VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
K
BÙI THANH HẢI
THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH
ĐẦU TƯ XÂY DỰNG CƠ BẢN TỪ THỰC TIỄN
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
Chuyên ngành:Chính sách công
Mã số
: 60 34 04 02
TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG
HÀ NỘI – 2017
Công trình được hoàn thành tại:
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
Người hướng dẫn khoa học:
PGS.TS. BÙI NGUYÊN KHÁNH
Phản biện 1: PGS.TS. HOÀNG VĂN TÚ
Phản biện 2: TS. NGUYỄN DUY LỢI
trình từng bước cho hoạt động chuyển đổi sang cơ chế tự chủ tự chịu trách
nhiệm, đảm bảo phù hợp với quy định của pháp luật và tình hình thực tế,
giảm dần hỗ trợ từ NSNN.
Viện Hàn lâm khoa học xã hội Việt Nam (Viện Hàn lâm KHXH
Việt Nam) là cơ quan trực thuộc Chính phủ, có chức năng nghiên cứu cơ
bản và nghiên cứu ứng dụng về khoa học xã hội và nhân văn đầu ngành của
cả nước với nhiệm vụ nghiên cứu giải đáp những vấn đề khoa học xã hội và
nhân văn của cả nước và từng vùng, phục vụ cung cấp những luận cứ khoa
học cho việc hoạch định đường lối, chiến lược, quy hoạch và chính sách của
Đảng và nhà nước trong sự nghiệp phát triển kinh tế- xã hội, văn hoá, môi
trường và con người Việt Nam. Mặc dù tổ chức thực hiện dự án đầu tư xây
dựng cơ bản là một quá trình phức tạp, chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố,
nhưng hoạt động này thời gian qua tại Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam đã
đạt được những kết quả khả quan, góp phần không nhỏ vào mục tiêu: hiện
đại hoá cơ sở vật chất và trang thiết bị khoa học kỹ thuật phục vụ cho hoạt
động nghiên cứu và phục vụ nghiên cứu khoa học, nâng cao năng lực
nghiên cứu của các nhà khoa học, đảm bảo đồng vốn đầu tư có hiệu quả.
Tuy nhiên, quá trình thực hiện các chính sách đầu tư xây dựng cơ
bản tại Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam còn một số bất cập, một số công
trình tiến độ bị kéo dài, quản lý chất lượng và quản lý vốn còn hạn
chế…Trong bối cảnh mới của tình hình kinh tế - xã hội đất nước, vấn đề tổ
chức hoạt động các dự án đầu tư xây bản tại Viện Hàn lâm KHXH Việt
Nam cần được nghiên cứu một cách hệ thống, đề ra các giải pháp phù hợp
1
giúp chủ đầu tư, các ban quản lý dự án triển khai các bước quản lý dự án
được thuận lợi và hạn chế sai sót trong quá trình quản lý. Nếu công tác này
được làm tốt sẽ giúp Viện KHXH Việt Nam đạt được mục tiêu: Hiện đại
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của luận văn là là nhằm làm sáng tỏ những
vấn đề lý luận về thực hiện chính sách đầu tư xây dựng cơ bản; phân tích,
đánh giá thực hiện chính sách đầu tư xây dựng cơ bản qua thực tiễn Viện
Hàn lâm KHXH Việt Nam; và để từ đó đề xuất các giải pháp đảm bảo thực
hiện chính sách đầu tư xây dựng cơ bản tại Viện Hàn lâm Khoa học xã hội
Việt Nam trong thời gian tới.
2
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Hệ thống hoá cơ sở lý luận và thực tiễn về các chính sách đầu tư
xây dựng cơ bản hiện nay.
- Phân tích cơ sở lý luận và thực tiển về thực hiện chính sách, quản
lý đầu tư xây dựng cơ bản.
- Phân tích việc thực hiện chính sách quản lý đầu tư xây dựng cơ
bản từ thực tiễn Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam.
- Đề xuất những giải pháp chủ yếu đảm bảo thực hiện chính sách
đầu tư xây dựng cơ bản ở Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu đề tài là việc thực hiện chính sách đầu tư
XDCB từ thực tiễn Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
- Nội dung nghiên cứu: Quá trình tổ chức quản lý, thực hiện dự án
ĐTXD bằng nguồn vốn ĐTXD tập trung từ NSNN.
- Thời gian nghiên cứu : Từ năm 2011 đến năm 2015
- Không gian nghiên cứu : Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt
ĐTXDCB tại Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam từ đó rút ra những thành tựu,
hạn chế, nguyên nhân và bài học kinh nghiệm để đề xuất một số giải pháp
chủ yếu nhằm hoàn thiện chính sách quản lý đầu tư xây dựng cơ bản tại
Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam trong thời gian tới.
7. Cơ cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo, luận
văn được kết cấu thành 03 chương.
Chương 1: Những vấn đề lý luận về thực hiện chính sách đầu tư xây dựng
cơ bản bằng vốn ngân sách Nhà nước.
Chương 2: Thực trạng thực hiện chính sách đầu tư xây dựng cơ bản từ thực
tiễn Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam.
Chương 3: Những giải pháp đảm bảo thực hiện chính sách quản lý đầu tư
xây dựng cơ bản của Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam.
CHƯƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH ĐẦU
TƯ XÂY DỰNG CƠ BẢN BẰNG VỐN NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC
1.1. Một số khái niệm có liên quan đến chính sách đầu tư xây dựng cơ
bản bằng vốn ngân sách nhà nước
1.1.1. Khái niệm cơ bản đầu tư xây dựng cơ bản từ vốn ngân sách nhà
nước
1.1.1.1. Đầu tư
Xuất phát từ cách tiếp cận, mục đích nghiên cứu, người ta đưa ra
những định nghĩa khác nhau về đầu tư. Có thể kể đến một số quan điểm như
sau:
Tiếp cận đầu tư mang lại kết quả cho quá trình tái sản xuất, nhóm
tác giả David Begg, Stanley Fischer, Rudiger Dor cho rằng: “Đầu tư là việc
các hãng mua sắm hàng hóa tư bản mới” [6, tr.363]. P.A Samuelson và
William D.Nordthaus nghiên cứu đầu tư ở nhiều khía cạnh như với hoạt
động tạo vốn thì: “Đầu tư gồm các nguồn bổ sung vào trữ lượng vốn của
một quốc gia”, và “Đầu tư chỉ thực sự xuất hiện khi tạo ra vốn thực tế” [20,
tổng cầu[20, tr.128]. Nghiên cứu về đầu tư, hiệu quả và tăng trưởng, nhóm
tác giả Dwight H.Perkins, Steven Radelet, David L.Lindauer khẳng định:
“Đầu tư công cộng và đầu tư tư nhân là nhân tố quan trọng trong phát triển
kinh tế. Nhìn chung đầu tư công cộng tập trung vào đường xá, bến cảng, bưu
chính viễn thông, trường học và các cơ sở y tế” [8, tr.529].
Ở Việt Nam, Quốc hội ban hành Luật Đầu tư công số
49/2014/QH13 ngày 18/6/2014, trong đó khái niệm đầu tư công được hiểu
là: “Đầu tư công là hoạt động đầu tư của Nhà nước vào các chương trình, dự
án xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội (KT-XH) và đầu tư vào các
chương trình, dự án phục vụ phát triển KT-XH” [24, điều 4].
1.1.1.3. Đầu tư xây dựng cơ bản
Đầu tư xây dựng cơ bản (ĐTXDCB) là hoạt động đầu tư nhằm tạo
ra các công trình xây dựng theo mục đích của người đầu tư, là lĩnh vực sản
xuất vật chất tạo ra các tài sản cố định (TSCĐ) và tạo ra cơ sở vật chất kỹ
thuật cho xã hội. ĐTXDCB là một hoạt động kinh tế.
1.1.1.4. Hoạt động đầu tư
Từ các nghiên cứu trên, có thể khái quát, bản chất ĐTXD bằng vốn
NSNN là loại hình đầu tư công có các hoạt động xây dựng mới, sửa chữa,
5
cải tạo công trình xây dựng nhằm phục vụ phát triển KT-XH theo chủ
trương của Đảng và Nhà nước.
1.1.1.5. Vốn đầu tư xây dựng cơ bản,
Theo Nghị định 185 – HĐBT ngày 07 tháng 11 năm 1990 của Hội
đồng Bộ trưởng về việc sửa đổi, bổ sung, thay thế Điều lệ quản lý XDCB đã
ban hành kèm theo Nghị định 232-CP ngày 06 tháng 06 năm 1981 thì “Vốn
đầu tư xây dựng cơ bản là toàn bộ chi phí đã bỏ ra để đạt được mục đích đầu
tư bao gồm: Chi phí cho việc khảo sát quy hoạch xây dựng, chi phí chuẩn bị
Theo tính chất công việc của hoạt động XDCB vốn được phân: Chi
phí xây dựng và lắp đặt, chi phí mua sắm máy móc thiết bị, chi phí kiến thiết
6
cơ bản khác. Trong đó chi phí xây dựng và chi phí thiết bị chiếm tỷ trọng
lớn.
Vốn của dự án ĐTXDCB nói chung được cấu thành bởi các nguồn sau:
Thứ nhất là nguồn vốn của nhà nước.
Thứ hai là nguồn vốn đầu tư của khu vực tư nhân và nguồn vốn
đóng góp tự nguyện của dân cư vì lợi ích cộng đồng, kể cả đóng góp công
lao động, của cải vật chất để xây dựng các công trình phúc lợi.
Thứ ba là nguồn vốn đầu tư nước ngoài. Nguồn vốn này bao gồm
đầu tư gián tiếp và đầu tư trực tiếp.
1.1.2.4. Chính sách phân cấp vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ ngân sách Nhà
nước
+ Thủ tướng Chính phủ quyết định đầu tư dự án quan trọng quốc gia.
+ Người đại diện có thẩm quyền của cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp
theo quy định của pháp luật quyết định đầu tư dự án.
Đối với dự án sử dụng vốn khác, chủ sở hữu hoặc đại diện chủ sở hữu quyết
định đầu tư xây dựng dự án trong phạm vi quyền hạn theo quy định của
pháp luật.
1.2. Nội dung chính sách đầu tư xây dựng cơ bản
1.2.1. Chủ thể và đối tượng chính sách
Chủ thể chính sách đầu tư XDCB từ NSNN là tổng thể các cơ quan
quản lý vốn đầu tư XDCB từ NSNN với cơ cấu tổ chức nhất định gồm các
cơ quan chức năng của nhà nước thực hiện ban hành các cơ chế, chính sách,
quản lý vĩ mô đối với vốn đầu tư XDCB từ NSNN (quản lý tất cả các dự án)
và cơ quan Chủ đầu tư thực hiện chính sách quản lý vĩ mô đối với vốn đầu
- Chính sách về công tác lập dự án
- Chính sách trong công tác thẩm định dự án
- Chính sách trong công tác đấu thầu.
- Chính sách về lựa chọn nhà thầu và triển khai dự án vốn đầu tư XDCB
1.2.5. Chính sách quản lý công tác nghiệm thu, thanh toán vốn và kiểm
soát thanh toán vốn đầu tư, công tác quyết toán dự án hoàn thành.
- Chính sách công tác nghiệm thu:
- Chính sách thanh toán và kiểm soát thanh toán vốn đầu tư.
- Chính sách công tác quyết toán dự án hoàn thành.
1.2.6. Chính sách về công tác thanh tra, kiểm tra các dự án sử dụng vốn
đầu tư XDCB
Thanh tra, kiểm tra quá trình sử dụng vốn đầu tư XDCB là một lĩnh
vực vô cùng khó khăn và phức tạp; phải kiểm tra, kiểm soát tất cả các giai
đoạn của quá trình đầu tư một dự án; phát hiện và xử lý kịp thời các hiện
tượng sai trái, gây thất thoát lãng phí trong quá trình đầu tư..
1.3. Khái niệm, tầm quan trọng và các yêu cầu cơ bản của thực hiện
chính sách đầu tư xây dựng cơ bản từ ngân sách nhà nước
1.3.1. Khái niệm thực hiện chính sách đầu tư xây dựng cơ bản từ ngân
sách Nhà nước
Thực hiện chính sách quản lý vốn đầu tư XDCB từ NSNN là thực
hiện chính sách, quản lý quá trình phân phối và sử dụng một phần vốn tiền
tệ từ NSNN để đầu tư tái sản xuất tài sản cố định nhằm từng bước tăng
cường, hoàn thiện, hiện đại hóa cơ sở vật chất kỹ thuật và năng lực sản xuất
phục vụ của nền kinh tế quốc dân đảm bảo hiệu quả nguồn vốn đã được bỏ
ra đầu tư.
1.3.2. Tầm quan trọng của việc thực hiện chính sách đầu tư xây dựng cơ
bản từ ngân sách Nhà nước
Luật Xây dựng có phạm vi bao quát rộng, có vai trò rất quan trọng
và đã đóng góp có hiệu quả vào việc tạo lập môi trường pháp lý và tăng
cường năng lực quản lý của nhà nước. Thực tế trong quá trình quản lý vốn
tướng Chính phủ, các đơn vị chủ đầu tư không được phép cho doanh nghiệp
tự bỏ vốn thi công dự án khi chưa được bố trí vốn, làm phát sinh nợ đọng
XDCB
1.4.2. Phổ biến tuyên truyền chính sách đầu tư xây dựng cơ bản từ ngân
sách nhà nước
Trong những năm qua, Nhà nước đã đầu tư nguồn vốn rất lớn để
xây dựng các công trình trọng điểm với quy mô khác nhau trên phạm vi cả
nước, góp phần quan trọng vào thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao
đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân. Bên cạnh những thành tựu đã
đạt được, tình hình vi phạm pháp luật trong đầu tư xây dựng cơ bản xảy ra
ngày càng nhiều, với những cách thức, thủ đoạn ngày càng tinh vi; gây thất
thoát ở tất cả các khâu, từ quy hoạch, kế hoạch, chủ trương đầu tư, chuẩn bị
đầu tư, thực hiện đầu tư, cấp phát vốn đầu tư, đến khâu nghiệm thu, bàn giao
đưa công trình vào sử dụng và quyết toán vốn đầu tư.
9
1.4.3. Phân công, phối hợp thực hiện chính sách đầu tư xây dựng cơ bản
từ ngân sách nhà nước
Hiện nay, tinh thần trách nhiệm của các ngành, các cấp trong việc
triển khai thực hiện các Chỉ thị, Nghị quyết, các cơ chế chính sách đã được
ban hành về công tác quản lý đầu tư và xây dựng chưa cao. Tình trạng
buông lỏng trong quản lý, thiếu kỷ cương, kỷ luật trong đầu tư đã dẫn đến
những sai sót trong quản lý quá trình xây dựng thể hiện ở tất cả các khâu, từ
xây dựng kế hoạch, xác định chủ trương đầu tư, xây dựng dự án, thẩm định
dự án, ra quyết định đầu tư, thiết kế kỹ thuật, lập tổng dự toán đến khâu triển
khai thực hiện, giám sát thi công, theo dõi cấp phát thanh quyết toán...;
1.4.4. Duy trì chính sách đầu tư xây dựng cơ bản từ ngân sách nhà nước
Trong những năm qua, vốn đầu tư của Nhà nước liên tục gia tăng
+ Quản lý tốt công tác quy hoạch, kế hoạch đề ra. Khi thực hiện lập kế
hoạch, quy hoạch cần phải lấy ý kiến của người dân và có sự đồng thuận của
những người trong vùng hưởng lợi
+ Chủ trương đầu tư phải phù hợp với chuyển dịch cơ cấu kinh tế và phù
hợp với quy hoạch được duyệt
+ Cơ chế quản lý các dự án đầu tư, quản lý chất lượng công trình phải
được thực hiện theo đúng quy định
+ Tăng cường quản lý năng lực hoạt động của các nhà thầu tư vấn, thi
công xây dựng
+ Tăng cường cải cách hành chính, chống tiêu cực, phiền hà ở các cơ
quan nhà nước liên quan đến quá trình đầu tư xây dựng cơ bản
+ Chú trọng công tác đào tạo, bồi dưỡng cho cán bộ làm công tác liên
quan đến đầu tư xây dựng cơ bản
1.5. Các yếu tố ảnh hưởng đến việc thực hiện chính sách đầu tư xây
dựng cơ bản từ ngân sách nhà nước
Có nhiều yếu tố ảnh hưởng tới việc thực hiện chính sách đầu tư
XDCB từ NSNN. Đó là: Yếu tố khách quan và yếu tố chủ quan. Đó là các
yếu tố do tự nhiên mang lại, các loại rủi ro có thể lường trước, không lường
trước; là các yếu tố do con người mang lại như trình độ chuyên môn của các
nhà quản lý vốn đầu tư, các điều chỉnh của các văn bản quy phạm pháp
luật,...
1.5.1. Yếu tố chủ quan
Một trong những yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến việc thực hiện
đầu tư XDCB từ NSNN là công tác quản lý đầu tư của địa phương, trình độ
quản lý và sử dụng vốn của cán bộ quản lý và thực hiện đầu tư tại địa
phương.
1.5.2. Yếu tố khách quan
Đó là các yếu tố không lường trước được như thiên tai, các rủi ro từ
sự biến động của nền kinh tế thế giới, của cả nước tác động tới địa phương
cứu Lịch sử, Địa lý và Văn học (gọi tắt là Ban nghiên cứu Sử - Địa - Văn)
được thành lập ngày 2 tháng 12 năm 1953, trong thời kỳ kháng chiến chống
thực dân Pháp.
Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam là cơ quan khoa học
thuộc Chính phủ, có chức năng nghiên cứu cơ bản về khoa học xã hội, cung
cấp các luận cứ khoa học cho Đảng và Nhà nước trong việc hoạch định
đường lối, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chính sách phát triển nhanh và
bền vững của đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa; thực hiện tư vấn
về chính sách phát triển; đào tạo sau đại học về khoa học xã hội; tham gia
phát triển tiềm lực khoa học xã hội của cả nước. Nghị định của Chính phủ
cũng xác định cụ thể nhiệm vụ, quyền hạn của Viện Hàn lâm Khoa học xã
hội Việt Nam, trong đó có các nội dung cơ bản là:
- Nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn về khoa học xã hội:
- Tổ chức sưu tầm, khai quật, nghiên cứu, bảo tồn và bảo tàng nhằm phát
huy những giá trị di sản văn hóa của các dân tộc Việt Nam.
- Kết hợp nghiên cứu với đào tạo trong lĩnh vực khoa học xã hội; đào tạo
và cấp bằng thạc sĩ và tiến sĩ về khoa học xã hội theo quy định của pháp
luật; tham gia phát triển nguồn nhân lực có trình độ cao theo yêu cầu của cả
nước, ngành, vùng, địa phương và doanh nghiệp.
- Tổ chức hợp tác nghiên cứu và liên kết đào tạo về khoa học xã hội với
các tổ chức quốc tế, các viện và trường đại học nước ngoài theo quy định
của pháp luật.
- Tư vấn và phản biện các chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chính sách,
chương trình và dự án phát triển kinh tế - xã hội quan trọng theo yêu cầu của
12
Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, các Bộ, ngành, địa phương và doanh
nghiệp.
của dự án trong năm (9) (xem phụ lục 4) tổng hợp kết quả cho thấy như sau:
a. Hoạt động phân bổ, giao dự toán NSNN vốn ĐTXD:
b. Quản lý tạm ứng vốn ĐTXD:
c. Quản lý thanh toán vốn đầu tư:
d.Quản lý quyết toán vốn ĐTXD
2.2.2. Thực trạng phổ biến, tuyên truyền thực hiện chính sách đầu tư xây
dựng cơ bản từ ngân sách nhà nước tại Viện Hàn lâm Khoa học xã hội
Việt Nam
13
Trong những năm qua, Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam đã có nhiều
nỗ lực trong công tác chỉ đạo các đơn vị thực hiện tốt những chính sách đầu
tư xây dựng từ ngân sách nhà nước. Để nâng cao hiệu quả trong đầu tư
công, công tác tuyên truyền, phổ biến được Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam
triển khai thực hiện theo hướng có trọng tâm, trọng điểm bằng các giải pháp
thiết thực.
Nhiều dự án không bị chậm tiến độ tổng thể theo phê duyệt nhưng
các hạng mục thiết bị (thang máy, điều hòa không khí, camera quan sát…)
nhập khẩu ở nước ngoài đều chậm. Một trong những khâu cũng rất chậm là
hoàn thiện hồ sơ chất lượng, hồ sơ quyết toán. Khi thi công, các nhà thầu cố
gắng chạy tiến độ nên không kịp làm hồ sơ chi tiết nên thường thiếu vì thế
khi quyết toán đều phải gia hạn hợp đồng để chuẩn hóa lại các hồ sơ.
2.2.3. Thực trạng phân công, phối hợp của các đơn vị chức năng trong
việc thực hiện chính sách đầu tư xây dựng cơ bản từ ngân sách nhà nước
tại Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam
Bộ máy thực hiện hoạt động QLDA đều thiếu và yếu, hoạt động
chưa chuyên nghiệp. thì chỉ có 62 cán bộ có chuyên môn kỹ thuật xây dựng,
tin học (chiếm 50%); 16 cán bộ có chuyên ngành kế toán, tài chính (chiếm
vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ ngân sách nhà nước tại Viện Hàn lâm
Khoa học xã hội Việt Nam
Việc theo dõi, kiểm tra đôn đốc thực hiện chính sách quản lý vốn
đầu tư XDCB từ NSNN được Chủ tịch Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam giao
nhiệm vụ cho Ban Kế hoạch - Tài chính và các đơn vị thực hiện nghiêm
Chiến lược phát triển Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam giai đoạn
2011 – 2020 cũng như theo Quyết định số 418/QĐ-Ttg của Thủ tướng về
phê duyệt chiến lược phát triển Khoa học và công nghệ giai đoạn 2011-2015
và các văn bản của Ban KH-TC hàng năm; Theo chức năng nhiệm vụ của
mình Ban KH-TC đã tham mưu giúp chủ tịch Viện Hàn lâm KHXH Việt
Nam thực hiện nghiêm trong quản lý vốn đầu tư XDCB như:
- Ban KH-TC tăng cường công tác thẩm tra các dự án, thanh tra các đơn vị
tư vấn về năng lực và phạm vi công việc của từng đơn vị tham gia công tác
tư vấn tại Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam; tổ chức kiểm tra đánh giá chất
lượng công trình có qui mô phức tạp; đôn đốc các chủ đầu tư thực hiện
nghiêm tiến độ đã cam kết trong hợp đồng…
2.2.7. Thực trạng tổ chức đánh giá, tổng kết chính sách quản lý vốn đầu
tư xây dựng cơ bản từ ngân sách nhà nước tại Viện Hàn lâm Khoa học xã
hội Việt Nam
Hệ thống thông tin phục vụ giám sát đánh giá chưa tốt. Cho đến
nay, các đơn vị đầu mối thiếu cơ sở dữ liệu về hoạt động đầu tư thuộc phạm
vi đơn vị mình quản lý, chưa chủ động trong việc tổ chức giám sát, đánh giá,
sơ tổng kết chủ yếu dựa vào báo cáo của cấp dưới nên chất lượng các báo
cáo giám sát đánh giá đầu tư còn sơ sài. Công tác quản lý đầu tư chưa được
chú ý, gần như khoán gọn cho các ban quản lý dự án. Thiếu kiểm tra, kiểm
soát, giám sát thường xuyên. Chậm xử lý hoặc xử lý chưa nghiêm các sai
phạm.
2.3. Đánh giá chung về tổ chức thực hiện chính sách đầu tư xây dựng cơ
bản từ ngân sách nhà nước tại Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam
2.3.1. Những kết quả đạt được
- Công tác thẩm định thiết kế - dự toán:
- Công tác thực hiện xây dựng:
- Công tác bồi thường giải phóng mặt bằng:
- Về công tác nghiệm thu, thanh toán vốn:
- Công tác báo cáo chưa được kịp thời và thường xuyên theo các văn bản
quy định về báo cáo như:
- Việc đào tạo, chuyển giao công nghệ, quản lý vận hành công trình cho đơn
vị thụ hưởng chưa thật sự chú trọng;
2.3.2.2. Những nguyên nhân của hạn chế
Về Nguyên nhân chủ quan có thể nhận thấy những điểm sau đây:
- Việc phân bổ dự toán chi ngân sách nhà nước hàng năm, cơ chế phân bổ
chưa thực sự ưu tiên cho đầu tư phát triển mà chủ yếu phụ thuộc vào nguồn
vốn từ Trung ương vì nguồn thu của tỉnh còn hạn chế.
- Công tác triển khai thủ tục đầu tư còn chậm so với yêu cầu thực tế. - Năng lực của một số đơn vị được giao làm chủ đầu tư còn yếu, chưa đáp
ứng yêu cầu trong điều kiện mới, các ban quản lý dự án trình độ đã dần
được củng cố, số lượng và chất lượng cán bộ trong các ban quản lý đã được
nâng lên nhưng vẫn còn một số đơn vị trình độ tổ chức thực hiện dự án chưa
đáp ứng hết yêu cầu, có những Ban QLDA thừa nhưng lại thiếu cán bộ kỹ
thuật
2.3.2.3. Bài học kinh nghiệm
Nhằm hoàn thành các chỉ tiêu, kế hoạch mà tỉnh đã đề ra; Viện Hàn lâm
KHXH Việt Nam cần phải thực hiện tốt những nhiệm vụ sau:
16
+ Tăng cường công tác lãnh đạo, chỉ đạo của Chủ tịch Viện, Ban KHTC, các đơn vị trực thuộc và ban QLDA thông qua việc quán triệt các Nghị
quyết, Chỉ thị, Chương trình hành động, Đề án, Kế hoạch.
+ Tạo môi trường thông thoáng trong thu hút vốn đầu tư XDCB từ các
thành phần kinh tế.
trong thời gian tới.
17
CHƯƠNG 3
NHỮNG GIẢI PHÁP ĐẢM BẢO THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH QUẢN
LÝ ĐẦU TƯ XÂY DỰNG CƠ BẢN CỦA
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
3.1. Định hướng chính sách đầu tư xây dựng cơ bản từ ngân sách nhà
nước tại Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam giai đoạn 2016-2020
3.1.1. Những lợi thế trong chính sách quản lý vốn đầu tư XDCB từ NSNN
tại Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam
Có thể, nói nhiều năm qua Đảng và Nhà nước luôn xác định quan
điểm phát triển khoa học công nghệ là quốc sách hàng đầu, là một trong
những động lực để phát triển lực lượng sản xuất hiện đại gắn liền với nền
kinh tế tri thức để nâng cao năng suất lao động, chất lượng sản phẩm, đổi
mới mô hình tăng trưởng thúc đẩy sức cạnh tranh của nền kinh tế, góp phần
đảm bảo quốc phòng, an ninh và bảo vệ môi trường.
Với mục đích xây dựng Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam và Viện
Hàn lâm KH-CN Việt Nam trở thành những trung tâm nghiên cứu hàng đầu
quốc gia, ngang tầm quốc tế, có tác động dẫn dắt nền khoa học nước nhà, thì
cơ sở vật chất trang thiết bị khoa học kỹ thuật của các tổ chức KH-CN thuộc
Chính phủ cũng phải đáp ứng yêu cầu phát triển đó.
3.1.2. Mục tiêu và nhiệm vụ đầu tư công trung hạn giai đoạn 2016 - 2020
Để cụ thể hóa Chiến lược phát triển khoa học và công nghệ đến
năm 2020, quy hoạch phát triển tổng thể Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam
đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030 được Chính phủ phê duyệt đã
khẳng định: “Đầu tư xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật, trang thiết bị hiện
đại theo các chuẩn mực quốc tế để phục vụ có hiệu quả hoạt động nghiên
thiết bị trưng bày và bảo quản tại Bảo tàng dân tộc học Việt Nam.
3.2. Giải pháp đảm bảo thực hiện chính sách quản lý đầu tư xây dựng
cơ bản từ ngân sách nhà nước tại Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam
3.2.1. Hoàn thiện về pháp lý
Như trên đã phân tích, việc đưa ra các Luật, văn bản dưới luật của
Chính phủ, các Bộ, Ngành, địa phương chưa có sự đồng bộ và thống nhất
nhau nên đã làm ảnh hưởng không nhỏ đến việc thực hiện chính sách quản
lý vốn đầu tư XDCB từ NSNN; vì vậy để làm tốt việc này cần thực hiện một
số việc sau:
- Luật Đầu tư công có hiệu lực từ năm 2014 nhưng hiện nay Nhà
nước chưa ban hành được các chỉ tiêu đánh giá về đầu tư công, vì thế cần
khẩn trương xây dựng các tiêu chí đánh giá để ban hành khung chung, trên
cơ sở đó triển khai trong từng lĩnh vực, địa phương cụ thể để qua đó định kỳ
đánh giá hoạt động này hàng năm.
- Cần nghiên cứu để ban hành các tiêu chuẩn, định mức cho các
công trình đầu tư trong lĩnh vực khoa họcbao gồm các tiêu chuẩn, định mức
cần tính toán để đảm bảo điều kiện làm việc phù hợp với tính chất sáng tạo,
thoải mái, tĩnh tại…trong hoạt động nghiên cứu khoa học.
- Cần nghiên cứu để ban hành thông tư hướng dẫn cụ thể hơn đối
với ban QLDA khu vực và ban QLDA chuyên ngành đặc biệt là vấn đề biên
chế, cán bộ chuyên trách và phụ cấp trách nhiệm cho các chức danh trưởng
ban, phó trưởng ban, các phòng chuyên môn để đảm bảo thực hiện thống
nhất.
- Đối với hoạt động tư vấn, đặc biệt là tư vấn thẩm định, tư vấn đấu
thầu và kiểm toán, cần nghiên cứu điều chỉnh mức chi phí cho phù hợp với
mặt bằng thị trường, ban hành kèm theo chế độ chịu trách nhiệm để tăng
cường trách nhiệm đối với các đơn vị tư vấn trong lĩnh vực này.
- Cần ban hành các hướng dẫn chế tài cụ thể để qui trách nhiệm,
hay xử lý những tồn tại về chế độ báo cáo, chế độ hợp tác với các bên có
- Chuẩn bị đầy đủ cơ sở của từng dự án, đẩy nhanh hoạt động thẩm
định với các bộ ngành có liên quan để phân bổ, giao dự án NSNN ngay
trong tháng một hằng năm, đảm bảo cho các dự án có kinh phí chủ động
thực hiện. Thông báo công khai danh mục dự án đầu tư trong năm và số liệu
phân bổ dự toán của từng dự án.
3.2.4. Nâng cao chất lượng lập, thẩm định và phê duyệt dự án đầu tư
Chất lượng tư vấn quyết định chất lương hồ sơ dự án và ảnh hưởng
đến triển khai thực hiện dự án; để khắc phục các đơn vị tư vấn yếu kém cần
thực hiện những việc sau:
- Để nâng cao chất lượng lập, thẩm định, góp ý với chủ trương đầu
tư, VASS phải bố trí kinh phí cho hoạt động này từ quĩ cơ quan thỏa đáng
theo đúng quy định Nhà nước. Khi dự án được phê duyệt, thực hiện hoàn trả
lại phần kinh phí này từ vốn chuẩn bị đầu tư của dự án. Trường hợp dự án
20
không được phê duyệt hay vì một lý do nào đó phải hủy bỏ, cho phép được
tất toán khoản kinh phí này.
- Song song với hoạt động lập dự án, hoạt động thẩm định dự án
cần tuân thủ tiêu chuẩn, quy chuẩn Việt Nam trong lĩnh vực xây dựng, đảm
bảo an toàn, công năng sử dụng, tuổi thọ công trình và tính toán hợp lý về
mức chi phí cho từng hạng mục để đảm bảo an toàn nhưng không lãng phí.
3.2.5. Tăng cường công tác lựa chọn nhà thầu
Hoạt động đấu thầu cần được đổi mới theo hướng công khai minh
bạch các thông tin trong kế hoạch đấu thầu về gói thầu, giá gói thầu, thời
gian tổ chức đấu thầu, hình thức, phương thức đấu thầu, thời gian thực hiện,
hình thức hợp đồng…ngay sau khi phê duyệt thiết kế bản vẽ thi công và dự
toán chi tiết.
Hồ sơ mời thầu đảm bảo rõ ràng về yêu cầu kỹ thuật, khối lượng
thiết bị nhập khẩu khi bóc niêm phong, nghiệm thu vật liệu đầu vào, nghiệm
thu các kết cấu trước khi bị che khuất…Cấp QĐĐT cần xây dựng qui chế
thanh tra, kiểm tra thường xuyên và đột xuất đối với các dự án, thực hiện
kiểm định các kết cấu chịu lực chính của công trình để đảm bảo an toàn.
3.2.7. Tăng cường quản lý nghiệm thu, bàn giao đưa công trình vào sử
dụng
Công trình chỉ được nghiệm thu bàn giao đưa vào sử dụng khi đã
hoàn thành tất cả các hạng mục đã ký kết trong hợp đồng; đã tiến hành các
bước nghiệm thu kỹ thuật từng phần trong quá trình thi công và tổng nghiệm
thu kỹ thuật có sự tham gia của các bên liên quan; khi tiến hành nghiệm thu
đơn vị thi công và chủ đầu tư phải gửi hồ sơ hoàn công cho đơn vị quản lý
nhà nước chuyên ngành kiểm tra, khi có ý kiến thống nhất của các cơ quan
quản lý nhà nước đó mới tiến hành nghiệm thu bàn giao với sự tham gia
đúng thành phần mà Luật đã quy định
Quan tâm hơn đến công tác bảo hành, bảo trì công trình, có hướng
dẫn, tập huấn vận hành công trình cho đơn vị thụ hưởng, hàng năm phải bố
trí vốn duy tu bảo dưỡng đúng theo quy định nhằm vận hành công trình đạt
hiệu quả và tăng tuổi thọ công trình
3.2.8. Nâng cao trình độ, chuyên môn cho cán bộ quản lý vốn
đầu tư XDCB từ NSNN
Theo Luật Xây dựng năm 2014 và các văn bản hướng dẫn hiện
hành thì QLDA đang hướng tới các mô hình QLDA chuyên nghiệp, hạn chế
tính thời vụ. Các ban QLDA phải đủ các bộ môn (kiến trúc, kết cấu, điện
lạnh, điện nhẹ, điện cao thế, nước, thông tin liên lạc…) và không dưới 20
người. Các ban QLDA này là chủ đầu tư, không còn cấp chủ đầu tư trung
gian. Để nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ và năng lực quản lý vốn
đầu tư XDCB trước mắt tập trung giải quyết một số giải pháp sau:
+ Rà soát lại toàn bộ những người làm công tác này, phân ra các
thông tin theo quy định và thực hiện quy đổi vốn đã thực hiện về mặt bằng
giá tại thời điểm bàn giao đưa vào vận hành để xác định giá trị tài sản cố
định mới tăng và giá trị tài sản bàn giao
3.2.10. Nâng cao công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát cộng
đồng và công khai tài chính
Việc thanh tra, kiểm tra, giám sát cộng đồng là công tác có kế
hoạch thường xuyên và được các cấp phê duyệt để kịp thời phát hiện những
sai phạm trong đầu tư XDCB từ NSNN nhằm xử lý và uống nắn kịp thời
tránh tình trạng một sự việc sai phạm tương tự mà cứ diễn ra thường xuyên
và có hệ thống gây thất thoát lãng phí vốn nhà nước.
Xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu và thông tin của từng dự án để cấp
quyết định đầu tư nắm kịp thời tình hình của từng dự án, thuận tiện cho hoạt
động báo cáo, kiểm tra giám sát.
Xây dựng hệ thống mẫu biểu báo cáo khoa học và thống nhất trong
VASS để thuận tiện cho lấy số liệu và kịp thời báo cáo định kỳ, đột xuất của
các cấp có thẩm quyền.
Xây dựng quy trình kiểm tra giám sát các dự án tại VASS.
Thực hiện chủ trương công khai hóa các thông tin của dự án như
quy mô dự án, chủ đầu tư, các nhà thầu chính… trên các bảng hướng dẫn
của dự án để thuận tiện cho giám sát cộng đồng.
Kết luận Chương 3
Tăng cường công tác thực hiện chính sách quản lý đầu tư XDCB từ
NSNN là công việc cấp bách và hết sức quan trong trong quá trình phát triển
của đất nước, khi chúng ta đang tiến hành hoàn thiện các văn bản Luật và
dưới Luật để đáp ứng yêu cầu phát triển chung của đất nước và hội nhập với
23