A. ĐIỀU KIỆN HOÀN CẢNH TẠO RA SÁNG KIẾN
1. Tạo lập văn bản đối với một đề thi Ngữ văn theo hình thức tự luận là khâu cuối cùng
định giá năng lực kết quả của người dạy và người học. Vì vậy, hướng dẫn học sinh để các
em có kiến thức và kĩ năng tạo lập văn bản. Đặc biệt là phần mở bài và kết bài là một khâu
quan trọng chúng ta không thể không lưu tâm.
2. Đây là năm thứ 2 Bộ Giáo dục thực hiện kì thi THPT Quốc gia. Đó là một thử thách
lớn đối với người dạy và người học, hướng tới kiểm tra năng lực tư duy, chống học vẹt học
tủ, kết quả ảo. Vì vậy đề thi môn Ngữ văn ngày càng thay đổi. Đặc biệt trong câu Nghị luận
văn học chiếm 4 điểm của đề thi. Điều này có thể thấy qua đề thi 2015
“Người đàn bà bỗng chép miệng, con mắt như đang nhìn suốt cả đời mình.
-
Giá tôi đẻ ít đi, hoặc chúng tôi sắm được một chiếc thuyền rộng hơn, từ ngày cách
mạng về đã đỡ đoi khổ chứ trước kia vào các vụ bắc, ông trời làm động biển suốt hang
tháng, cả nhà vợ chồng con cái toàn ăn cây xương rồng luộc chấm muối…
-
Lão ta trước hồi bảy nhăm có đi lính ngụy không? - Tôi bỗng hỏi một câu như lạc đề.
-
Không chú à, cũng nghèo khổ, túng quẫn đi vì trốn lính- Bỗng mụ đỏ mặt- nhưng cái
lỗi chính là đám đàn bà ở thuyền đẻ nhiều quá, mà thuyền lại chật.
-
Vậy sao không lên bờ mà ở? - Đẩu hỏi.
-
Phải- Người đàn bà đáp- Cũng có khi biển động sóng gió chứ chú?
1
Lát sau mụ lại mới nói tiếp:
-
Mong các chú cách mạng thông cảm cho, đám đàn bà hàng chài ở thuyền chúng tôi
cần phải có người đàn ông để chèo chống khi phong ba, để cùng làm ăn nuôi nấng đặng
một sắp con nhà nào cũng trên dưới chục đứa. Ông trời sinh ra người đàn bà là để đẻ con,
rồi nuôi con cho đến khi khôn lớn, cho nên phải gánh lấy cái khổ. Đàn bà ở thuyền chúng
tôi phải sống cho con chứ không thể sống cho mình như ở trên đất được! Mong các chú
lượng tình cho cái sự lạc hậu. Các chú đừng bắt tôi bỏ nó!- Lần đầu tiên trên khuôn mặt xấu
xí của mụ chợt ửng sáng lên như một nụ cười- vả lại, ở trên chiếc thuyền cũng có lúc vợ
chồng con cái chúng tôi sống hòa thuận, vui vẻ.
-
Cả đời chị có một lúc nào thật vui không? - Đột nhiên tôi hỏi.
-
Có chứ, chú! Vui nhất là lúc ngồi nhìn đàn con tôi chúng nó được ăn no.
(Trích Chiếc thuyền ngoài xa- Nguyễn Minh Châu, Ngữ văn 12, tập 2, NXB Giáo dục Việt
Nam, 2015, tr.75-76)
Cảm nhận của anh (chị) về nhân vật người đàn bà hàng chài trong đoạn trích trên. Từ đó,
bình luận ngắn gọn về cách nhìn nhận cuộc sống và con người của nhà văn Nguyễn Minh
Châu trong tác phẩm Chiếc thuyền ngoài xa”
Đề thi học kì I của Sở giáo dục đào tạo Nam Định:
không biết viết gì ngay ở phần mở bài đầu tiên.
2. Một bộ phận không nhỏ là học sinh hạn chề năng lực về môn Ngữ văn, hoặc với ý
thức làm bài cho xong để chống điểm liệt. Đặc biệt với cách ra đề và đáp án của Bộ hiện nay
là phải đảm bảo cấu trúc nghị luận.
3. Vì vậy với tôi việc rèn cho học sinh có kĩ năng viết đucợ phần mở bài và biết kết gói
lại vấn đề là rất quan trọng. Đầu xuôi thì đuôi mới lọt. Mở bài là bước tạo ấn tượng ban đầu
dẫn dắt người đọc vào một bài văn. Tuy nhiên đó lại là vấn đề rất khó khăn với học sinh
(theo khảo sát thực tế).
Phần kết bài, làm như thế nào để thâu tóm lại vấn đề, đồng thời tạo được ấn tượng cho
người đọc
II.
Mô tả giải pháp sau khi có sáng kiến
Hướng dẫn họ sinh rèn kĩ năng mở và kết bài trong bài văn nghị luận. (Ở sáng
kiến này chỉ áp dụng đối với nghị luận văn học)
1.
Cho học sinh nhận diện những yêu cầu của 2 phần này trong một bài văn
-
Hiểu rõ về chức năng của mở bài và kết bài trong bài văn nghị luận và có kĩ năng vận
dụng linh hoạt, sáng tạo các kiểu mở bài, kết bài thông dụng.
-
Tự sửa và tránh các lỗi đã mắc, thường mắc khi viết mở bài và kết bài trong các bài
văn nghị luận.
3
Yêu cầu của phần mở bài:
+ Mở bài nhằm giới thiệu một cách khái quát vấn đề sẽ được triển khai, bàn bạc. Mở bài
hay, tự nhiên sẽ như một dòng chảy được khơi thông, ý văn sẽ được mở ra. Ngược lại, mở
bài lúng túng không trúng vấn đề sẽ khiến việc triển khai ý khó khăn, khó tạo ra sự lien
thông liền mạch.
+ Về hình thức: mở bài thường là một đoạn văn khoảng 5- 7 dòng.
+ Về nội dung:
4
Mở bài gồm hai phần: Phần dẫn dắt vào vấn đề và phần nêu vấn đề.
+ Thông thường mở bài đối với các tác phẩm văn học như phân tích, cảm nhận một đoạn
văn hay nhân vật thường viết như sau : tác giả + vị tí của tác giả trông nền văn học hoặc
phong cách + đề tài tiêu biểu+ tác phẩm tiêu biểu+ nêu đoạn văn, đoạn thơ, nhân vật mà đề
bài yêu cầu
+ Để viết phần mở bài không vướng mắc, học sinh cần phải nắm được những từ khóa về
mỗi tác giả.
Ví dụ với Thanh Thảo cần phải nhớ ông là một trong số nhà thơ tiêu biểu của thế
hệ các nhà thơ trưởng thành trong cuộc kháng chiến chống Mĩ.
Hay với Quang Dũng, phải nhớ đó là nhà thơ của xứ Đoài mây trắng, với hồn thơ
phóng khoáng, lãng mạn, hào hoa.
Với Nguyễn Trung Thành là nhà văn gắn bó máu thịt với mảnh đất Tây Nguyên
trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mĩ.
-
Hướng dẫn học sinh viết mở bài cho 3 đề bài sau:
+ Đề 1: Vẻ đẹp của con người Việt Nam trong kháng chiến chống Mĩ qua hai tác phẩm
Những đứa con trong gia đình của Nguyễn Thi và Rừng xà nu của Nguyễn Trung
….
Mường Lát hoa về trong đêm hơi”
“Nhớ gì như nhớ người yêu
…
Sớm khuya bếp lửa người thương đi về”
+ Đề bài 3: Kim Lân là một trong số những nhà văn tiêu biểu của văn xuôi Việt Nam hiện
đại. Ông có sở trường viết truyện ngắn với đề tài nông thôn và những người dân quê. Vợ
nhặt là một trong những tác phẩm xuất sắc của Kim Lân được rút ra từ tập truyện Con chó
xấu xí. Truyện đã xây dựng thành công hai nhân vật phụ nữ .Về 2 nhân vật này có ý kiến cho
rằng”Chị vợ nhặt được khắc họa ở phươngdiện bên ngoài còn bà cụ Tứ lại hiện lên qua
những khắc họa nội tâm bên trong”.
→ Từ đây giáo viên rút ra những lỗi học sinh thường mắc phải:
+ Phần dẫn dắt nhiều khi không lien quan đến phần nêu.
+ Mở bài sáo rỗng dùng ngôn từ khoa trương.
+ Ý dẫn dắt không lien quan đến trọng tâm của bài.
6
+ Dẫn lan man dài dòng.
+ Trình bày chi tiệt, cụ thể nội dung lẽ ra chỉ triển khai ở phần thân bài.
*VIẾT PHẦN KẾT BÀI
- Học sinh tìm hiểu phần kết bài trong sách giáo khoa Ngữ văn 12, tr 114-115, ngữ liệu 1.
+ KB1: Không phù hợp vì không chốt được vấn đề, phạm vi kết luận quá rộng so với đề tài,
thiếu phương tiện liên kết.
+ KB2: Phù hợp vì kết luận rõ ràng, khái quát được vấn đề, có dấu hiện liên kết rõ ràng.
- Học sinh tìm hiểu hai kết bài của ngữ điệu 2
+ KB1: KB có tính khái quát, khẳng định vấn đề, liên hệ mở rộng.
+ KB2: Củng cố liên hệ mở rộng, có sự khái quát vấn đề khá rõ ràng
- Vai trò của kết bài:
+ Kết bài là phần cuối của bài viết, có tính chất hô ứng với phần trên nhưng kh'ông phải là
đất nước mình đã đi qua, về vẻ đẹp muôn đời của con người đất Việt.
+ KB2: Hai đoạn thơ đếu diễn tả những nỗi nhớ rất sâu đậm về một địa danh cụ thể gắn với
một vùng đất chan chứa kỉ niệm. Dù là nỗi nhớ “chơi vơi” hay nỗi nhớ “người yêu” thì
chúng ta đều nhận thấy mức độ sâu nặng trong tình cảm nhớ thương của hai nhà thơ. Họ
không chỉ nhớ về một nơi cụ thể mà nó còn là nơi cất dấu những kỉ niệm, những ân tình
kháng chiến, những gian khổ đã từng trải qua và hơn thế nữa còn là tình cảm quân dân gắn
bó. Từ đó có thể coi “Tây Tiến” của Quang Dũng và “Việt Bắc” của Tố Hữu là hai thi
phẩm đặc sắc của thơ ca cách mạng. Thông qua cách thể hiện nỗi nhớ rất riêng biệt của
từng nhà thơ, chúng ta thấy được cá tính sáng tạo đặc biệt của họ và điều đó tạo nên dấu ấn
lâu bền trong lòng người đọc.
+ KB3: Bằng ngòi bút tài hoa khi khắc họa nhân vật, Kim Lân đã thể hiện lòng cảm thông
với số phận cùng quẫn của người nông dân trong nạn đói và thái độ ngợi ca trân trọng
những phẩm chất tốt đẹp của họ. “Vợ nhặt” xứng đáng là một truyện ngắn đặc sắc viết về
đề tài người nông dân trong văn học hiện đại Việt Nam.
- Hướng dẫn học sinh cách triển khai cụ thể:
+ Bước 1: Đọc kĩ đề bài, nhận diện đề rõ ràng, nhận diện đây là kiểu bài gì? Nghị luận về
một bài thơ, một đoạn thơ, một đoạn trích hay một tác phẩm văn xuôi. Nghị luận về một ý
kiến về văn học, hai ý kiến bàn về văn học; nghị luận về hai đoạn trích văn xuôi. Muốn viêt
tốt phần này đọc kỹ về phấn tiểu dẫn về tác giả trong sách giáo khoa.
+ Bước 2: Với từng kiểu bài cụ thể
8
• Với kiểu bài nghị luận về một đoạn thơ, một bài thơ, một đoạn trích, một tác phẩm
văn xuôi học sinh giới thiệu tác giả, tác phẩm, nội dung nghị luận (lưu ý phải đảm
bảo ngắn gọn, đúng, trúng) trích dẫn nội dung vấn đề cần nghị luận.
• Với kiểu bài nghị luận về hai đoạn thơ, hai đoạn trích: Học sinh giới thiệu từng tác
giả một, giới thiệu hai tác phẩm, tìm ra điểm chung của hai đoạn (viết một câu khái
quát) rồi trích dẫn vấn đề.
• Với kiểu bài nghị luận về một ý kiến, hai ý kiến: Ngoài phần giới thiệu về tác giả, tác
12A10 Trường THPT Mỹ Lộc, phần lớn học sinh yếu chỉ tham gia xét tốt nghiệp nhưng các
em đã không còn “ngại” khi bắt đầu một bài văn nữa.
Dưới đây là một số mở bài của học sinh 12A10
- Đề 1: Cảm nhận về đoạn thơ sau:
“Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm
Heo hút cồn mây súng ngửi trời
Ngàn thước lên cao, ngàn thước xuống
Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi”
(Tây Tiến – Quang Dũng)
Phần mở bài của học sinh:
Quang Dũng là nhà thơ đa tài, ông làm thơ vẽ tranh và soạn nhạc. Nhưng người đọc biết
đến Quang Dũng nhiều hơn cả là một nhà thơ. Thi phẩm được đánh giá là đứa con đầu
lòng tráng kiện và hào hoa đó là Tây Tiến (1947). Cả bài thơ là nỗi nhớ về thiên nhiên miền
Tây Bắc và binh đoàn Tây Tiến. Nỗi nhớ đó được cụ thể trong đoạn thơ sau
“Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm
Heo hút cồn mây súng ngửi trời
Ngàn thước lên cao, ngàn thước xuống
Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi”
( Bài làm của em Nguyễn Lan Hương 12A10)
- Đề 2: Về nhân vật Việt trong “Những đứa con trong gia đình” của Nguyễn Thi, có ý kiến
cho rằng “Việt là một cậu bé mới lớn, hồn nhiên, ngộc nghệch, vô tư”, ý kiến khác lại nhấn
mạnh “Việt là một chiến sĩ dũng cảm, kiên cường”. Ý kiến của anh/ chị?
Bài viết của học sinh:
Nguyễn Thi là nhà văn của người nông dân Nam Bộ, những nhân vật trong sáng tác của ông
thường là những người nông dân dũng cảm, có lòng căm thù giặc sâu sắc. Ông là nhà văn
có biệt tài đi sâu vào tâm lý của nhân vật. Điều này được thể hiện ở nhân vật Việt trong tác
10
phẩm “Những đứa con trong gia đình”. Về nhân vật này có ý kiến cho rằng “Việt là một