Header Page 1 of 126.
khoa luật
Công trình đ-ợc hoàn thành
tại Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội
bùi thị nga
Ngi hng dn khoa hc: TS. Nguyn Minh Tun
đại học quốc gia hà nội
PHN LOI TI SN TRONG PHP LUT
DN S VIT NAM
Chuyờn ngnh : Lut dõn s
Mó s
Phn bin 1:
Phn bin 2:
: 60 38 30
Lun vn c bo v ti Hi ng chm lun vn, hp ti
Khoa Lut - i hc Quc gia H Ni.
tóm tắt luận văn thạc sĩ luật học
Vo hi ..... gi ....., ngy ..... thỏng ..... nm 2012.
hà nội - 2012
1.3.3.
Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ TÀI SẢN
Khái niệm tài sản
Sơ lược về khái niệm tài sản
Tài sản trong ngôn ngữ pháp lý
Ý nghĩa của khái niệm tài sản
Sự hình thành và phát triển của khái niệm tài sản
Nguồn gốc hình thành và phát triển của khái niệm tài sản
Sự hình thành và phát triển của khái niệm tài sản tại Việt Nam
Phân loại tài sản
Căn cứ vào chủ sở hữu tài sản, tài sản được chia thành tài
sản công, tài sản chung và tài sản tư
Dựa vào đặc tính vật lý (có thể di dời được hay không) và
giá trị của tài sản, tài sản được chia thành động sản và bất
động sản
Dựa vào phương thức chiếm hữu (kiểm soát thực tế, kiểm
soát hành vi các chủ thể, có thể cảm nhận, nắm bắt được
hay không) tài sản được phân loại thành tài sản vô hình và
tài sản hữu hình
Chương 2: QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ
1
5
5
5
6
8
10
Vật
Tiền
Footer Page 2 of 126.
3
43
44
45
45
46
47
52
PHÁP LUẬT VỀ TÀI SẢN, PHÂN LOẠI TÀI
SẢN VÀ HƯỚNG HOÀN THIỆN
3.1.
3.1.1.
3.1.2.
3.2.
3.3.
Những hạn chế của khái niệm tài sản, quyền tài sản (Điều 163
và Điều 181)
Hạn chế của khái niệm tài sản (Điều 163)
Hạn chế của khái niệm quyền tài sản (Điều 181)
Những hạn chế trong quy định về các loại tài sản (Điều 174
đến Điều 181 Bộ luật Dân sự 2005)
53
60
66
70
Header Page 3 of 126.
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Luật dân sự có đối tượng điều chỉnh là các quan hệ nhân thân và các quan
hệ tài sản. Do đó tài sản là một trong những phạm trù, khái niệm gốc của luật
dân sự. Nghiên cứu về tài sản và phân loại tài sản có ý nghĩa quan trọng trong
việc định hướng, xây dựng các chế định khác của luật dân sự: chế định về sở
hữu, thừa kế, hợp đồng… Trong đời sống, tài sản cũng nắm giữ vị trí không
thể thay thế, nó luôn là lợi ích mà các chủ thể hướng tới khi tham gia các giao
dịch dân sự, kinh doanh, thương mại. Chính vì vậy, hoàn thiện khái niệm tài
sản và phân loại tài sản là một yêu cầu cần thiết. So với Bộ luật Dân sự năm
1995, Bộ luật Dân sự năm 2005 mặc dù đã có những thay đổi theo hướng tiến
bộ và phù hợp hơn với thực tế đời sống song vẫn không tránh khỏi những bất
cập gây ảnh hưởng không nhỏ đến giao lưu dân sự của các cá nhân, tổ chức.
Đồng thời nó cũng gây ra những hạn chế nhất định trong việc tiếp thu và hội
nhập với luật dân sự của các quốc gia khác trên thế giới. Trong rất nhiều các
buổi tọa đàm về định hướng sửa đổi Bộ luật Dân sự 2005, các ý kiến đều cho
rằng phải cải cách và sửa đổi về cơ bản và tổng thể sao cho Bộ luật Dân sự sửa
đổi không chỉ tồn tại trên dưới mười năm như Bộ luật Dân sự năm 1995 và
2005 mà còn có thể tồn tại trên dưới một trăm năm như các Bộ luật Dân sự
của các nước Nhật Bản, Pháp, Đức. Để đạt được điều đó Bộ luật Dân sự phải
không những đáp ứng được các yêu cầu hiện tại mà còn phải dự báo và điều
chỉnh được các tình huống, khả năng phát sinh trong tương lai. Hoàn thiện Bộ
luật Dân sự 2005 đồng nghĩa với việc hoàn thiện những khái niệm phạm trù
Về mục đích: Luận văn nghiên cứu, đề xuất giải pháp góp phần hoàn
thiện các quy định của pháp luật thực định - cụ thể là Bộ luật Dân sự 2005 về
khái niệm tài sản và phân loại tài sản.
Về nhiệm vụ: Phù hợp với mục đích trên, luận văn thực hiện ba nhiệm
vụ chính sau:
- Tìm hiểu lịch sử hình thành và phát triển của khái niệm tài sản và phân
loại tài sản trên thế giới, trong mỗi hệ thống pháp luật và ở nhiều quốc gia
khác nhau.
- Phân tích sự hình thành phát triển của khái niệm tài sản, phân loại tài
sản tại Việt Nam. Đánh giá, so sánh những điểm tương đồng khác biệt trong
việc xây dựng khái niệm tài sản, phân loại tài sản của pháp luật dân sự Việt
Nam so với pháp luật dân sự thế giới.
6
Header Page 4 of 126.
- Chỉ ra các điểm hạn chế và hướng sửa đổi, bổ sung để hoàn thiện các quy
định liên quan đến tài sản và phân loại tài sản của pháp luật dân sự Việt Nam.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Về đối tượng nghiên cứu: Luận văn tập trung nghiên cứu về phân loại
tài sản trong pháp luật dân sự Việt Nam.
Về phạm vi nghiên cứu: Các quy định của pháp luật thực định, cụ thể là
Bộ luật Dân sự 2005. Ngoài ra, luận văn có tìm hiểu, nghiên cứu các quy
định của luật dân sự một số nước: Pháp, Nhật Bản, Thái Lan, Nga.
5. Phương pháp nghiên cứu
Chương 2: Quy định của pháp luật Việt Nam về tài sản, phân loại tài sản.
Chương 3: Thực trạng áp dụng các quy định pháp luật về tài sản, phân
loại tài sản và hướng hoàn thiện.
7
1.1.1. Sơ lược về khái niệm tài sản
Tài sản là một khái niệm quen thuộc được sử dụng trong mọi lĩnh vực
của đời sống xã hội. Trong các lĩnh vực khoa học chuyên ngành như kinh tế,
pháp lý, kế toán tài chính, tài sản cũng là khái niệm cơ bản và được nghiên
cứu hết sức kỹ lưỡng dưới các góc độ khác nhau. Theo đó, tài sản thường
được hiểu là những đối tượng phải mang lại lợi ích nào đó với con người và
có thể định giá được thành tiền.
Trong ngôn ngữ thông thường, tài sản được hiểu đơn giản và mộc mạc
là những vật phục vụ cho đời sống con người. Chúng ta có thể cảm nhận
được sự tồn tại của tài sản thông qua các giác quan, có thể nhìn, nắm bắt và
sử dụng được. Điều này khẳng định tài sản là vật có thực, hữu hình hoặc có
thể được hữu hình hóa.
1.1.2. Tài sản trong ngôn ngữ pháp lý
Trong ngôn ngữ pháp lý tài sản là của cải được con người sử dụng. Của
cải luôn gắn liền với thuộc tính giá trị và không ngừng biến đổi để hoàn
thiện. Chính vì vậy khái niệm tài sản trong khoa học pháp lý không phải là
một khái niệm bất biến.
Trong khoa học pháp lý vật chỉ trở thành tài sản khi được đưa vào trong
giao lưu dân sự và xác định sở hữu của một cá nhân đối với vật đó. Vật
thuộc sở hữu của một người đồng nghĩa với việc người đó có thể chiếm hữu,
sử dụng, định đoạt vật đó, chống lại sự tác động hay áp đặt quyền của những
8
Header Page 5 of 126.
người khác lên vật. Ngôn ngữ thông dụng nhìn nhận tài sản là những vật có
thể được nhận biết bằng các giác quan - đồng nghĩa tài sản phải hữu hình
quan hệ xã hội. Xây dựng khái niệm tài sản là vấn đề cần thiết và mang
những ý nghĩa quan trọng:
Thứ nhất: Tài sản là khái niệm cơ bản làm nền tảng xây dựng các khái
niệm khác của luật dân sự và các phân ngành khác của luật dân sự như luật
chứng khoán, luật thương mại, luật sở hữu trí tuệ. Từ chế định tài sản hình
thành chế định về sở hữu, quyền sở hữu trí tuệ và các chế định khác.
Thứ hai: Trên cơ sở khái niệm tài sản sẽ xác định những vật chất nào là
đối tượng của giao lưu dân sự, từ đó xây dựng quy chế điều chỉnh các giao
dịch đảm bảo lợi ích của các chủ thể trong quan hệ đó.
Thứ ba: Tùy từng loại tài sản, pháp luật dự liệu và thiết lập cơ chế giải
quyết tranh chấp phù hợp với các phương thức thực hiện và bảo vệ quyền
dân sự.
1.2. Sự hình thành và phát triển của khái niệm tài sản.
1.2.1. Nguồn gốc hình thành và phát triển của khái niệm tài sản
Khái niệm tài sản có một lịch sử hình thành và phát triển khá lâu dài.
Trong ngôn ngữ thông dụng tài sản được hình thành từ khi xuất hiện tư hữu.
Còn trong khoa học pháp lý khái niệm tài sản được biết đến lần đầu tiên
Footer Page 5 of 126.
9
Như vậy, bằng cách này hay cách khác, luật dân sự các quốc gia đều đã
đưa ra quan điểm về khái niệm tài sản. Mặc dù có những điểm khác biệt,
nhưng các quan điểm này đều gặp nhau ở chỗ coi tài sản là khách thể quan
trọng của quyền dân sự, là đối tượng của quyền sở hữu và phải mang giá trị
đối với con người.
1.2.2. Sự hình thành và phát triển khái niệm tài sản tại Việt Nam
Đến giai đoạn cận đại, khái niệm tài sản, động sản, bất động sản mới xuất
hiện trong hệ thống pháp luật dân sự Việt Nam. Bắt đầu từ thời điểm thực dân
Phân loại tài sản có ý nghĩa quan trọng trong việc xây dựng quy chế
pháp lý điều chỉnh các giao dịch liên quan đến tài sản. Hơn nữa, chỉ qua
phân loại mới có thể hiểu rõ khái niệm tài sản. Các hệ thống pháp luật lớn
trên thế giới đều kế thừa và phát triển một cách có chọn lọc cách phân loại
tài sản của Luật La Mã. Theo đó, trên thế giới hiện tại có một số cách phân
loại tài sản truyền thống sau đây.
1.3.1. Căn cứ vào chủ sở hữu tài sản, tài sản được chia thành tài sản
công, tài sản tư và tài sản chung
Nhắc đến tài sản không thể không nhắc đến vấn đề sở hữu, bởi tài sản là
đối tượng của quyền sở hữu. Sở dĩ, có sự phân biệt tài sản thành tài sản công,
tài sản tư, và tài sản chung là để khẳng định vai trò của chủ sở hữu đối với mỗi
loại tài sản. Tài sản công là những tài sản có giá trị lớn (tài sản của nhà nước,
của quốc gia), do nhà nước đại diện chủ sở hữu quản lý, khai thác phục vụ cho
lợi ích cộng đồng, dân tộc. Tài sản chung là những tài sản thuộc quyền sở hữu
Footer Page 6 of 126.
11
của ít nhất hai chủ thể. Tài sản riêng là tài sản thuộc quyền sở hữu của một chủ
thể duy nhất. Căn cứ xác lập quyền sở hữu, phạm vi quyền của chủ sở hữu…
có sự khác biệt lớn giữa tài sản công với các loại tài sản khác. Quy chế quản
lý, sử dụng tài sản công được quy định chi tiết, chặt chẽ trong hệ thống các
văn bản pháp luật. Ngược lại, quy chế pháp lý dành cho tài sản chung và tài
sản tư thường chỉ dựa trên những quy định mang tính hành lang, khuôn mẫu
trên nguyên tắc tôn trọng sự thỏa thuận và tự định đoạt của các bên chủ thể.
1.3.2. Dựa vào đặc tính vật lý (có thể di dời được hay không) và giá trị
của tài sản, tài sản được chia thành động sản và bất động sản
Phân loại tài sản thành động sản và bất động sản được áp dụng ở hầu
hết pháp luật các quốc gia và đều thống nhất ở chỗ coi bất động sản gồm đất
hình rất phức tạp, thông thường cần có sự công nhận của một chủ thể thứ ba
mà đại diện tiêu biểu là nhà nước. Pháp luật các quốc gia đều quy định thời
gian bảo hộ quyền sở hữu tài sản vô hình dài hơn nhiều lần so với tài sản hữu
hình do những đặc điểm khác biệt về quyền chủ thể giữa hai tài sản này:
- Về quyền chiếm hữu: Chỉ tồn tại khái niệm quyền chiếm hữu với tài
sản hữu hình, với tài sản vô hình thì không tồn tại quyền chiếm hữu.
- Về quyền sử dụng: Với tài sản hữu hình, chỉ khi có sự chiếm hữu thực
tế, chủ thể mới có thể thực hiện quyền sử dụng. Ngược lại, với tài sản vô
hình, do đặc điểm phi vật chất nên cùng một thời điểm nhiều chủ thể có thể
trực tiếp khai thác mà không cần hành vi chiếm hữu.
2.1.1. Vật
Vật là một khái niệm để chỉ các đối tượng tồn tại hiện hữu dưới dạng vật
chất có thể cảm nhận được bằng các giác quan và được giới hạn, quy định bằng
hình dáng, kích thước, màu sắc. Vật dưới góc độ vật lý học có thể là bất kỳ
đối tượng nào của thế giới vật chất được hữu hình hóa. Nhưng vật chỉ trở
thành tài sản khi nó mang một giá trị và có thể trở thành đối tượng trong giao
lưu dân sự. Bộ luật Dân sự 2005 phân loại vật dựa trên các tiêu chí sau:
Thứ nhất: Dựa trên phương thức có được tài sản.
Điều 175 phân biệt vật thành hoa lợi và lợi tức. Hoa lợi là sản vật mà tự
bản thân tài sản sinh ra không phụ thuộc vào tác động từ phía con người. Lợi
tức là các khoản lợi thu được từ việc khai thác tài sản. Tự bản thân tài sản
không thể sinh ra lợi tức nếu không có hành vi khai thác, sử dụng của chủ sở
hữu.Việc phân loại tài sản thành tài sản gốc, hoa lợi, lợi tức có ý nghĩa trong
việc xác định quyền của người sử dụng, chiếm hữu tài sản nhưng không phải
là chủ sở hữu.
Thứ hai: Căn cứ vào vị trí, vai trò và giá trị của vật.
Điều 176 chia vật thành vật chính và vật phụ. Vật chính là vật độc lập,
Chương 2
là vật khi đã qua một lần sử dụng thì mất đi hoặc không giữ được tính chất,
hình dáng và tính năng sử dụng ban đầu. Vật tiêu hao không thể là đối tượng
của hợp đồng cho thuê hoặc hợp đồng cho mượn. Vật không tiêu hao là vật
khi đã qua sử dụng nhiều lần mà cơ bản vẫn giữ được tính chất, hình dáng và
tính năng sử dụng ban đầu. Vật tiêu hao chỉ có thể là đối tượng của giao dịch
14
Header Page 8 of 126.
mua bán, tặng cho mà không thể là đối tượng của hợp đồng cho thuê, cho mượn.
Cũng có trường hợp vật tiêu hao trở thành đối tượng của hợp đồng cho vay.
Nhưng khi người đi vay thực hiện nghĩa vụ hoàn trả không nhất thiết phải trả
chính vật đã vay mà thường là hoàn trả vật cùng loại có cùng tính chất.
Thứ tư: Căn cứ và hình dáng, tính chất, tính năng sử dụng của vật.
Điều 179 chia vật thành vật cùng loại và vật đặc định. Vật cùng loại là
những vật có cùng hình dáng, tính chất, tính năng sử dụng và xác định được
bằng những đơn vị đo lường. Vật đặc định là vật phân biệt được với các vật
khác bằng những đặc điểm riêng về ký hiệu, hình dáng, màu sắc, chất liệu,
đặc tính, vị trí… Phân biệt vật thành vật cùng loại và vật đặc định có ý nghĩa
trong việc xác định nghĩa vụ chuyển giao vật, thời điểm chuyển quyền sở
hữu trong các giao dịch mua bán, cho thuê, cho mượn. Một vật đặc định khi
cần được chuyển giao thì phải được chuyển giao đúng vật đó, còn đối với vật
cùng loại chỉ cần được chuyển giao đủ và đúng loại. Ngoài ra, việc bù trừ
nghĩa vụ về tài sản giữa các chủ thể có nghĩa vụ với nhau lại chỉ có thể được
thực hiện đối với nghĩa vụ có đối tượng tài sản là vật cùng loại.
Thứ năm: Vật đồng bộ.
Điều 180 xây dựng khái niệm vật đồng bộ là vật gồm các bộ phận ăn
khớp, liên hệ với nhau hợp thành chỉnh thể mà nếu thiếu một trong các phần,
các bộ phận hoặc có phần hoặc bộ phận không đúng quy cách, chủng loại thì
sở hữu trừ trường hợp các bên đặc định hóa tiền. Trong khi đó việc chuyển
giao vật không đồng nghĩa với việc chuyển giao quyền sở hữu nhất là đối
những vật có giá trị lớn, pháp luật yêu cầu phải đăng ký quyền sở hữu.
- Vật có thể được tạo ra bởi bất kỳ một chủ thể nào trong xã hội nhưng
tiền chỉ có thể được tạo ra bởi chủ thể duy nhất là nhà nước.
- Chủ sở hữu vật có toàn quyền tiêu hủy đối với vật nhưng lại không có
quyền tiêu hủy tiền thuộc sở hữu của mình.
2.1.3. Giấy tờ có giá
Giấy tờ có giá dưới góc độ pháp lý được định nghĩa là: Chứng chỉ hoặc
bút toán ghi sổ trong đó xác nhận quyền tài sản của một chủ thể nhất định
xét trong mối quan hệ pháp lý với các chủ thể khác.
Giấy tờ có giá được chia làm hai loại: giấy tờ có giá như tiền và giấy tờ
có giá khác. Giấy tờ có giá mang một số điểm khác biệt cơ bản về chủ thể
phát hành, mệnh giá, thời hạn sử dụng, quyền định đoạt của chủ thể... Giấy
tờ có giá có thể do nhiều loại chủ thể khác nhau phát hành như nhà nước,
16
Header Page 9 of 126.
kho bạc, ngân hàng, công ty cổ phần…Mệnh giá, thời gian sử dụng của giấy
tờ có giá cũng do chủ thể phát hành quy định trong khuôn khổ pháp luật cho
phép. Do tính hữu ích và tiện lợi, giấy tờ có giá ngày càng được sử dụng
nhiều trong giao lưu dân sự và thương mại nhất là trong giao dịch của hệ
hữu, khai thác, sử dụng thì đất trở nên có giá trị…và trở thành một loại tài
sản quan trọng trong giao lưu dân sự, đầu tư, thương mại.
thống các ngân hàng và tổ chức tín dụng. Quy chế pháp lý áp dụng với loại
tài sản này cũng được xây dựng chi tiết trong các văn bản pháp luật chuyên
không thể là đối tượng của giao dịch dân sự. Pháp luật của các nước đều
ngầm hiểu rằng đất đai ở đây chỉ là một mảnh đất được giới hạn bởi diện
tích, chiều dài, chiều rộng, chiều cao. Khi con người thực hiện hành vi chiếm
Footer Page 9 of 126.
17
2.2.1.2. Nhà, công trình xây dựng gắn liền với đất đai, kể cả các tài sản
gắn liền với nhà; công trình xây dựng đó
2.2.1.3. Những tài sản khác gắn liền với đất
Thuộc nhóm đối tượng này phải kể đến các loại tài nguyên thiên nhiên
khoáng sản nằm trong lòng đất: than, dầu khí, vàng bạc… Khi được sinh ra
từ đất, nằm trong đất, gắn liền với đất và chưa được khai thác đến thì các
loại tài nguyên thiên nhiên này là bất động sản. Nhưng nếu đã được khai
thác và vận chuyển ra khỏi khuôn viên của mảnh đất, chúng lại trở thành
động sản và chịu sự điều chỉnh của quy chế pháp lý dành cho động sản.
2.2.1.4. Các loại tài sản khác do pháp luật quy định
Căn cứ vào thuộc tính tự nhiên: sinh ra từ đất, hoặc gắn liền với đất Bộ
luật Dân sự 2005 liệt kê một số đối tượng được coi là bất động sản. Để có
thể bao quát và dự liệu khả năng xuất hiện các loại bất động sản mới trong
tương lai, Bộ luật đưa ra quy định: “các loại tài sản khác do pháp luật quy
định”. Ở Việt Nam hiện chưa có văn bản pháp luật nào quy định danh mục
các bất động sản khác mà Điểm d Khoản 1 Điều 174 đề cập đến. Đây cũng
là một điểm bất cập của Bộ luật Dân sự 2005
2.2.2. Động sản
Nhìn chung pháp luật các quốc gia đều ghi nhận động sản là những tài
sản có thể di dời được và không gắn liền với đất đai hoặc phục vụ cho việc
khai thác đất đai. Bộ luật Dân sự Việt Nam 2005 thì sử dụng phương pháp
- Thiết lập các quy định về việc bảo vệ quyền lợi của người thứ ba ngay tình.
ràng. Tuy nhiên căn cứ vào quy định về tài sản của Bộ luật Dân sự 2005,
- Xây dựng các quy định luật hình thức (luật tố tụng).
ngoại tệ không phải là vật, giấy tờ có giá, hay quyền tài sản vì nó không có
các đặc điểm của ba nhóm tài sản này. Còn nếu xếp ngoại tệ là tiền thì xem
Chương 3
THỰC TRẠNG ÁP DỤNG CÁC QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT
VỀ TÀI SẢN, PHÂN LOẠI TÀI SẢN VÀ HƯỚNG HOÀN THIỆN
ra cũng không hợp lý vì ngoại tệ thiếu một trong ba chức năng quan trọng
nhất của tiền là: chức năng công cụ thanh toán đa năng trong lãnh thổ Việt
Nam. Chính việc không thể xếp ngoại tệ vào bất kỳ nhóm tài sản nào cho
thấy việc định nghĩa khái niệm tài sản theo phương pháp liệt kê trên đây là
3.1. Những hạn chế của khái niệm tài sản, quyền tài sản (Điều 163
và Điều 181)
quá hạn hẹp, không thể bao quát hết các nhóm đối tượng được coi là tài sản.
Điều 163 Bộ luật Dân sự 2005 phân loại tài sản dựa trên hình thức tồn
tại thành bốn nhóm: vật, tiền, giấy tờ có giá và các quyền tài sản. Nhưng
trong chương diễn giải các loại tài sản - Chương XI, các nhà làm luật lại bỏ
qua, không nhắc gì đến tiền và giấy tờ có giá - hai trong bốn nhóm tài sản
quan trọng kể trên. Đây là một lỗ hổng của Bộ luật Dân sự 2005 vì tiền và
giấy tờ có giá là hai trong số những tài sản quan trọng mang những đặc thù
kiện tiếp cận khái niệm quyền đối vật và quyền đối nhân của Luật La Mã.
luật giải quyết thì các bên bắt buộc phải tìm đến các phương pháp giải quyết
Thứ hai: Định nghĩa quyền tài sản gồm hai đặc điểm phải định giá
tranh chấp khác ngoài pháp luật. Ví dụ: các quy định, nội quy do các nhà
được bằng tiền và có thể chuyển giao trong giao lưu dân sự đã loại bỏ một số
cung cấp game ban hành. Nhưng các quy định này thông thường chỉ bảo vệ
quyền có tính chất tài sản như quyền cấp dưỡng, quyền hưởng trợ cấp thất
quyền lợi cho nhà cung cấp game, hạn chế và thậm chí là rũ bỏ trách nhiệm
nghiệp… ra khỏi phạm vi tài sản mặc dù tính chất tài sản của các quyền này
đối với người chơi. Và cuối cùng những chủ thể lẽ ra phải được bảo vệ nhiều
là rất rõ ràng.
nhất thì lại không thể đòi lại quyền lợi của mình chỉ vì thiếu các quy định
Thứ ba: Khái niệm quyền tài sản (Điều 181) đã tạo ra những rào cản trong
của pháp luật. Đây chính là lỗ hổng của luật cần phải được xem xét bổ sung,
thực tế áp dụng pháp luật, ảnh hưởng không nhỏ tới quyền và lợi ích của các
dân và đền bù bằng một lợi ích hợp pháp khác). Theo quy định của pháp luật
bộ phận cơ thể người vẫn diễn ra và ngày càng có xu hướng gia tăng dưới
hiện hành, quyền này không được tự do chuyển nhượng nên nếu xảy ra tranh
hình thức giả tạo là hiến, tặng. Điều này đã tạo nên những bất cập và ảnh
hưởng lớn đến quyền lợi của các bên giao dịch nhất là bên “bán”. Do đó
chấp xung quanh các giao dịch trao đổi, mua bán, tòa án đều xử theo hướng
hợp đồng vô hiệu do hình thức hoặc do vi phạm quy định của pháp luật.
nhìn nhận các đối tượng này là tài sản hay không hiện cũng đang là vấn đến
Điều này đã tạo ra những bản án bất công, ảnh hưởng đến quyền lợi của các
gây nhiều tranh cãi trong giới luật học.
bên tham gia giao dịch.
3.1.2. Bất cập trong việc xây dựng khái niệm quyền tài sản
Vẫn liên quan đến Điều 163 Bộ luật Dân sự 2005, nhà làm luật đặt
quyền tài sản đối lập với vật hữu hình như là một dạng tài sản độc lập, và
nhấn mạnh thêm tại Điều 181: “Quyền tài sản là quyền trị giá được bằng tiền
và có thể chuyển giao trong giao dịch dân sự, kể cả quyền sở hữu trí tuệ”.
Định nghĩa quyền tài sản của Bộ luật Dân sự 2005 có những bất cập sau:
Footer Page 11 of 126.
21
- Về phương pháp phân loại: Phân loại tài sản thành bất động sản và
động sản là một trong hai cách phân loại tài sản kinh điển có thể gặp ở bất kỳ
hệ thống pháp luật nào bên cạnh cách chia tài sản thành tài sản hữu hình và
tài sản vô hình. Có điều, khi tiếp thu để xây dựng khái niệm động sản và bất
động sản trong pháp luật Việt Nam, các nhà làm luật đã không lựa chọn tiêu
chí để phân biệt mà sử dụng phương pháp loại trừ - cách thức có vẻ đơn giản
và dễ hiểu nhưng lại gây ra những bất cập về mặt thực tiễn. Trên thực tế đã
phát sinh nhiều trường hợp không thể phân biệt được một tài sản là động sản
hay bất động sản nếu chỉ dựa vào phương pháp phân biệt trên. Động sản là
những tài sản không phải bất động sản. Bất động sản ngoài các đối tượng
được liệt kê tại Khoản 1 Điều 174 ( Điểm a, b, c) còn bao gồm các tài sản
khác do pháp luật quy định. Tuy nhiên danh sách “những bất động sản khác
do pháp luật quy định” hiện vẫn còn bỏ ngỏ, chưa được quy định ở bất kỳ
một văn bản nào.
- Về mặt nội dung: Trong danh sách bất động sản mà Bộ luật Dân sự
2005 liệt kê không thấy có quyền tài sản. Có thể hiểu nhà làm luật quan niệm
chỉ vật mới là động sản hay bất động sản. Quyền tài sản đứng đối lập với vật
và quyền tài sản chỉ là động sản. Từ đây có thể thấy tất cả các quyền phát
sinh từ đất đai mà tiêu biểu nhất là quyền sử dụng đất đều không được coi là
bất động sản. Dẫn chiếu tới các quy định về quyền sở hữu đất đai tại Việt
Nam: Luật đất đai, Luật Kinh doanh bất động sản dễ dàng nhận thấy mâu
thuẫn bởi các quy định liên quan đến sở hữu về bất động sản đều được xây
dựng trên quyền sử dụng đất chứ không phải quyền sở hữu đất. Việc quy
định không thống nhất giữa luật dân sự (luật gốc) và các luật chuyên ngành
khác là một trong những hạn chế cần được khắc phục. Trong trường hợp
này quy định về bất động sản của Bộ luật Dân sự 2005 cần được xem xét
Footer Page 12 of 126.
Header Page 13 of 126.
Thứ tư: Cần có sự đánh giá trong việc có nên thừa nhận tài sản ảo là tài
sản hay không. Đồng thời xây dựng quy chế pháp lý điều chỉnh phù hợp đối
với nhóm đối tượng này, nhằm hướng tới việc hình thành và phát triển thị
trường tài sản ảo lành mạnh.
Thứ năm: Khái niệm tài sản và phân loại tài sản được quy định tại Điều
163 và Chương XI gồm 8 điều (từ Điều 174 đến Điều 181). Sự sắp xếp điều
luật về cơ bản là không hợp lý. Vì trong các điều luật kể trên không thấy quy
định nào liên quan đến tiền và giấy tờ có giá - một trong bốn loại tài sản
quan trọng theo quy định tại Điều 163. Do đó, cần bổ sung thêm các quy
định về hai đối tượng này trong phần Các loại tài sản.
Thứ sáu: Nhà làm luật Việt Nam nên tham khảo một trong các tiêu chí
phân biệt vật thành vật sở hữu được và vật không sở hữu được. Tài sản và
quyền sở hữu là hai phạm trù không thể tách rời nhau. Một vật chỉ có thể trở
thành tài sản trong giao lưu dân sự khi vật đó có thể thuộc sở hữu của một
chủ thể nhất định. Phân biệt theo tiêu chí này, những vật không thể sở hữu
đồng nghĩa vật đó là của chung của mọi người: không khí, ánh nắng mặt trời,
nước…. Việc phân biệt vật thành vật có thể sở hữu và vật không thể sở hữu
là căn cứ xây dựng quy chế pháp lý với của chung, và vật vô chủ nhất là các
quy định liên quan đến việc xác lập quyền sở hữu tại Mục I Chương XIV Bộ
Luật Dân sự 2005.
KẾT LUẬN
Việt Nam là một quốc gia đang trong quá trình hội nhập và phát triển
trên tất cả các lĩnh vực. Trong xu hướng chung đó, pháp luật cũng đang dần
hoàn thiện để kịp thời điều chỉnh và định hướng các quan hệ giữa các chủ
thể phát triển lành mạnh. Luật dân sự là ngành luật gốc, đồng thời cũng là
ngành luật mà các quy định của nó được áp dụng thường xuyên nhất trong
đời sống hay trong giao lưu kinh doanh, thương mại. Bộ luật Dân sự 2005 đã
có hiệu lực thi hành gần bảy năm. Bảy năm là một quãng thời gian đủ dài để
những nhược điểm, hạn chế trong các quy định về tài sản và phân loại tài
sản. Từ kết quả của việc nghiên cứu các quy định của Bộ luật Dân sự 2005,
luận văn đưa ra những giải pháp, phương án sửa đổi góp phần hoàn thiện các
quy định này theo hướng phù hợp hơn với thực tế đời sống tại Việt Nam và
các quy định của pháp luật dân sự thế giới trong giai đoạn mới - giai đoạn
của mở cửa, hội nhập và phát triển.
26