MỤC LỤC
1
DANH MỤC BẢNG
2
DANH MỤC ĐỒ THỊ
3
DANH MỤC CÁC HỘP
4
DANH MỤC VIẾT TẮT
-
Từ viết tắt
SXNN
NN
SL
CC
CN- TTCN
TM - DV
Quy mô nhỏ
Ti vi
5
TÓM TẮT KHÓA LUẬN
Chăn nuôi là một bộ phận quan trọng của ngành nông nghiệp, là hoạt
động kinh tế chủ yếu của đa số hộ gia đình ở nông thôn. Ở xã Mộc Bắc cũng
vậy, bò sữa là vật nuôi đem lại nguồn thu nhập cao cho các hộ gia đình nhưng
chăn nuôi bò sữa đòi hỏi người dân có trình độ kỹ thuật cao trong khi các hộ
dân ở đây chủ yếu chăn nuôi bằng kinh nghiệm là chính điều này làm cho
chăn nuôi bò sữa tiềm ẩn nhiều rủi ro. Chăn nuôi bò sữa ở hộ gia đình có sự
tham gia của cả vợ và chồng, để công tác quản lý rủi ro đạt hiệu quả cao nhất
và đạt được bình đẳng giới trong các hoạt động kinh tế nói chung và quản lý
rủi ro ở nông hộ nói riêng, cần thiết phải nghiên cứu vai trò của giới trong
quản lý rủi ro.
Đề tài: “Vai trò của giới đối với quản lý rủi ro trong chăn nuôi bò sữa
tại các hộ nông dân xã Mộc Bắc, huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nam”
Mục tiêu cụ thể
•
Hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về vai trò của giới đối với quản
lý rủi ro trong chăn nuôi bò sữa tại các hộ nông dân.
•
Phân tích vai trò của giới đối với quản lý rủi ro trong chăn nuôi bò sữa
tại các hộ nông dân xã Mộc Bắc, huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nam.
phương pháp phỏng vấn trực tiếp cán bộ phụ trách quản lý chăn nuôi bò sữa của
xã, điều tra chọn mẫu 60 hộ chăn nuôi bò sữa trong đó có 40 hộ quy mô nhỏ
chăn nuôi dưới 10 con, 20 hộ quy mô lớn chăn nuôi từ 10 con trở lên bằng mẫu
phiếu điều tra soạn thảo sẵn theo nội dung khảo sát, có sự chỉnh sửa, bổ sung
cho phù hợp với thực tế địa phương. Số liệu thu thập được tổng hợp, phân loại,
xử lý bằng phần mềm Microsoft Excell và sử dụng phương pháp thống kê mô
tả, phương pháp so sánh để phân tích, mô tả thông tin, đưa ra các nhận xét và
đưa ra kết luận. Kết quả nghiên cứu của đề tài như sau:
(1) Chăn nuôi bò sữa của xã Mộc Bắc đang ngày càng phát triển, số hộ
chăn nuôi bò sữa và số con bò mỗi hộ nuôi tăng nhanh qua các năm, năm 2012
số hộ chăn nuôi bò sữa là 34 hộ với 140 con, đến tháng 6/2015 con số đó là 84
hộ với 636 con bò tăng 50 hộ với 496 con bò, trong giai đoạn này đàn bò tăng
mạnh nhất trong giai đoạn 2013 – 2014, đây là giai đoạn xã đã hoàn thành quy
hoạch vùng chăn nuôi tập trung xa khu dân cư, cùng với các chính sách khuyến
khích người dân phát triển chăn nuôi bò sữa của địa phương đã tạo điều kiện
thuận lợi cho nhiều hộ tham gia chăn nuôi cũng như mở rộng quy mô nuôi.
Trong năm vừa qua trên địa bàn xã xuất hiện khá nhiều rủi ro, chủ yếu là
rủi ro về dịch bệnh, thị trường, thức ăn, tuy nhiên với sự quản lý chặt chẽ của
7
chính quyền địa phương và kinh nghiệm chăn nuôi nhiều năm của người dân
những rủi ro này luôn được kiểm soát chặt chẽ.
(2) Chuồng trại chăn nuôi của các hộ đa số đã được kiên cố hóa, phương
thức chăn nuôi có sự chuyển đổi từ chăn nuôi tận dụng sang bán công nghiệp và
công nghiệp. Những rủi ro chính xuất hiện ở các hộ điều tra là rủi ro về con
giống (31,7%) dịch bệnh (70%), thức ăn (35%), kỹ thuật (25%), tài chính
(41,7%), thị trường (100%). Đây là những rủi ro thường gặp trong chăn nuôi nói
chung và chăn nuôi bò sữa nói riêng.
đời trong phát triển nông nghiệp, tỷ lệ lao động trong nhóm ngành nông - lâm
nghiệp và thuỷ sản ở mức 47,5% (Tổng cục thống kê,2014). Được sự hỗ trợ
tích cực của các Bộ, ngành, địa phương và sự nỗ lực của cộng đồng doanh
nghiệp, lực lượng nông dân cả nước, kết quả phát triển toàn ngành nông
nghiệp đã thu được nhiều thành tựu đáng kể, trở thành cứu cánh trong thời kì
nền kinh tế khó khăn như hiện nay.
Chăn nuôi là một bộ phận quan trọng của ngành nông nghiệp, đóng vai
trò quan trọng trong tiến trình công nghiệp hóa hiện đại hóa nông thôn, tận
dụng những lợi thế về khí hậu, đất đai, lực lượng lao động dồi dào giàu kinh
nghiệm sản xuất, ngành chăn nuôi nói chung và chăn nuôi bò sữa nói riêng ở
nước ta đang từng bước phát triển và khẳng định vị thế của mình, theo báo
cáo kinh tế - xã hội năm 2014 của tổng cục thống kê tổng đàn bò sữa cả nước
là 227,6 nghìn con, tăng 22,1% so với năm 2013 và có xu hướng tiếp tục tăng.
Nhận biết được thế mạnh này Đảng và Nhà nước đã đưa nhiều chính
sách hỗ trợ để phát triển chăn nuôi bò sữa như chính sách về vốn, con giống,
thú ý,…, khuyến khích phát triển chăn nuôi bò sữa theo hướng tập trung, quy
mô lớn, cách xa khu dân cư, có sự liên kết chặt chẽ giữa hộ chăn nuôi, ngân
hàng, doanh nghiệp, chính quyền các cấp và liên kết giữa hộ chăn nuôi bò sữa
với các hộ trồng cỏ nhằm chuyển đổi cơ cấu kinh tế, lao động trong nông
nghiệp, tăng giá trị sản xuất và tăng thu nhập cho nông dân.
Đi kèm với những thuận lợi đó còn rất nhiều những khó khăn thách
thức mà ngành phải đối mặt. Chăn nuôi chịu nhiều tác động của điều kiện tự
9
nhiên, khí hậu cũng như giá cả thị trường đó là những rủi ro cản trở sự phát
triển của ngành chăn nuôi. Rủi ro trong chăn nuôi rất khó lường trước, nguyên
nhân rủi ro chủ yếu là do dịch bệnh, biến động giá cả thị trường, thiếu nguồn
thức ăn chăn nuôi, người dân thiếu kiến thức, kỹ năng phòng tránh rủi ro, …
Rủi ro gây ra những thiệt hại lớn về vốn, giảm thu nhập, lợi nhuận, ngưng trệ
khắc phục đến mức thấp nhất thiệt hại từ rủi ro để đem lại hiệu quả cao trong
chăn nuôi.
Do vậy, đề tài “Vai trò của giới đối với quản lý rủi ro trong chăn nuôi
bò sữa tại các hộ nông dân xã Mộc Bắc, huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nam” được
chọn nghiên cứu nhằm tìm hiểu vai trò của giới và các yếu tố ảnh hưởng đến
vai trò của giới trong quản lý rủi ro chăn nuôi bò sữa từ đó đề xuất giải pháp
nhằm nâng cao vai trò của giới trong công tác quản lý rủi ro chăn nuôi bò sữa
của hộ, góp phần đạt được mục tiêu bình đẳng giới.
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
1.2.1 Mục tiêu chung
Tìm hiểu thực trạng chăn nuôi bò sữa trên địa bàn xã Mộc Bắc và những
rủi ro mà các hộ chăn nuôi bò sữa đang gặp phải, vai trò của giới và các yếu tố
ảnh hưởng đến vai trò của giới trong việc quản lý rủi ro, từ đó đề xuất một số
giải pháp nâng cao vai trò của giới đối với quản lý rủi ro trong chăn nuôi bò sữa
tại các hộ nông dân xã Mộc Bắc, huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nam.
1.2.2 Mục tiêu cụ thể
•
Hệ thống hóa cơ sở Lý luận và thực tiễn về vai trò của giới đối với quản lý rủi
ro trong chăn nuôi bò sữa tại các hộ nông dân.
•
Phân tích vai trò của giới đối với quản lý rủi ro trong chăn nuôi bò sữa tại các
hộ nông dân xã Mộc Bắc, huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nam.
•
Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến vai trò của giới đối với quản lý rủi ro
trong chăn nuôi bò sữa tại các hộ nông dân xã Mộc Bắc, huyện Duy Tiên, tỉnh
Phạm vi nội dung
Nghiên cứu tập trung vào vai trò của vợ và chồng đối với quản lý
những rủi ro chính như: rủi ro con giống, dịch bệnh, kỹ thuật, tài chính, thị
trường tại các hộ chăn nuôi bò sữa và các yếu tố ảnh hưởng đến vai trò của họ
đối với quản lý rủi ro trong chăn nuôi bò sữa.
Để thuận tiện cho việc điều tra và xử lý số liệu, nghiên cứu giả định trong
các hộ chăn nuôi bò sữa người vợ và chồng nắm giữ vai trò chính trong chăn
nuôi và quản lý rủi ro, các con trai, con gái của hộ nắm vai trò không đáng kể.
•
Phạm vi thời gian
Số liệu thứ cấp thu thập từ năm 2012 đến năm 2014, số liệu sơ cấp
thu thập năm 2015, thời gian thực hiện nghiên cứu từ tháng 7/ 2015 đến
tháng 12 /2015
•
Phạm vi không gian
Đề tài nghiên cứu trên địa bàn xã Mộc Bắc, huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nam.
PHẦN II
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
2.1 Cơ sở lý luận
12
2.1.1 Lý luận về giới và vai trò của giới
a. Khái niệm về giới
13
Giới là một thuật ngữ để chỉ vai trò xã hội, hành vi ứng xử xã hội và
các kì vọng liên quan đến nam và nữ.
b. Đặc trưng cơ bản của giới
- Do dạy và học mà có: Từ khi trẻ sinh ra đã được dạy dỗ để làm con
trai hay con gái theo chuẩn mực, khuôn mẫu trong xã hội. Cùng với thời gian,
trẻ bước đầu có nhận biết thì tự chúng bắt đầu bắt chước hoặc học làm con gái
hay làm con trai.
- Đa dạng: Những khác biệt trong quan niệm xã hội giữa nam giới và
nữ giới liên quan đến nhiều mặt trong cuộc sống như công việc, vị thế, mức
thù lao, tính cách…
- Luôn thay đổi: Những quan niệm xã hội về phụ nữ và nam giới bị tác
động của nhiều yếu tố văn hóa, kinh tế, chính trị. Những yếu tố này thay đổi
thì một số quan niệm về giới cũng thay đổi.
- Có thể thay đổi được: Khác với giới tính không thể thay đổi được,
giới có thể thay đổi cùng với sự phát triển của xã hội và sự thay đổi trong
nhận thức và chuẩn mực xã hội.
c. Sự khác nhau giữa giới và giới tính
Khác với vấn đề giới tính vốn chỉ đề cập tới sự khác biệt sinh học giữa
nam giới và phụ nữ, khái niệm giới đề cập đến những khác biệt về mặt xã hội
do các nhóm xã hội con người tạo ra. Những quan niệm về giới luôn nảy sinh
từ tính chất của các quan hệ xã hội và của những hình thái tổ chức xã hội khác
nhau (Nguyễn Đức Truyến và Nguyễn Thị Nguyệt Minh, 2000).
Tuy nhiên, trong thực tế người ta thường lấy sự khác biệt về giới tính
để giải thích sự khác biệt về giới.
nước
hóa.
• Bạn được sinh ra với giới tính
•
Những vai trò về giới là được
của bạn – điều này không thể
học tập – chúng phát triển và
thay đổi.
thay đổi theo thời gian.
(Nguồn: Peter Chown, 2008)
Nam giới được coi là phái mạnh, trụ cột của gia đình. Với tính cách
mạnh mẽ, quyết đoán, năng động,… nam giới thích hợp với những công việc
nặng nhọc, tham gia vào cộng đồng nhiều hơn nữ giới, trong khi nữ giới được
coi là phái yếu, với bản tính dịu dàng, mềm yếu, tỷ mỉ,… thiên chức của phụ nữ
là làm mẹ, chăm sóc gia đình, dạy dỗ con cái, họ thích hợp với những công việc
nội trợ và ít tham gia vào cộng đồng hơn là nam giới.
Sự khác biệt về giới được thể hiện ở các khía cạnh:
Vai trò: Cả nam giới và phụ nữ đóng nhiều vai trò trong xã hội và các
vai trò này là khác nhau theo giới. Các vai trò giới là tập hợp các hành vi ứng
xử mà xã hội mong đợi ở phụ nữ và nam giới liên quan đến những đặc điểm
và năng lực mà xã hội coi là thuộc về nam giới hoặc thuộc về phụ nữ trong
một xã hội hay một nền văn hóa cụ thể nào đó. Đó cũng là các mối quan hệ
giữa phụ nữ và nam giới: ai nên làm gì, ai là người ra quyết định, khả năng
tiếp cận nguồn lực và các lợi ích (Trần Mai Hương và cộng sự, 2004).
Phụ nữ thường thực hiện một lúc nhiều vai trò trong khi nam giới
thường tập trung chủ yếu vào vai trò sản xuất.
nhập, được trả công. Cả phụ nữ và nam giới đều có thể tham gia vào các hoạt
động sản xuất, tuy nhiên do những định kiến trong xã hội nên mức độ tham
16
gia của họ không như nhau và giá trị công việc họ làm cũng không được nhìn
nhận như nhau. Xã hội coi trọng và đánh giá cao vai trò này. Vai trò sản xuất
của giới trong nông nghiệp liên quan đến việc ra quyết định sản xuất - kinh
doanh (sản xuất sản phẩm và dịch vụ gì và bao nhiêu, dùng công nghệ gì và
như thế nào?), quá trình sản xuất kinh doanh ai điều hành và như thế nào?)
quản lý rủi ro và tận dụng cơ hội kinh doanh (ai quyết định điều gì và quyết
định như thế nào khi xảy ra rủi ro hay có cơ hội), quá trình sản xuất thành quả
kinh doanh.
Vai trò tái sản xuất: là các hoạt động chăm sóc, nuôi dưỡng, dạy
dỗ...giúp tái sản xuất dân số và sức lao động bao gồm sinh con, các công việc
chăm sóc gia đình, nuôi dạy và chăm sóc trẻ con, nấu ăn, dọn dẹp, giặt giũ,
chăm sóc sức khoẻ gia đình… Những hoạt động này là thiết yếu đối với cuộc
sống con người, đảm bảo sự phát triển bền vững của dân số và lực lượng lao
động; tiêu tốn nhiều thời gian nhưng không tạo ra thu nhập, vì vậy mà ít khi
được coi là “công việc thực sự”, được làm miễn phí, không được các nhà kinh
tế đưa vào các con tính. Xã hội không coi trọng và đánh giá cao vai trò này.
Hầu hết phụ nữ và trẻ gái đóng vai trò và trách nhiệm chính trong các công
việc tái sản xuất.
Vai trò cộng đồng: bao gồm một tổ hợp các sự kiện xã hội và dịch
vụ: ví dụ như thăm hỏi động viên gia đình bị nạn trong thảm họa, thiên tai;
nấu cơm hoặc bố trí nhà tạm trú cho những gia đình bị mất nhà ở; huy động
cộng đồng đòng góp lương thực, thực phẩm cứu trợ người bị nạn… Công
việc cộng đồng có ý nghĩa quan trọng trong việc phát triển văn hoá tinh
thần của cộng đồng.
* Công bằng giới là nói về cách ứng xử công bằng, là những hành động
và các quy định nhằm điều chỉnh bất bình đẳng để khắc phục những bất lợi để
phụ nữ được làm việc trong những điều kiện bình đẳng với nam giới. Công
bằng giới là cách thức, là công cụ để đạt được bình đẳng giới.
18
2.1.2 Lý luận về rủi ro và quản lý rủi ro
2.1.2.1 Rủi ro
a. Các quan niệm khác nhau về rủi ro
Theo tác giả Allan Willett trong sách “The Economic theory of risk and
insurance”- Philadelphia University of Pensylvania press, USA 1951: “Rủi ro
là sự bất trắc cụ thể liên quan đến việc xuất hiện một biến cố không mong đợi”.
Trường phái truyền thống cho rằng: rủi ro được xem là sự không may
mắn, sự tổn thất mất mát, nguy hiểm. Nó được xem là điều không lành, điều
không tốt, bất ngờ xảy đến. Đó là sự tổn thất về tài sản hay là sự giảm sút lợi
nhuận thực tế so với lợi nhuận dự kiến.
Khác với trường phái truyền thống, trường phái hiện đại quan niệm: rủi
ro (risk) là sự bất trắc có thể đo lường được, vừa mang tính tích cực, vừa
mang tính tiêu cực. Rủi ro có thể mang đến những tổn thất mất mát cho con
người nhưng cũng có thể mang lại những lợi ích, những cơ hội. Nếu tích cực
nghiên cứu rủi ro, người ta có thể tìm ra những biện pháp phòng ngừa, hạn
chế những rủi ro tiêu cực, đón nhận những cơ hội mang lại kết quả tốt đẹp cho
tương lai.
Đoàn Thị Hồng Vân (2002) cho rằng rủi ro là sự bất trắc gây ra mất mát
hư hại đó là yếu tố liên quan đến nguy hiểm, sự khó khăn hoặc điều không chắc
chắn… hay là sự tổn thất về tài sản, lợi nhuận thực tế so với dự kiến.
Các quan điểm trên dù ít nhiều khác nhau song đều đề cập đến cùng hai
vấn đề:
•
Rủi ro rất đa dạng và khó lường trước.
•
Có thể đo lường được tần xuất xảy ra rủi ro trong một đơn vị thời gian
Con người có thể nhận thức và phòng tránh được rủi ro, giảm thiểu
thiệt hại từ rủi ro nếu có biện pháp phòng trừ, khắc phục tốt.
c.
Nguyên nhân của rủi ro
Nguyên nhân khách quan:
Rủi ro bắt nguồn từ nhiều nguyên nhân khác nhau do thiên nhiên gây ra
như: lũ lụt, hạn hán, động đất, dịch bệnh…
Sự phát triển của khoa học kỹ thuật và công nghệ một mặt làm tăng
năng suất chất lượng sản phẩm, thúc đẩy nền kinh tế phát triển và tạo cho
cuộc sống con người phát triển thuận lợi nhưng mặt khác luôn tồn tại mặt trái
của nó, đó là việc áp dụng công nghệ không phù hợp điều kiện hoàn cảnh…
20
Rủi ro do môi trường kinh tế, chính trị, xã hội gây nên. Rủi ro loại này
có thế gây nên thiệt hại ở phạm vi rất rộng và thường ảnh hưởng tới mọi
thành viên trong xã hội chẳng hạn như: khủng hoảng kinh tế, biến động cung
cầu lớn, chiến tranh, trộm cắp…
Nguyên nhân chủ quan:
Do lỗi bất cẩn của con người, hoặc do lỗi của người thứ ba.
Rủi ro trong sản xuất: Xuất phát từ những bất lợi không thể lường trước được
như thời tiết, thiên tai, dịch bệnh,…
• Rủi ro về thị trường: Những biến động bất lợi khó lường trước về giá cả thị
trường đầu vào và đầu ra trong sản xuất nông nghiệp.
• Rủi ro về kỹ thuật: Là những rủi ro xuất phát từ việc áp dụng các kỹ thuật mới
nhưng không đem lại hiệu quả.
• Rủi ro về con người: những sự việc không mong muốn xảy ra với con người
như bệnh tật, tai nạn lao động làm ảnh hưởng đến năng suất lao động.
• Rủi ro về thể chế chính sách: Những quy định của nhà nước, chính quyền địa
phương không phù hợp dẫn đến những rủi ro trong sản xuất.
• Rủi ro trong tài chính và tín dụng: Là những rủi ro gây ảnh hưởng đến mặt tài
chính của doanh nghiệp như khả năng trả nợ và thanh toán vì một lý do nào
đó như lãi vay tăng, thu nhập giảm…
2.1.2.2
Đặc điểm của chăn nuôi bò sữa và những rủi ro gặp phải trong
chăn nuôi bò sữa
a. Chăn nuôi bò sữa
Nhắc tới chăn nuôi bò sữa, mọi người sẽ nghĩ ngay đến nghề chăn nuôi
đòi hỏi phải có vốn đầu tư cao và yêu cầu về kỹ thuật là tương đối phức tạp.
Cũng như một số động vật khác, bò sữa cần một lượng dinh dưỡng để duy trì
cuộc sống (hô hấp, hoạt động tim mạch, vận động,...) ngoài ra, bò sữa cần một
lượng dinh dưỡng rất lớn cho tăng trọng, nuôi thai và sản xuất sữa. Chúng ta
hãy thử hình dung: hàm lượng vật chất khô (các chất đạm, đường, mỡ,
khoáng...) trong sữa trung bình là 12% (tức là trong 1kg sữa có chứa 120g vật
chất khô). Như vậy, một con bò sữa (giả sử nặng 400kg) có sản lượng sữa
trung bình 4000 kg/chu kỳ thì trong thời gian một chu kỳ nó tạo ra một lượng vật
chất khô 480kg, nghĩa là lớn hơn rất nhiều so với khối lượng cơ thể bản thân nó.
Điều đó muốn nói lên rằng, việc cung cấp thức ăn đầy đủ, với chất lượng tốt cho
bò sữa quan trọng biết chừng nào. Chúng ta không thể có nhiều sữa, sữa chất
trình sinh trưởng, phát dục, kết cấu về giải phẫu, tổ chức các cơ quan khác
nhau, đặc biệt là tuyến vú.
Thức ăn: Trong khi tiết sữa nếu thiếu thức ăn, bò sữa sẽ huy động
nguồn dinh dưỡng trong cơ thể trong quá trình tạo sữa, nhưng không được
23
lâu, cơ thể sẽ gầy sút và ảnh hưởng đến thời gian sử dụng sau này. Nếu lượng
thức ăn dư thừa bò sẽ béo lên.
Chăm sóc quản lý: Chăm sóc quản lý không những ảnh hưởng đến sản
lượng sữa mà còn ảnh hưởng đến bệnh tật, tỷ lệ sinh sản, tính tình… tất cả
đều ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến sản lượng sữa.
Kỳ cho sữa: Trong một kỳ cho sữa thường tháng thứ 2 có sản lượng sữa
cao nhất sau đó sản lượng sữa giảm dần. Trong một đời con bò sữa lượng sữa
đạt cao nhất lúc 4 – 8 năm tuổi.
Ngoài ra còn nhiều yếu tố ảnh hưởng đến sản lượng sữa như: kỹ thuật
vắt sữa, tuổi đẻ lứa đầu, tháng có thai, tầm vóc của bò sữa, động dục, tỷ lệ đẻ,
sẩy thai, ảnh hưởng do dùng thuốc…
Chăn nuôi bò sữa đòi hỏi trình độ kỹ thuật cao cũng như vốn đầu tư lớn
nhưng cũng là một nghề góp phần tạo công ăn việc làm, đem lại thu nhập cao
cho nhiều hộ dân.
b.
Những rủi ro thường gặp trong chăn nuôi bò sữa
Rủi ro phải nhắc đến đầu tiên trong chăn nuôi bò sữa đó là rủi ro về con
giống. Để mua được một con giống đẹp, tốt người chăn nuôi phải bỏ ra từ 70
– 85 triệu đồng, nhưng do nguồn cung giống chưa ổn định, hộ chăn nuôi chưa
có kinh nghiệm chọn giống nên ban đầu mua con giống nhiều hộ gặp phải rủi
Hộ chăn nuôi đầu tư vào sản xuất bằng vốn đi vay, các nguồn vay có
thểtừ các ngân hàng, quỹ tín dụng chính thống và phi chính thống, hoặc vay
nặng lãi, Rủi ro về tài chính thể hiện thông qua việc hộ không có đủ khả năng
để trả vốn và lãi vay, hay hộ không vay được vốn để đầu tư sản xuất nguyên
nhân của rủi ro này có thể do hộ đầu tư sản xuất thất bại, không có thu nhập
hoặc rất ít.
Bảo quản sữa tươi cũng là một khâu quan trọng dễ gặp phải rủi ro vì
sữa dễ bị nhiễm khuẩn, đa số hộ chăn nuôi sau khi thu sữa sẽ xuất ngay cho
đơn vị thu mua, tuy nhiên rủi ro về bảo quản xảy ra ngay ở khâu vắt sữa do
thùng chứa sữa không đảm bảo vệ sinh, không đủ tiêu chuẩn để chứa sữa vận
chuyển đến nơi thu mua dẫn đến sữa sau khi kiểm tra không đạt tiêu chuẩn,
25