VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
BÙI THANH HẢI
THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH
ĐẦU TƯ XÂY DỰNG CƠ BẢN TỪ THỰC TIỄN
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
Chuyên ngành
: Chính sách công
Mã số
: 60.34.04.02
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS. BÙI NGUYÊN KHÁNH
Hà Nội, 2017
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan về các số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn
Thạc sĩ Chính sách công với đề tài “Thực hiện chính sách đầu tư xây dựng cơ
bản từ thực tiễn Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam” là hoàn toàn trung
thực và không trùng với các đề tài khác trong cùng lĩnh vực.
Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về lời cam đoan này.
Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam giai đoạn 2016-2020 .............................. 58
3.2. Giải pháp đảm bảo thực hiện chính sách quản lý đầu tư xây dựng cơ bản từ
ngân sách nhà nước tại Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam ......................................... 61
KẾT LUẬN .............................................................................................................. 71
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
CSDL
: Cơ sở dữ liệu
GPMB
: Giải phóng mặt bằng
KBNN
: Kho bạc Nhà nước
KH-TC
: Kế hoạch - Tài chính
KH&ĐT
: Kế hoạch và đầu tư
KHXH
( Vietnam Academy of Social Sciences)
VLXD
: Vật liệu xây dựng
VSMT
: Vệ sinh mội trường
XDCB
: Xây dựng cơ bản
DANH MỤC CÁC BẢNG
Số hiệu
Bảng 2.1.
Tên bảng
Kinh phí đầu tư XDCB từ NSNN cho KH-CN và cho các
tổ chức KHCN thuộc Chính phủ giai đoạn 2011-2015
Trang
36
Bảng 2.2.
đơn vị sự nghiệp công lập, trong đó bao gồm các đơn vị sự nghiệp khoa học.
Một trong những hướng đổi mới quan trọng là tạo dựng đầu tư cơ sở vật chất
ban đầu, qua đó để giao tài sản cho các đơn vị sự nghiệp công lập quản lý,
bảo toàn, xác định khấu hao, trên cơ sở đó có lộ trình từng bước cho hoạt
động chuyển đổi sang cơ chế tự chủ tự chịu trách nhiệm, đảm bảo phù hợp
với quy định của pháp luật và tình hình thực tế, giảm dần hỗ trợ từ NSNN.
Viện Hàn lâm khoa học xã hội Việt Nam (Viện Hàn lâm KHXH Việt
Nam) là cơ quan trực thuộc Chính phủ, có chức năng nghiên cứu cơ bản và
nghiên cứu ứng dụng về khoa học xã hội và nhân văn đầu ngành của cả nước
với nhiệm vụ nghiên cứu giải đáp những vấn đề khoa học xã hội và nhân văn
của cả nước và từng vùng, phục vụ cung cấp những luận cứ khoa học cho việc
hoạch định đường lối, chiến lược, quy hoạch và chính sách của Đảng và nhà
nước trong sự nghiệp phát triển kinh tế- xã hội, văn hoá, môi trường và con
người Việt Nam. Mặc dù tổ chức thực hiện dự án đầu tư xây dựng cơ bản là
1
một quá trình phức tạp, chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố, nhưng hoạt động
này thời gian qua tại Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam đã đạt được những kết
quả khả quan, góp phần không nhỏ vào mục tiêu: hiện đại hoá cơ sở vật chất
và trang thiết bị khoa học kỹ thuật phục vụ cho hoạt động nghiên cứu và phục
vụ nghiên cứu khoa học, nâng cao năng lực nghiên cứu của các nhà khoa
học, đảm bảo đồng vốn đầu tư có hiệu quả.
Tuy nhiên, quá trình thực hiện các chính sách đầu tư xây dựng cơ bản tại
Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam còn một số bất cập, một số công trình tiến độ
bị kéo dài, quản lý chất lượng và quản lý vốn còn hạn chế…Trong bối cảnh
mới của tình hình kinh tế - xã hội đất nước, vấn đề tổ chức hoạt động các dự
án đầu tư xây bản tại Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam cần được nghiên cứu
một cách hệ thống, đề ra các giải pháp phù hợp giúp chủ đầu tư, các ban quản
Tâm, báo Xây dựng ngày 4/10/2008; Quản lý và nâng cao hiệu quả sử dụng
vốn đầu tư xây dựng cơ bản ở Việt Nam, Luận án tiến sĩ của tác giả Nguyễn
Mạnh Đức.
- Quản lý vốn Đầu tư xây dựng cơ bản từ ngân sách Nhà nước của
Thành phố Hà Nội, Luận văn thạc sĩ kinh tế chính trị của tác giả Lê Toàn
Thắng năm 2012.
- Thực hiện chính sách quản lý vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ thực tiễn
tỉnh Quảng Ngãi, Luận văn thạc sĩ chính sách công của tác giả Phạm Thị
Ngọc Vấn năm 2016.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của luận văn là là nhằm làm sáng tỏ những vấn đề
lý luận về thực hiện chính sách đầu tư xây dựng cơ bản; phân tích, đánh giá
thực hiện chính sách đầu tư xây dựng cơ bản qua thực tiễn Viện Hàn lâm
KHXH Việt Nam; và để từ đó đề xuất các giải pháp đảm bảo thực hiện chính
sách đầu tư xây dựng cơ bản tại Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam
3
trong thời gian tới.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Hệ thống hoá cơ sở lý luận và thực tiễn về các chính sách đầu tư xây
dựng cơ bản hiện nay.
- Phân tích cơ sở lý luận và thực tiển về thực hiện chính sách, quản lý
đầu tư xây dựng cơ bản.
- Phân tích việc thực hiện chính sách quản lý đầu tư xây dựng cơ bản từ
thực tiễn Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam.
- Đề xuất những giải pháp chủ yếu đảm bảo thực hiện chính sách đầu tư
xây dựng cơ bản ở Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam.
sách ĐTXDCB và quá trình tổ chức thực hiện các dự án đầu tư XDCB từ thực
tiễn từ đó rút ra những thành tựu, hạn chế, nguyên nhân và bài học kinh nghiệm;
nội dung này là hết sức quan trọng, là nền tảng về mặt lý luận, làm cơ sở khoa
học và tiền đề để giúp việc nghiên cứu thực trạng quản lý đầu tư XDCB từ
vốn NSNN, cũng như đề ra được một số giải pháp chủ yếu tăng hiệu quả quản
lý đầu tư XDCB từ NSNN trong thời gian tới.
6.2. Ý nghĩa lý luận thực tiễn
Luận văn đã nghiên cứu thực tiễn quá trình thực thi chính sách ĐTXDCB
tại Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam từ đó rút ra những thành tựu, hạn chế,
nguyên nhân và bài học kinh nghiệm để đề xuất một số giải pháp chủ yếu
nhằm hoàn thiện chính sách quản lý đầu tư xây dựng cơ bản tại Viện Hàn lâm
Khoa học xã hội Việt Nam trong thời gian tới.
7. Cơ cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo,
luận văn được kết cấu thành 03 chương.
Chương 1: Những vấn đề lý luận về thực hiện chính sách đầu tư xây
dựng cơ bản bằng vốn ngân sách Nhà nước.
Chương 2: Thực trạng thực hiện chính sách đầu tư xây dựng cơ bản từ
5
thực tiễn Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam.
Chương 3: Những định hướng và giải pháp đảm bảo thực hiện chính
sách quản lý đầu tư xây dựng cơ bản ở Viện Hàn lâm Khoa học xã hội
Việt Nam.
6
trí tuệ, công nghệ,…) trong hiện tại để tiến hành các hoạt động (tạo ra, khai
thác, sử dụng tài sản…) để thu được các kết quả có lợi (gia tăng vốn, tài sản
vật chất, trí tuệ, công nghệ…) nhằm thực hiện những mục tiêu nhất định trong
tương lai”. Hoạt động đầu tư bao gồm: đầu tư tư nhân và đầu tư công cộng
hay còn gọi là đầu tư công.
1.1.1.2. Đầu tư công.
Đầu tư công là một dạng của đầu tư và là một trong những bộ phận
quan trọng nhất trong chi tiêu Nhà nước hằng năm cũng như chiến lược phát
triển lâu dài của Chính phủ ở mỗi quốc gia. Nhà kinh tế học người Anh J. M.
Keynes nghiên cứu đầu tư công với vai trò là thành phần quan trọng của tổng
cầu có tác dụng thúc đẩy tổng cầu,từ đó ông đề cao vai trò của các chính sách
tài khóa [13]. Phát triển lý thuyết của Keynes, P.A Samuelson và William
D.Nordthaus đã nhấn mạnh vai trò chi tiêu Chính phủ trong đó có đầu tư mua
sắm hàng hóa và dịch vụ công là yếu tố quan trọng tác động đến tổng cầu[20,
tr.128]. Nghiên cứu về đầu tư, hiệu quả và tăng trưởng, nhóm tác giả Dwight
H.Perkins, Steven Radelet, David L.Lindauer khẳng định: “Đầu tư công cộng
và đầu tư tư nhân là nhân tố quan trọng trong phát triển kinh tế. Nhìn chung
đầu tư công cộng tập trung vào đường xá, bến cảng, bưu chính viễn thông,
trường học và các cơ sở y tế” [8, tr.529].
Ở Việt Nam, Quốc hội ban hành Luật Đầu tư công số 49/2014/QH13
ngày 18/6/2014, trong đó khái niệm đầu tư công được hiểu là: “Đầu tư công là
hoạt động đầu tư của Nhà nước vào các chương trình, dự án xây dựng kết cấu
hạ tầng kinh tế - xã hội (KT-XH) và đầu tư vào các chương trình, dự án phục
vụ phát triển KT-XH” [24, điều 4].
1.1.1.3. Đầu tư xây dựng cơ bản
Đầu tư xây dựng cơ bản (ĐTXDCB) là hoạt động đầu tư nhằm tạo ra
các công trình xây dựng theo mục đích của người đầu tư, là lĩnh vực sản xuất
8
nhiều văn bản pháp luật hiện hành.
Mục đích của đầu tư xây dựng cơ bản là tạo ra những công trình xây
dựng ở tại địa điểm phù hợp, quy mô, công suất hợp lý, kết cấu bền vững, bảo
đảm cảnh quan môi trường... nhằm đáp ứng nhu cầu sản xuất kinh doanh, phát
triển kinh tế phục vụ cho đời sống nhân dân. Để có được những công trình
như vậy cần phải bỏ ra những chi phí nhất định, những chi phí đó chính là
vốn đầu tư xây dựng cơ bản.
Về khái niệm vốn đầu tư XDCB từ NSNN được hiểu là quá trình phân
phối và sử dụng một phần vốn tiền tệ từ quỹ NSNN để đầu tư tái sản xuất
TSCĐ nhằm từng bước tăng cường, hoàn thiện và hiện đại hóa cơ sở vật chất
kỹ thuật và năng lực sản xuất phục vụ cho nền kinh tế quốc dân đảm bảo hiệu
quả sử dụng vốn
Về khái niệm Chính sách quản lý vốn đầu tư XDCB từ NSNN được hiểu
là chức năng và hoạt động của hệ thống tổ chức nhằm đề ra các chính sách để
quản lý vốn đầu tư XDCB từ NSNN một cách có hiệu quả đảm bảo việc xây
dựng và phát triển cơ sở vật chất - kỹ thuật, kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội
cho nền kinh tế phát triển.
1.1.2. Đặc điểm, phân loại đầu tư xây dựng cơ bản bằng vốn ngân sách
nhà nước.
1.1.2.1.Đặc điểm đầu tư xây dựng cơ bản của nhà nước
Trong ĐTXDCB của nhà nước, vốn là vốn của nhà nước mà không phải là
của tư nhân, do vậy rất khó quản lý sử dụng, dễ xảy ra thất thoát, lãng phí, tham
nhũng. Ở đây quyền sở hữu về vốn không trùng hợp với quyền sử dụng và quản lý
vì thế trách nhiệm quản lý vốn không cao. Động lực cá nhân đối với việc sử dụng
hiệu quả đồng vốn không rõ ràng, mạnh mẽ như nguồn vốn tư nhân. Vì vậy việc
quản lý hiệu quả vốn trong ĐTXDCB của nhà nước rất khó khăn, phức tạp.
Về lĩnh vực đầu tư, ĐTXDCB của nhà nước thường nhằm vào lĩnh vực ít
11
bản khác. Trong đó chi phí xây dựng và chi phí thiết bị chiếm tỷ trọng lớn.
Vốn của dự án ĐTXDCB nói chung được cấu thành bởi các nguồn sau:
Thứ nhất là nguồn vốn của nhà nước. Nguồn vốn này bao gồm:
+ Ngân sách nhà nước cấp phát.
+ Vốn của các doanh nghiệp nhà nước có nguồn gốc từ ngân sách nhà
nước, bao gồm vốn từ khấu hao cơ bản để lại, từ lợi nhuận sau thuế, từ đất
đai, nhà xưởng còn chưa sử dụng đến,... được huy động đầu tư phát triển sản
xuất kinh doanh; vốn góp của nhà nước trong liên doanh, liên kết với các
thành phần kinh tế trong nước và nước ngoài.
+ Vốn tín dụng đầu tư phát triển của nhà nước mà Chính phủ cho vay
theo lãi suất ưu đãi bằng nguồn vốn tự có hoặc nhà nước đi vay để cho vay lại
đầu tư vào các dự án thuộc lĩnh vực được ưu tiên trong kế hoạch nhà nước đối
với một số doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế.
+ Vốn vay nợ, viện trợ từ bên ngoài của Chính phủ thông qua kênh hỗ
trợ phát triển chính thức (ODA). Trên thực tế, một phần vốn này sẽ đưa vào
ngân sách đầu tư, còn phần ODA cho các doanh nghiệp vay lại thì đưa vào
nguồn tín dụng đầu tư phát triển của nhà nước.
Thứ hai là nguồn vốn đầu tư của khu vực tư nhân và nguồn vốn đóng
góp tự nguyện của dân cư vì lợi ích cộng đồng, kể cả đóng góp công lao động,
của cải vật chất để xây dựng các công trình phúc lợi.
Thứ ba là nguồn vốn đầu tư nước ngoài. Nguồn vốn này bao gồm đầu
tư gián tiếp và đầu tư trực tiếp. Đầu tư gián tiếp của nước ngoài tại Việt Nam
là nguồn vốn do nước ngoài cung cấp thông qua việc mua cổ phiếu, trái phiếu
của Việt Nam, nhưng không tham gia công việc quản lý trực tiếp. Vốn đầu tư
trực tiếp nước ngoài (Foreign Direct Inverstment – FDI) ở Việt Nam là nguồn
vốn nước ngoài trực tiếp đầu tư vào Việt Nam dưới hình thức tự đầu tư 100%
Chủ thể chính sách đầu tư XDCB từ NSNN là tổng thể các cơ quan quản
lý vốn đầu tư XDCB từ NSNN với cơ cấu tổ chức nhất định gồm các cơ quan
13
chức năng của nhà nước thực hiện ban hành các cơ chế, chính sách, quản lý
vĩ mô đối với vốn đầu tư XDCB từ NSNN (quản lý tất cả các dự án) và cơ
quan Chủ đầu tư thực hiện chính sách quản lý vĩ mô đối với vốn đầu tư
XDCB từ NSNN.
Nếu xét về mặt hiện vật thì đối tượng chính sách đầu tư chính là vốn đầu
tư XDCB của NSNN. Nếu xét về cấp quản lý thì đối tượng quản lý vốn đầu tư
XDCB từ NSNN là cơ quan quản lý sử dụng vốn đầu tư XDCB cấp dưới.
Như vậy, khái niệm đối tượng quản lý là một khái niệm tương đối. Một cá
nhân hay một pháp nhân đứng trên góc độ này thì là chủ thể quản lý nhưng
đứng trên góc độ khác họ là đối tượng bị quản lý. Bởi vì, suy cho cùng quản
lý việc sử dụng vốn đầu tư XDCB cũng là quản lý con người và mục tiêu vì
con người.
Để quản lý có hiệu quả vốn đầu tư XDCB từ NSNN về phía Nhà nước
cần tạo lập một hành lang pháp lý, kỷ cương làm cơ sở để các chủ đầu tư và
nhà thầu cùng cơ quan có liên quan dựa vào đó để thực hiện. Đây là nhân tố
vĩ mô có tầm quan trọng không thể thiếu được trong quản lý kinh tế nói chung
trong đó có quản lý vốn đầu tư XDCB từ NSNN.
1.2.2. Chính sách quản lý công tác lập, quản lý quy hoạch
Chính sách về công tác lập quy hoạch, quản lý quy hoạch giúp chính
quyền các cấp chỉ đạo, điều hành thực hiện các nhiệm vụ đột phá về đầu tư
XDCB phù hợp với từng giai đoạn, gắn với sự phát triển kinh tế-xã hội của
địa phương; đồng thời để định hướng cho hoạt động đầu tư của mọi thành phần
kinh tế trong xã hội trên cơ sở hiểu rõ được tiềm năng, thế mạnh, cơ hội đầu tư,
khả năng hợp tác liên doanh, liên kết phát triển kinh tế-xã hội trên địa bàn.
Theo quy định của Luật xây dựng, Luật đầu tư công thì các dự án đầu
tư từ nguồn vốn NSNN phải được lập hàng năm và lập trung hạn đảm bảo dự
án phải đúng với chủ trương đầu tư; vị trí, quy mô xây dựng công trình phù
hợp với quy hoạch xây dựng được cấp có thẩm quyền phê duyệt. Các dự án
15
được lập với chất lượng cao sẽ góp phần tăng cường quản lý vốn ĐT XDCB
từ NSNN.
Chất lượng công tác lập dự án đầu tư được thể hiện ngay từ chủ trương
đầu tư: Đặc điểm đầu tư, quy mô đầu tư, theo đúng theo quy hoạch ngành,
quy hoạch vùng, quy hoạch lãnh thổ. Làm tốt công tác thẩm định lập dự án
trước khi quyết định đầu tư, không những đem lại nguồn lợi lớn cho xã hội
mà còn giúp cho công tác quy hoạch, hoạch định chiến lược đầu tư ngày càng
được nâng cao về chất lượng.
- Chính sách trong công tác thẩm định dự án
Khi thẩm định dự án, thẩm định chủ trương đầu tư, cơ quan thẩm định và
quyết định đầu tư phải xem xét các yếu tố đảm bảo tính khả thi gồm: Chủ
trương đầu tư phải phù hợp với chuyển dịch cơ cấu kinh tế và phù hợp với
quy hoạch được duyệt, sự cần thiết phải đầu tư dự án, quy mô dự án, tính chất
dự án, nguồn vốn thực hiện dự án, sự phù hợp với quy hoạch, nhu cầu sử
dụng đất đai, tài nguyên, khả năng giải phóng mặt bằng, khả năng huy động
vốn, kinh nghiệm quản lý chủ đầu tư, giải pháp phòng cháy chữa cháy, các
yếu tố ảnh hưởng như quốc phòng an ninh, môi trường, hệ thống định mức,
đơn giá trong xây dựng cơ bản để đảm bảo dự án đạt hiệu quả tối ưu.
- Chính sách trong công tác đấu thầu
Thực tế trong thời gian qua, việc áp dụng công tác đấu thầu được áp
dụng các hình thức như sau: Chào hàng cạnh tranh đối với gói thầu mua sắm
hàng hóa dưới 3 tỷ đồng, chỉ định thầu đối với gói thầu xây lắp dưới 1 tỷ
1.2.5. Chính sách quản lý công tác nghiệm thu, thanh toán vốn và
kiểm soát thanh toán vốn đầu tư, công tác quyết toán dự án hoàn thành.
- Chính sách công tác nghiệm thu:
Nghiệm thu công trình phải được tiến hành từng đợt ngay sau khi thực
hiện xong khối lượng công trình khuất, những kết cấu chịu lực, những bộ
phận hay hạng mục công trình hoặc toàn bộ công trình. Việc nghiệm thu từng
hạng mục và toàn bộ công trình xây dựng là do Chủ đầu tư tổ chức thực hiện
17
với sự tham gia của các bên liên quan: Đơn vị tư vấn thiết kế, đơn vị giám sát
thi công, đơn vị thi công, các cơ quan giám định chất lượng và các cơ quan
quản lý nhà nước có liên quan.
- Chính sách thanh toán và kiểm soát thanh toán vốn đầu tư.
Thanh toán vốn ĐT XDCB từ NSNN liên quan tới ba cơ quan chức năng
gồm : Ban quản lý dự án, Kho bạc Nhà nước và đơn vị nhà thầu (thi công xây
lắp, tư vấn thiết kế, tư vấn giám sát). Quy định về thanh toán vốn đầu tư theo
khối lượng hoàn thành bao gồm đối tượng, nội dung và hình thức thanh toán
cho các khối lượng xây dựng, thiết bị, công tác tư vấn... theo các hình thức
lựa chọn nhà thầu và các loại hợp đồng. Trên cơ sở hồ sơ, chứng thư hợp
pháp, hợp lệ, đúng định mức và đơn giá quy định đảm bảo điều kiện cấp phát
thanh toán.
Chính sách trong công tác kiểm soát thanh toán vốn ĐT XDCB là việc
kiểm tra, xem xét các căn cứ, điều kiện cần và đủ theo quy định của nhà nước
để xuất quỹ NSNN chi trả theo yêu cầu của chủ đầu tư. Do vốn đầu tư XDCB
từ NSNN chi cho các dự án có nội dung khác nhau như quy hoạch, đền bù
giải phóng mặt bằng, thực hiện đầu tư, quản lý dự án,…nên đối tượng và tính
chất, đặc điểm các khoản chi này không giống, theo đó yêu cầu hồ sơ thủ tục,
tham gia xử lý công việc cũng như quy trình kiểm soát thanh toán vốn sẽ có
1.3.1. Thực hiện chính sách đầu tư xây dựng cơ bản từ ngân sách Nhà
nước
Thực hiện chính sách đầu tư XDCB từ NSNN là thực hiện chính sách,
quản lý quá trình phân phối và sử dụng một phần vốn tiền tệ từ NSNN để đầu
tư tái sản xuất tài sản cố định nhằm từng bước tăng cường, hoàn thiện, hiện
đại hóa cơ sở vật chất kỹ thuật và năng lực sản xuất phục vụ của nền kinh tế
quốc dân đảm bảo hiệu quả nguồn vốn đã được bỏ ra đầu tư.
1.3.2. Tầm quan trọng của việc thực hiện chính sách đầu tư xây dựng
cơ bản từ ngân sách Nhà nước
Luật Xây dựng có phạm vi bao quát rộng, có vai trò rất quan trọng và đã
đóng góp có hiệu quả vào việc tạo lập môi trường pháp lý và tăng cường năng
19
lực quản lý của nhà nước. Thực tế trong quá trình quản lý vốn và đầu tư xây
dựng bộc lộ khá nhiều bất cập mà bản thân Luật Xây dựng và các văn bản
dưới luật chưa bao quát hết được dẫn đến tình trạng đầu tư thiếu định hướng
gây thất thoát và khó kiểm soát. Trong công tác đầu tư XDCB chất lượng
công trình xây dựng là vấn đề cần được hết sức quan tâm, nó có tác động trực
tiếp đến sự phát triển bền vững, hiệu quả kinh tế, đời sống của con người;
chính vì vậy phải thực hiện nghiêm từ công tác lập kế hoạch đầu tư, xác định
nguồn vốn và thẩm định vốn cho từng dự án theo đúng chỉ thị 1792/CT-TTg,
ngày 15 tháng 10 năm 2011 của Thủ tướng Chính phủ đến việc tất toán vốn
đầu tư dự án hoàn thành. Mặt khác, với tốc độ tăng nhanh của vốn đầu tư xây
dựng hàng năm, hàng vạn dự án vốn của Nhà nước, và của các thành phần
kinh tế, của nhân dân được triển khai xây dựng, do vậy các đơn vị tư vấn lập
dự án, giám sát, thiết kế tăng rất nhanh nhưng còn hạn chế về năng lực, chưa
đáp ứng yêu cầu. Thực hiện tốt chính sách, các vấn đề về quản lý vốn, quản lý
đầu tư xây dựng và quản lý chất lượng công trình thì tự nhiên vấn nạn tham