luật hiện hành, thì Tòa án là cơ quan có thẩm quyền
xét xử các vụ án tranh chấp, trong đó có các tranh chấp về HN&GĐ. Hiến pháp
2013 quy định:
TAND là cơ quan xét xử của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt
Nam, thực hiện quyền tư pháp. TAND gồm TAND tối cao và các Tòa án
khác do luật định. TAND có nhiệm vụ bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con
người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của
Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân [47].

1


Để đảm bảo xét xử các vụ án HN&GĐ được nghiêm minh, đúng pháp luật,
bảo vệ quyền và lợi ích của các bên đương sự, Tòa án vừa phải áp dụng đúng đường
lối, chính sách pháp luật, vừa phải tuân thủ nghiêm ngặt các quy định về tố tụng.
Ở TAND thị xã Phổ Yên của tỉnh Thái Nguyên, trong những năm qua số lượng
án về HN&GĐ có chiều hướng gia tăng, tỷ lệ án về HN&GĐ luôn chiếm hơn ½ lượng
án phải giải quyết. Đối với loại án này, mỗi vụ án có nội dung đa dạng và tính phức tạp
cũng khác nhau, nên việc ADPL để giải quyết loại án này gặp không ít khó khăn trong
nhận thức vận dụng pháp luật cũng như những khó khăn từ khách quan mang lại, bởi
quan hệ pháp luật về HN&GĐ là loại quan hệ đặc thù, về nhận thức, về kinh nghiệm

ADPL trong vụ án HN&GĐ sai cả về luật nội dung và luật hình thức. Vì thế, nên
Tòa án cấp trên phải huỷ hoặc sửa bản án của Tòa án cấp dưới làm vụ án kéo dài
nhiều năm, qua nhiều cấp xét xử ảnh hưởng đến quyền và lợi ích của công dân. Mặc
dù, số bản án bị sửa, huỷ không nhiều nhưng đây cũng là nhược điểm mà ngành Tòa
án luôn cố gắng tìm cách để nâng cao chất lượng nhằm hạn chế đến mức thấp nhất
các vụ án bị sửa, huỷ. Thực tiễn trong hoạt động xét xử của các TAND đã và đang đặt
ra những yêu cầu vừa cấp bách, vừa lâu dài để không ngừng nâng cao chất lượng xét
xử và đáp ứng yêu cầu của công cuộc đổi mới và cải cách tư pháp hiện nay.
Xuất phát từ lý do trên, tôi chọn đề tài: "Áp dụng pháp luật trong giải quyết
án Hôn nhân và gia đình - qua thực tiễn TAND thị xã Phổ Yên tỉnh Thái Nguyên"
làm luận văn thạc sĩ chuyên ngành Lý luận và lịch sử Nhà nước và pháp luật.
Qua đề tài này, tác giả mong muốn góp phần nâng cao chất lượng ADPL
trong hoạt động giải quyết án HN&GĐ của ngành Tòa án nói chung và TAND thị
xã Phổ Yên ở tỉnh Thái Nguyên nói riêng, góp phần đáp ứng được yêu cầu của công
cuộc cải cách nền tư pháp ở nước ta.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
ADPL trong việc giải quyết các vụ án nói chung và ADPL trong giải quyết
án HN&GĐ nói riêng đã được giới khoa học pháp lý và nhất là những người trực
tiếp làm công tác xét xử của ngành Tòa án quan tâm nghiên cứu. Đã có nhiều công
trình nghiên cứu, bài viết đề cập đến một số khía cạnh về những vấn đề liên quan
đến đề tài như:
- Nguyễn Văn Cừ (2005), Chế độ tài sản của vợ chồng theo Luật HN&GĐ
Việt Nam, Luận án tiến sĩ, Trường Đại học luật Hà Nội; Ngô Vĩnh Bạch Dương
(2001), “Vấn đề áp dụng hai cấp xét xử trong tố tụng dân sự ở Việt nam”, Tạp chí

3


Nhà nước và Pháp luật, (8), tr.53-60; Nguyễn Minh Đoan (1996), "ADPL- Một số
vấn đề cần quan tâm", Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, (3), tr.14-18; Lê Thu Hà


5


4.2. Phạm vi nghiên cứu
Luận văn xem xét nghiên cứu tình hình ADPL để giải quyết vụ án HN&GĐ
của Tòa án nhân dân cấp huyện, qua thực tiễn tại thị xã Phổ Yên, trong khoảng thời
gian từ năm 2011 đến năm 2015.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn
5.1. Cơ sở lý luận
Luận văn được thực hiện trên cơ sở lý luận của Chủ nghĩa Mác- Lênin, tư
tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp luật, dựa trên các quan điểm đường lối,
chính sách của Đảng ta về xây dựng chế độ HN&GĐ mới trên cơ sở bình đẳng giới,
bảo vệ bà mẹ và trẻ em, xây dựng Nhà nước pháp quyền của dân, do dân, vì dân;
đặc biệt là quan điểm của Đảng chỉ đạo về cải cách tư pháp trong thời gian tới.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Cơ sở phương pháp luận nghiên cứu đề tài là phép duy vật biện chứng, duy
vật lịch sử và các quan điểm của Đảng, pháp luật của Nhà nước điều chỉnh quan hệ
HN&GĐ. Phương pháp nghiên cứu cụ thể: Trong quá trình nghiên cứu, tác giả sử
dụng phương pháp phân tích, so sánh, tổng hợp, thống kê, mô hình hoá và đồng thời
nghiên cứu những báo cáo công tác xét xử của Toà án, các bản án của Toà án giải
quyết các tranh chấp về HN&GĐ, các bài viết, tham luận của một số tác giả về vấn
đề nghiên cứu.
6. Những đóng góp về khoa học của luận văn
- Luận văn làm sáng tỏ cơ sở lý luận và thực tiễn của hoạt động ADPL trong
giải quyết án HN&GĐ, làm rõ những đặc thù của loại án này ở tỉnh Thái Nguyên.
- Trên cơ sở đánh giá thực trạng, chỉ ra những bất cập trong hoạt động ADPL
giải quyết án HN&GĐ ở TAND thị xã Phổ Yên và đề ra các giải pháp có tính khả
thi nhằm đảm bảo ADPL trong hoạt động giải quyết án HN&GĐ ở tỉnh Thái
Nguyên có hiệu quả, đáp ứng yêu cầu của công cuộc cải cách tư pháp.

CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP HUYỆN
1.1. Khái niệm, đặc điểm, vai trò ADPL trong việc giải quyết các vụ án
HN&GĐ của TAND cấp huyện
1.1.1. Khái niệm vụ án HN&GĐ
Hôn nhân là hiện tượng xã hội, là sự liên kết giữa người đàn ông và người
đàn bà. Trong xã hội có giai cấp, hôn nhân mang tính giai cấp. Dưới chế độ xã hội
chủ nghĩa, hôn nhân là sự liên kết giữa người đàn ông và người đàn bà được pháp
luật thừa nhận để xây dựng gia đình và chung sống với nhau suốt đời. Sự liên kết đó
phát sinh, hình thành do việc kết hôn và được biểu hiện ở một quan hệ xã hội gắn
liền với nhân thân, đó là quan hệ vợ chồng. Quan hệ này là quan hệ giới tính, thực
chất và ý nghĩa của nó biểu hiện trong việc sinh đẻ, nuôi nấng, giáo dục con cái, đáp
ứng cho nhau những nhu cầu tinh thần và vật chất trong đời sống hàng ngày.
Ở nước ta hiện nay, hôn nhân theo Luật HN&GĐ Việt Nam là sự liên kết giữa
một người đàn ông và một người đàn bà trên nguyên tắc hoàn toàn tự nguyện, bình đẳng
theo quy định của pháp luật để chung sống với nhau suốt đời, xây dựng gia đình hạnh
phúc, dân chủ, hoà thuận và bền vững, khoản 1 Điều 3 Luật HN&GĐ năm 2014 giải
thích: "Hôn nhân là quan hệ giữa vợ và chồng sau khi đã kết hôn” [48, tr.16].
Xã hội loài người đã trải qua nhiều hình thái gia đình khác nhau, gia đình là
sản phẩm của xã hội, đã phát sinh và phát triển cùng với sự phát triển của xã hội.
Do vậy, gia đình là hình ảnh thu nhỏ của xã hội, là tế bào của xã hội. Trong mỗi
hình thái kinh tế - xã hội khác nhau, tính chất và kết cấu của gia đình cũng khác
nhau. Gia đình xã hội chủ nghĩa là hình thái cao nhất trong lịch sử, chế độ xã hội
chủ nghĩa quyết định sự xuất hiện và phát triển của gia đình xã hội chủ nghĩa. Quan
hệ bình đẳng về mọi mặt giữa vợ chồng trong gia đình xã hội chủ nghĩa phản ánh
mối quan hệ bình đẳng giữa nam và nữ trong gia đình cũng như ngoài xã hội, khoản

8


2 Điều 3 Luật HN&GĐ năm 2014 của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam



HN&GĐ, được Tòa án xem xét giải quyết theo trình tự và thủ tục quy định tại Bộ
luật Tố tụng Dân sự.
1.1.2. Khái niệm ADPL trong giải quyết các vụ án HN&GĐ của TAND cấp huyện
Trong tổ chức bộ máy Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Tòa
án là cơ quan duy nhất có thẩm quyền xét xử. Hiến pháp năm 1946, Hiến pháp đầu
tiên của Nhà nước Việt Nam độc lập, mặc dù không quy định rõ Tòa án là cơ quan
xét xử, nhưng trên tinh thần của Hiến pháp chúng ta cũng có thể hiểu Tòa án là cơ
quan xét xử. Các bản Hiến pháp 1959, 1980 và 1992 đã quy định rõ về chức năng
xét xử của Tòa án, Điều 127, Hiến pháp 1992 đã quy định: "TAND tối cao, các
TAND địa phương, các Tòa án quân sự và các Tòa án khác do luật định là cơ quan
xét xử của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam" [39, tr.64]. Trên cơ sở Hiến
pháp, Điều 1, Luật Tổ chức TAND quy định về chức năng xét xử của Tòa án: "Tòa
án xét xử những vụ án về hình sự, dân sự, HN&GĐ, lao động, kinh tế, hành chính
và giải quyết những việc khác theo quy định của pháp luật" [49, tr.7].
Trong quá trình giải quyết các vụ án, Tòa án phải ADPL. Đối với các vụ án
HN&GĐ, khi có tranh chấp xảy ra, các đương sự không tự mình giải quyết được thì
theo quy định của pháp luật, đương sự có quyền gửi đơn đến TAND cấp có thẩm
quyền để yêu cầu giải quyết nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Theo
quy định của BLTTDS năm 2004 của Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
được sửa đổi, bổ sung năm 2011, khi nhận được đơn khởi kiện, TAND phải ADPL
xem xét nếu thấy đủ điều kiện thụ lý thì thụ lý vụ án và giải quyết theo trình tự, thủ
tục được Bộ luật tố tụng quy định. Quá trình đó bắt đầu từ khi thụ lý vụ án đến khi
ra quyết định hoặc bản án buộc các đương sự thi hành bằng nhiều hình thức như tự
nguyện thi hành hoặc có sự cưỡng chế thi hành của cơ quan thi hành án dân sự.
Theo quy định của BLTTDS hiện hành thì Tòa án là cơ quan tiến hành tố
tụng chủ yếu trong việc áp dụng các QPPL để giải quyết các vụ án dân sự nói
chung, vụ án HN&GĐ nói riêng. Ngoài ra còn có sự tham gia của Viện Kiểm sát
nhân dân trong việc kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động tố tụng dân

thành phố thuộc tỉnh có thẩm quyền giải quyết theo trình tự sơ thẩm những tranh
chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình...; yêu cầu về dân sự, hôn nhân và gia đình.
Từ những quy định nêu trên thấy TAND cấp huyện có đầy đủ thẩm quyền
giải quyết theo trình tự sơ thẩm các vụ án HN&GĐ, trừ những vụ án thuộc thẩm

11


quyền của TAND cấp tỉnh. TAND cấp tỉnh có Tòa Dân sự giải quyết sơ thẩm, phúc
thẩm các vụ án HN&GĐ; Ủy ban thẩm phán xét xử theo thủ tục giám đốc thẩm
hoặc tái thẩm đối với những bản án, quyết định của TAND cấp huyện đã có hiệu lực
bị kháng nghị.
- Án hôn nhân & gia đình là loại án có nguyên nhân đa dạng, phong phú, tính
chất, hậu quả pháp lý phức tạp, Tuy cùng một loại án về HN&GĐ nhưng tính chất
từng vụ án cũng khác nhau. Có những vụ án các đương sự có thiện chí cùng nhau
hướng đến giải quyết vụ việc đơn giản có thể thực hiện việc giải quyết vụ án trong
một thời gian ngắn bằng thủ tục hòa giải. Nhưng nếu có sự tranh chấp thì vụ việc sẽ
kéo dài tuân thủ đầy đủ theo các bước của Luật Tố tụng dân sự.
- Đối tượng của ADPL giải quyết án HN&GĐ là các chủ thể thuộc quan hệ
hôn nhân gia đình, có mối quan hệ đa dạng, thuộc nhiều đời, nhiều thế hệ. Chủ thể
của quan hệ HN&GĐ là cá nhân, tổ chức tham gia quan hệ hôn nhân, được Nhà
nước thừa nhận có quyền và nghĩa vụ pháp lý trong quan hệ pháp luật đó. Quan hệ
pháp luật HN&GĐ có nét riêng biệt: Đó là yếu tố tình cảm gắn bó giữa các chủ thể
là một nét đặc trưng, chính yếu tố này đã quyết định việc các chủ thể, xác lập, duy
trì hay chấm dứt quan hệ pháp luật HN&GĐ.
- Là loại hình ADPL mà chủ thể tiến hành áp dụng - các Thẩm phán - cần
phải có sự thấu hiểu hơn về tâm lý, tình cảm, trạng thái liên quan đến quan hệ hôn
nhân & gia đình của các đương sự trong quá trình áp dụng, có sự chủ động với từng
hoàn cảnh, vụ việc.
- Là hoạt động ADPL có những đặc thù về quy trình áp dụng. Quy trình của

con người, nhân phẩm của các thành viên trong quan hệ HN&GĐ ngay cả khi mục
đích hôn nhân không đạt được, mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể
kéo dài. Bởi: Gia đình là tế bào của xã hội, là cái nôi nuôi dưỡng con người, là môi
trường quan trọng hình thành và giáo dục nhân cách, góp phần vào: xây dựng và
bảo vệ Tổ quốc. Gia đình tốt thì xã hội mới tốt. Mục đích của hôn nhân là xây dựng
gia đình hạnh phúc, duy trì nòi giống... Tuy nhiên, không phải cuộc hôn nhân nào,
gia đình nào cũng đạt được hạnh phúc mà do tác động của nhiều yếu tố dẫn đến
trong gia đình nảy sinh những vấn đề cần được giải quyết. Vì thế, khi có đơn khởi
kiện yêu cầu Tòa án giải quyết thì việc ADPL trong giải quyết các vụ án HN&GĐ
của TAND nhằm xây dựng, hoàn thiện và bảo vệ chế độ HN&GĐ tiến bộ, bảo vệ

13


quyền, lợi ích hợp pháp của các thành viên trong gia đình, thậm chí ADPL cho ly
hôn là một biện pháp giải thoát cho các thành viên trong gia đình khi mục đích hôn
nhân không đạt được, mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài.
- Là hoạt động thông qua Tòa án, góp phần giải quyết các tranh chấp liên quan
đến HN&GĐ khi mà các chủ thể trong quan hệ hôn nhân không tự giải quyết được,
góp phần ổn định trật tự xã hội. Theo quy định của BLTTDS thì: “Tòa án có trách
nhiệm tiến hành hòa giải và tạo điều kiện thuận lợi để các đương sự thỏa thuận với
nhau về việc giải quyết vụ việc dân sự”. Như vậy, trong việc giải quyết vụ án về
HN&GĐ, Tòa án đóng vai trò là trung gian hòa giải, giúp đỡ các bên đương sự thỏa
thuận giải quyết vụ án. Điều này có nghĩa, hòa giải là sự tự nguyện thỏa thuận và thương
lượng giữa các đương sự về việc giải quyết vụ án với sự giúp đỡ của Tòa án nhằm hướng
sự thỏa thuận giữa các đương sự đúng pháp luật và chính sách của Nhà nước.
- Là hoạt động góp phần xây dựng, hoàn thiện và bảo vệ chế độ HN&GĐ
tiến bộ, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các thành viên trong gia đình và quyền
con người. Gia đình được hình thành trước khi Nhà nước và pháp luật ra đời (sự tồn
tại của các hình thái gia đình quần hôn, Pu-na-lu-an, đối ngẫu, một vợ – một chồng

ý thức pháp luật cho nhân dân. Thông qua các phiên hòa giải, các phiên tòa xét xử công
khai..., các chủ thể ADPL sẽ truyền tải những kiến thức pháp luật vào trong quần
chúng nhân dân làm cho nhân dân có niềm tin đối với pháp luật, nâng cao ý thức pháp
luật và từ đó tự giác chấp hành pháp luật. Việc tuyên truyền bảo đảm lồng ghép với các
chương trình, đề án khác có liên quan trên cơ sở tận dụng tối đa và sử dụng hiệu quả
mọi nguồn lực, các hình thức và nội dung tuyên truyền tập trung về một số điểm mới
của Luật Đất đai, Luật HN&GĐ, Luật Bình đẳng giới; tuyên truyền pháp luật về phòng
chống bạo lực gia đình, hôn nhân gia đình, phòng chống mua bán người, phòng chống
bạo lực học đường... Nội dung tuyền truyền bảo đảm chính xác, rõ ràng, đơn giản, thiết
thực, đa dạng; phù hợp với từng đối tượng, truyền thống, văn hóa, bản sắc dân tộc, tôn
giáo, không ảnh hưởng đến bình đẳng giới, danh dự, nhân phẩm, uy tín của nạn nhân
bạo lực gia đình và các thành viên khác trong gia đình.
- Là hoạt động góp phần xây dựng và hoàn thiện pháp luật nói chung và pháp
luật HN&GĐ nói riêng. Trong thực tiễn giải quyết các vụ án HN&GĐ có thể nói hệ
thống pháp luật về HN&GĐ đều phát huy hiệu quả cao. Tuy nhiên, không phải tất
cả QPPL về HN&GĐ đều phát huy hiệu quả cao mà có những quy định không phản

15


ánh đúng hoặc phản ánh không đầy đủ đòi hỏi của cuộc sống, có những quy định đã
trở nên lạc hậu và mất đi tính hiệu quả của mình, có những quy định không thống
nhất dẫn đến áp dụng tùy tiện, có những quan hệ xã hội mà pháp luật không điều
chỉnh tới làm cho người ADPL lúng túng... Do vậy, việc ADPL trong giải quyết các
vụ án HN&GĐ của TAND là nơi kiểm nghiệm thực tiễn các quy định của pháp luật.
Thông qua thực tiễn giải quyết án HN&GĐ có thể phát hiện những bất cập, thiếu
sót của pháp luật để từ đó góp phần quan trọng trong việc xây dựng, hoàn thiện hệ
thống pháp luật nói chung và pháp luật về HN&GĐ nói riêng.
1.2. Cơ sở pháp lý, các trường hợp và nguyên tắc ADPL trong giải quyết
các vụ án HN&GĐ của TAND cấp huyện

dụng là những hướng dẫn xét xử, giải quyết án kiện còn những văn bản pháp quy có
tính hướng dẫn xử sự của các chủ thể (Ví dụ: Điều kiện kết hôn, thủ tục kết hôn) thì
không thể còn giá trị để hướng dẫn sau khi Luật cũ hết hiệu lực.
1.2.2. Các trường hợp ADPL
Theo quy định tại Điều 27 của BLTTDS năm 2004 của Việt Nam thì những
tranh chấp sau đây thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án: Ly hôn, tranh chấp về
nuôi con, chia tài sản khi ly hôn; Tranh chấp về chia tài sản chung của vợ chồng
trong thời kỳ hôn nhân; Tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly
hôn; Tranh chấp về xác định cha, mẹ cho con hoặc xác định con cho cha mẹ; Tranh
chấp về cấp dưỡng; Các tranh chấp khác về HN&GĐ mà pháp luật có quy định.
Tuy nhiên, khi giải quyết các quan hệ về HN&GĐ chủ yếu liên quan đến tranh chấp
ly hôn, nuôi con, phân chia tài sản vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân. Do đó, ngoài
các trường hợp do luật định còn có một số trường hợp cụ thể ADPL sau đây:
Thứ nhất: Trường hợp ADPL giải quyết tranh chấp khi kết hôn trước Luật
HN&GĐ có hiệu lực:
Do đặc điểm lịch sử của nước ta, Luật HN&GĐ năm 1959 (có hiệu lực ngày
13/1/1960), sau khi ban hành, mới chỉ có hiệu lực ở miền Bắc. Theo quy định của
Luật này thì kể từ 13/1/1960, những trường hợp kết hôn vi phạm nguyên tắc một vợ
một chồng là hôn nhân không hợp pháp. Các quan hệ hôn nhân xác lập trước thời
điểm 13/1/1960 không bị điều chỉnh bởi nguyên tắc của Luật HN&GĐ 1959 nên dù
có quan hệ hôn nhân nhiều vợ, nhiều chồng vẫn được coi là hợp pháp (nói chính xác
là không trái pháp luật). Những quan hệ hôn nhân này là hợp pháp nên các chủ thể

17



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status