Quyền tác giả đối với công trình nghiên cứu khoa học theo pháp luật sở hữu trí tuệ từ thực tiễn đại học y dược thành phố hồ chí minh - Pdf 42

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

LÊ THỊ THANH TÂM

QUYỀN TÁC GIẢ ĐỐI VỚI CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
THEO PHÁP LUẬT SỞ HỮU TRÍ TUỆ TỪ THỰC TIỄN ĐẠI HỌC
Y DƯỢC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI – NĂM 2017


VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

LÊ THỊ THANH TÂM

QUYỀN TÁC GIẢ ĐỐI VỚI CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
THEO PHÁP LUẬT SỞ HỮU TRÍ TUỆ TỪ THỰC TIỄN ĐẠI HỌC
Y DƯỢC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Chuyên ngành : Luật Kinh Tế
Mã số

: 60.38.01.07

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

1.3. Nội dung và thực thi quyền tác giả đối với công trình nghiên cứu khoa học .11
1.3.1. Nội dung Quyền tác giả đối với công trình nghiên cứu khoa học ..........11
1.3.2. Thực thi quyền tác giả đối với công trình nghiên cứu khoa học ..............20
1.4. Cơ sở pháp lý về bảo hộ quyền tác giả. ..........................................................23
1.4.1. Pháp luật Việt Nam ..................................................................................23
1.4.2. Pháp luật quốc tế......................................................................................25
Chương 2 THỰC TRẠNG QUYỀN TÁC GIẢ ĐỐI VỚI CÔNG TRÌNH
NGHIÊN CỨU KHOA HỌC TỪ THỰC TIỄN ĐẠI HỌC Y DƯỢC
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH ...........................................................27
2.1. Đặc điểm các công trình nghiên cứu khoa học tại Đại học Y Dược thành phố
Hồ Chí Minh và các yêu cầu bảo hộ quyền tác giả đối với công trình nghiên
cứu khoa học...................................................................................................27
2.1.1. Đặc điểm các công trình nghiên cứu khoa học tại Đại học Y Dược Thành
phố Hồ Chí Minh .....................................................................................28
2.1.2. Các yêu cầu bảo hộ quyền tác giả đối với công trình nghiên cứu
khoa học...................................................................................................31


2.2. Thực trạng xác lập quyền tác giả đối với công trình nghiên cứu khoa học tại
Đại học Y Dược thành phố Hồ Chí Minh ......................................................34
2.3. Thực trạng khai thác quyền của chủ sở hữu, của tác giả đối với công trình
nghiên cứu khoa học tại Đại học Y Dược thành phố Hồ Chí Minh ...............36
2.4. Thực trạng thực thi quyền quyền tác giả đối với công trình nghiên cứu khoa
học theo pháp luật sở hữu trí tuệ từ thực tiễn Đại học Y Dược thành phố Hồ
Chí Minh .........................................................................................................43
Chương 3 ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ
QUYỀN TÁC GIẢ ĐỐI VỚI CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU
KHOA HỌC .........................................................................................53
3.1. Định hướng, hoàn thiện pháp luật về quyền tác giả đối với công trình nghiên
cứu khoa học...................................................................................................53


Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh

Hiệp định TRIPs

Hiệp định TRIPs về những khía cạnh liên quan tới
thương mại của quyền sở hữu trí tuệ

Luật SHTT

Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 số 50/2005/QH11 ngày
29 tháng 11 năm 2005, được sửa đổi, bổ sung bởi
Luật số 36/2009/QH12 ngày 19 tháng 6 năm 2009

NCKH

Nghiên cứu khoa học

Nghị định

Nghị định số 100/2006/NĐ-CP/2006 ngày 21/9/2006

100/2006/NĐ- CP

của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi
hành một số điều của Bộ luật dân sự, Luật Sở hữu trí
tuệ về quyền tác giả và quyền liên quan được sửa đổi
bổ sung bằng Nghị định số 85/2011/NĐ-CP/2011
ngày 20/9/2011 của chính phủ


và phổ biến các sáng tạo khoa học. Như vậy, công chúng được tạo điều kiện để
được hưởng thụ, tiếp cận các sáng tạo đó. Đối với Việt Nam, cần kích thích được
hoạt động sáng tạo thông qua hoạt động nghiên cứu khoa học (NCKH) nhất là ở các
trường đại học. Cần đẩy mạnh việc thương mại hoá các công trình NCKH của các
giảng viên đại học và sinh viên.
Có thể nói, chưa bao giờ vấn đề bảo hộ QTG đối với công trình NCKH
trong trường đại học lại được quan tâm như thời gian gần đây. Lý do là bởi trong
thời đại công nghệ, việc vi phạm bản quyền các công trình NCKH trong trường đại
học và sử dụng trái phép các tài sản trí tuệ này trở nên đa dạng và phức tạp. Công
tác bảo hộ QTG của các trường đại học trong nhiều năm qua chưa được chú trọng,
nhiều công trình NCKH của các cán bộ, giảng viên trong các trường đại học bị xâm
hại.
Chức năng chính của trường đại học là giáo dục, đào tạo và NCKH. Nhưng
hiện nay sở hữu trí tuệ (SHTT) một trong những vấn đề không kém phần quan trọng
của trường đại học là chuyển giao công nghệ, đưa các kết quả nghiên cứu áp dụng
vào thực tiễn sản xuất kinh doanh. Đây là một phần không thể thiếu trong công tác
NCKH, song tại Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh (ĐHYD TP.HCM) hoạt
động này vẫn chưa được nhà trường quan tâm.
Vì vậy cần phải xây dựng một nền văn hóa SHTT, một quy chế về SHTT
trong ĐHYD TP.HCM. Xuất phát từ những lý do đó nên học viên chọn đề tài
“Quyền tác giả đối với công trình nghiên cứu khoa học theo pháp luật sở hữu trí tuệ
từ thực tiễn Đại học Y Dược thành phố Hồ Chí Minh” làm đề tài Luận văn cao học.

1


2. Tình hình nghiên cứu của đề tài
Liên quan đến quyền tác giả, Việt Nam đã có không ít đề tài nghiên cứu
khoa hoc, luận văn thạc sĩ, bài viết nghiên cứu thể hiện qua các công trình như sau:
- Luận văn thạc sĩ “ Những vấn đề lý luận và thực tiễn của việc giải quyết

học chính vì vậy, đề tài “Quyền tác giả đối với công trình nghiên cứu khoa học theo
pháp luật sở hữu trí tuệ từ thực tiễn Đại học Y Dược thành phố Hồ Chí Minh.” là đề
tài tiếp cận từ đặc điểm thực tiễn ĐHYD TP.HCM để từ đó đưa ra định hướng và
giải pháp hoàn thiện pháp luật QTG đối với công trình NCKH Việt Nam nói chung
và công trình NCKH ở ĐHYD TP.HCM nói riêng.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Mục tiêu của Luận văn là xác định phương hướng và giải pháp góp phần
hoàn thiện pháp luật về QTG đối với công trình NCKH tại ĐHYD TP.HCM.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Nghiên cứu, làm rõ những vấn đề lý luận về quyền tác giả đối với công
trình NCKH và cơ sở pháp luật của Việt Nam bảo hộ quyền này.
Luận văn đánh giá thực trạng pháp luật về quyền tác giả đối với công trình
NCKH tại ĐHYD TP.HCM.
Trên cơ sở thực trạng nói trên Luận văn đề xuất phương hướng và kiến nghị
hoàn thiện pháp luật về QTG đối với công trình NCKH nói chung, tại ĐHYD
TP.HCM nói riêng.
4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu, phân tích, đánh giá pháp luật về QTG đối với công
trình NCKH thông qua thực tiễn tại ĐHYD TP.HCM
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Luận văn chỉ tập trung nghiên cứu pháp luật bảo hộ QTG đối với công trình
NCKH mà không bao gồm các đối tượng khác của QTG
Luận văn giới hạn đánh giá thực trạng pháp luật thông qua thực tiễn bảo hộ
QTG đối với các công trình NCKH tại ĐHYD Tp.HCM từ khi luật SHTT có hiệu
lực.

3


NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
1.1. Khái niệm và đặc điểm quyền tác giả đối với công trình nghiên cứu
khoa học
1.1.1. Khái niệm quyền tác giả đối với công trình nghiên cứu khoa học
Quyền tác giả (QTG) hiểu một cách đơn giản là những quyền mà pháp luật
thừa nhận và bảo hộ đối với tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả (CSH QTG) cũng như
các chủ thể khác được phép sử dụng các công trình NCKH. QTG cho phép các chủ
thể quyền được độc quyền khai thác các công trình NCKH chống lại việc sao chép
bất hợp pháp. Ví dụ, tác giả đồng thời là CSH một công trình NCKH được làm chủ
thành quả lao động trí tuệ của mình, được bảo đảm quyền nhân thân, độc quyền
công bố, xuất bản công trình NCKH của mình. Việc sao chép, phổ biến nội dung
của công trình NCKH mà không có sự đồng ý của tác giả đồng thời là CSH QTG là
xâm phạm QTG.[31 tr.49]
Quyền tác giả là độc quyền của tác giả, của CSH QTG đối với công trình
NCKH của mình. QTG là quyền mà pháp luật cho phép người đã sáng tạo ra công
trình NCKH dùng để bảo vệ các sáng tạo của mình. Quyền này bảo vệ các quyền lợi
cá nhân và lợi ích kinh tế của tác giả, CSH QTG trong mối liên quan với công trình
NCKH này. QTG thông thường chỉ được công nhận khi sáng tạo này mới, có một
phần công lao của tác giả và có thể chỉ ra được là có tính chất duy nhất [50]. QTG
không cần phải đăng ký, tự động phát sinh từ thời điểm công trình NCKH được
định hình dưới một hình thức vật chất nhất định, bất kể công trình NCKH đã công
bố hay chưa công bố, đã đăng ký hay chưa đăng ký và thuộc về tác giả khi công
trình NCKH được ghi giữ lại ít nhất một lần trên một phương tiện lưu trữ. (việc
đăng ký công trình NCKH theo thủ tục luật định không có giá trị thiết lập, chỉ có giá
trị làm giảm nhẹ nghĩa vụ chứng minh của người đăng ký công trình NCKH trong
trường hợp có tranh chấp, nếu không có chứng cứ ngược trở lại).

5





Một là, chủ thể của QTG (có thể là một cá nhân hay tập thể tác giả) là người
trực tiếp sáng tạo toàn bộ hoặc một phần công trình NCKH và CSH QTG có những
quyền nhất định đối với công trình NCKH khi đã được thể hiện dưới hình thức vật
chất nhất định.
Hai là, đối tượng của QTG là các công trình NCKH do tác giả sáng tạo ra
bằng lao động trí tuệ.
Ba là, nội dung QTG là tổng hợp các quyền nhân thân và quyền tài sản của
các chủ thể quyền. Các quyền này phát sinh từ khi công trình NCKH đó được pháp
luật ghi nhận và bảo hộ.
Vậy, Quyền tác giả đối với công trình NCKH là tập hợp các quyền được
pháp luật thừa nhận gồm quyền nhân thân và quyền tài sản của tác giả, CSH QTG
hoặc chủ thể được phép sử dụng công trình NCKH do mình sáng tạo hoặc sở hữu và
được định hình dưới dạng vật chất nhất định không phụ thuộc vào thủ tục đăng ký
bảo hộ hoặc đã công bố hay chưa công bố.
1.1.2. Đặc điểm quyền tác giả đối với công trình nghiên cứu khoa học
Ngoài các đặc điểm chung của quyền SHTT là tính lãnh thổ triệt để, tính vô
hình cũng như tính hữu hạn trong thời hạn bảo hộ của quyền tài sản này, QTG đối
với các công trình NCKH còn những đặc điểm riêng sau:
Quyền tác giả chỉ được công nhận khi công trình NCKH là sản phẩm của lao
động trí tuệ, sáng tạo mới, có một phần công lao của tác giả (không đơn thuần chỉ là
sao chép từ các nguồn đã biết) và có tính chất duy nhất. Đối tượng của QTG là công
trình NCKH phải là sự sáng tạo, luôn mang tính sáng tạo trực tiếp từ con người cụ
thể mang dấu ấn cá nhân thông qua hoạt động trí não, kinh nghiệm bản thân và các
yếu tố hổ trợ khác tạo ra thành quả chính là công trình NCKH và được thể hiện dưới
hình thức nhất định. Mọi cá nhân đều có quyền sáng tạo khoa học và khi cá nhân
tạo ra công trình NCKH đó phải do tác giả trực tiếp thực hiện hoạt động lao động trí
tuệ của mình mà không phải sao chép từ công trình NCKH của người khác, ( khoản
3 điều 14 luật SHTT). Cá nhân làm các công việc hỗ trợ đóng góp ý kiến hoặc cung

một công trình NCKH được hiểu là khi công trình NCKH xác nhập trên một đối
tượng vật chất nào đó, ở trạng thái đủ ổn định hoặc bền vững để có thể nhận biết
trực tiếp, thông qua các giác quan của con người hoặc gián tiếp thông qua máy móc
thiết bị hỗ trợ mà con người có thể sao chép, nhân bản công trình NCKH và truyền
đạt cho người khác [7, tr.32].

8


Hình thức xác lập quyền theo cơ chế bảo hộ tự động. QTG được xác lập dựa
vào chính hành vi tạo ra công trình NCKH của tác giả, không phụ thuộc vào thể
thức, thủ tục nào. QTG không được bảo hộ một cách tuyệt đối mà có giới hạn. Chủ
thể khác được phép sử dụng công trình NCKH được bảo hộ nếu việc sử dụng đó
không nhằm mục đích kinh doanh, không ảnh hưởng đến việc sử dụng, khai thác
bình thường của công trình NCKH, không xâm hại đến các quyền, lợi ích hợp pháp
khác của tác giả và CSH QTG [45].
1.2. Hình thức và tiêu chí xác lập quyền tác giả đối với công trình nghiên
cứu khoa học
1.2.1. Hình thức xác lập quyền tác giả đối với công trình nghiên cứu khoa
học
Quyền tác giả được xác lập một cách tự động nghĩa là QTG được phát sinh
một cách mặc nhiên từ thời điểm công trình NCKH đó được thể hiện dưới hình thức
khách quan mà người khác có thể nhận biết được mà không phụ thuộc vào bất kỳ
thủ tục đăng ký nào. QTG được bảo hộ tự động bất chấp các yếu tố chất lượng hay
giá trị của một công trình NCKH, ví dụ như: một công trình NCKH của sinh viên
được bảo hộ QTG đầy đủ và cũng không cần đáp ứng bất kỳ tiêu chuẩn nào về độ
chính xác hay số điểm của công trình nghiên cứu đó.
Về nguyên tắc, nhà nước bảo hộ các công trình NCKH mà không có sự phân
biệt về hình thức, ngôn ngữ thể hiện của công trình NCKH và cũng không có sự
phân biệt về chất lượng, giá trị và mục đích sử dụng của công trình NCKH đó, giá

quyền để ghi nhận các thông tin về tác giả, tác phẩm, chủ sở hữu quyền tác giả, chủ
sở hữu quyền liên quan”. Việc QTG được bảo hộ hay không, không phụ thuộc vào
việc nộp đơn. Công trình NCKH được bảo hộ kể từ thời điểm được định hình. Hơn
nữa, thủ tục đăng ký QTG không quá phức tạp và chi phí nhỏ so với lợi ích thiết
thực mang lại. Do vậy, khi sáng tạo ra công trình NCKH, đặc biệt các công trình
NCKH có giá trị kinh tế, thương mại cao, có nhiều khả năng bị xâm phạm, thủ tục
nộp đơn đăng kí là cần thiết.
1.2.2. Tiêu chí xác lập quyền tác giả đối với công trình nghiên cứu khoa
học
Để được bảo hộ QTG, công trình NCKH phải có tính nguyên gốc. Khái niệm
“nguyên gốc” là khái niệm rất quan trọng nhưng không được quy định cụ thể trong

10


luật mà được hiểu tính nguyên gốc liên quan đến hình thức thể hiện ý tưởng chứ
không liên quan đến bản thân ý tưởng hay ý nghĩa bên trong nó. Tính nguyên gốc
có nghĩa là công trình NCKH được sáng tạo ra một cách độc lập, trực tiếp từ lao
động tri thức, thể hiện phong cách riêng của tác giả và không sao chép từ bất kỳ một
công trình NCKH nào khác. Việc bảo hộ QTG chỉ được áp dụng đối với những
đóng góp mang tính nguyên gốc của công trình NCKH và không được áp dụng với
bất cứ yếu tố nào vay mượn từ công trình NCKH khác.Việc phân định công trình
NCKH gốc thì chính tác giả hoặc người có chuyên môn sâu về lĩnh vực liên quan
mới có thể thực hiện được.
Để được bảo hộ QTG, công trình NCKH phải được định hình dưới một dạng
vật chất nhất định, bất chấp các yếu tố sáng tạo của chúng, chất lượng hay giá trị
khoa học. Công trình NCKH không được bảo hộ dưới dạng ý tưởng chỉ bảo hộ cách
thức thể hiện ý tưởng dưới một dạng cụ thể (khoản 1 điều 6 luật SHTT) mà thông
qua đó công chúng biết đến sự tồn tại của các công trình NCKH đó bằng hình thức
trực tiếp hoặc gián tiếp.

trình NCKH là đứa con tinh thần của tác giả thì các quyền nhân thân này cũng
tương tự quyền của cha mẹ được đặt tên cho con, nhận con và bảo vệ con cái. Để
khẳng định công trình NCKH là kết quả hoạt động sáng tạo của mình tác giả thường
đứng tên trên công trình NCKH đó (có thể dùng tên thật hoặc bút danh). Việc ghi
tên trên công trình NCKH được công bố có ý nghĩa rất quan trọng trong việc xác
định chủ thể được hưởng các quyền nhân thân và quyền tài sản đối với công trình
NCKH. Kể cả trong trường hợp tác giả không đề tên thật hoặc bút danh trên công
trình NCKH đã được công bố ( khuyết danh) thì quyền này vẫn thuộc về tác giả và
tác giả có thể chứng minh tư cách chủ thể của mình bất cứ thời điểm nào. Tác giả có
quyền yêu cầu được nêu tên hoặc bút danh khi công trình NCKH được sử dụng [ 5,
tr.34].
Quyền nhân thân không gắn liền với tài sản ảnh hưởng trực tiếp đến uy tín
và danh dự của tác giả, tồn tại một cách độc lập đối với quyền tài sản, gắn liền với
tác giả kể cả khi quyền sử dụng, định đoạt công trình NCKH đã được chuyển giao.
Sau khi tác giả chết, việc bảo vệ các quyền này được thực hiện thông qua Nhà nước
hoặc cộng đồng nhân dân. (điều 27 luật SHTT và điều 26 Nghị định
số100/2006/NĐ-CP).

12


Ba là, quyền công bố công trình NCKH hoặc cho phép người khác công bố
công trình NCKH đây là quyền nhân thân duy nhất gắn với các quyền tài sản và có
thể chuyển giao quy định tại khoản 3 điều 19 luật SHTT. Thực chất, quyền này
không hoàn toàn là quyền nhân thân mà là quyền tài sản, vì thông qua việc công bố
công trình NCKH của mình, tác giả thu được những lợi ích kinh tế nhất định.Vì
vậy, quyền này thuộc về tác giả, nếu tác giả đồng thời là CSH QTG và thuộc về
CSH QTG, nếu tác giả không đồng thời là CSH QTG và quyền này chỉ đươc bảo hộ
có thời hạn trong suốt cuộc đời tác giả và 50 năm sau khi tác giả chết, có thể được
chuyển giao và có thể được thừa kế. Tuy nhiên, quyền được nhận giải thưởng đối

hiểu là nếu một người thực hiện hành vi sửa chữa, cắt xén hoặc xuyên tạc công trình
NCKH của người khác nhưng lại chứng minh được là hành vi đó không gây phương
hại đến danh dự và uy tín của tác giả hoặc chứng minh là hành vi đó đã làm cho
công trình NCKH có giá trị hơn thì không vi phạm. Để tránh việc hiểu như vừa
phân tích thì tại khoản 3 điều 22 Nghị định số 100/2006/NĐ-CP đã quy định:
“Quyền bảo vệ sự toàn vẹn của tác phẩm, không cho người khác sửa chữa, cắt xén
tác phẩm quy định tại khoản 4 điều 19 của Luật SHTT là việc không cho người
khác sửa chữa, cắt xén tác phẩm trừ trường hợp có thỏa thuận với tác giả”.
Quyền tài sản của tác giả tại điều 20 Luật SHTT là một bộ phận của QTG.
Quyền tài sản là tập hợp các quyền nhằm bảo vệ lợi ích được khai thác, tham gia
vào quá trình sử dụng và khai thác các giá trị kinh tế công trình NCKH của tác
giả.Trong trường hợp tác giả đồng thời là CSH QTG, thì phạm vi các quyền tài sản
của tác giả sẽ rộng hơn so với trường hợp tác giả không đồng thời là CSH QTG.
Các quyền tài sản của tác giả đồng thời là CSH QTG có thể chuyển giao cho người
khác thông qua các giao dịch pháp lý hoặc thông qua thừa kế và có thể bị tịch biên
để thi hành nghĩa vụ. Các quyền tài sản này đều được bảo hộ có thời hạn (trong thời
gian tác giả còn sống và 50 năm sau khi tác giả chết).
Tác giả đồng thời là CSH QTG được độc quyền sử dụng các công trình
NCKH của mình, được cấm mọi hành vi sử dụng công trình NCKH của mình thông
qua người thứ ba. Điều này cũng có nghĩa tác giả đồng thời là CSH QTG là người
có quyền cho phép người khác sử dụng công trình NCKH của mình và hưởng lợi
ích phân chia từ việc cho người khác sử dụng công trình NCKH đó và thường được
thực hiện thông qua hình thức hợp đồng sử dụng công trình NCKH.

14


Khái niệm “sử dụng” ở đây được hiểu là việc khai thác giá trị kinh tế của
công trình NCKH bằng một hoặc nhiều hành vi sử dụng khác nhau (tùy thuộc vào
loại hình công trình NCKH ) như: nhân bản, phổ biến, triển lãm, thuyết trình…

hay không, thì CSH QTG vẫn luôn là người có nghĩa vụ trả tiền nhuận bút cho tác
giả.Trường hợp công trình NCKH được khai thác theo nhiều cách thức sử dụng
khác nhau, thì tác giả được hưởng nhuận bút từ tất cả các hành vi sử dụng theo thỏa
thuận với CSH QTG trên cơ sở các quy định. Trường hợp công trình NCKH được
trao giải thưởng, thì tác giả trực tiếp nhận giải thưởng (kể cả danh hiệu lẫn tiền
thưởng, nếu có) từ cơ quan tổ chức trao giải thưởng, không qua người trung gian là
CSH QTG vì giải thưởng chứa đựng yếu tố tinh thần chiếm ưu thế cao hơn yếu tố
vật chất, nên quyền này thuộc về tác giả.
Trường hợp CSH QTG không đồng thời là tác giả có quyền nhân thân ít hơn
so với trường hợp CSH QTG đồng thời là tác giả gồm: Quyền công bố, phổ biến
hoặc cho người khác công bố, phổ biến công trình NCKH do mình sở hữu và quyền
cho hoặc không cho người khác sử dụng công trình NCKH mà mình sở hữu. Quy
định này mang tính chất bổ trợ, tức là nó chỉ được áp dụng nếu các bên không thỏa
thuận. Nếu các bên có thỏa thuận khác, thì áp dụng theo thỏa thuận của các bên.
Chủ sở hữu quyền tác giả không đồng thời là tác giả có quyền tài sản: được
hưởng lợi ích vật chất từ việc sử dụng công trình NCKH tại điều 36 luật SHTT quy
định: “Chủ sở hữu quyền tác giả là tổ chức, cá nhân nắm giữ một, một số hoặc toàn
bộ các quyền tài sản quy định tại điều 20 của Luật này”. CSH QTG có độc quyền
hoặc cho phép người khác thực hiện quyền này và sẽ được hưởng lợi ích từ việc cho
phép người khác thực hiện quyền đó gồm:
- Làm công trình NCKH phái sinh như: dịch, phóng tác, biên soạn, chú giải
tuyển chọn…Người không phải là CSH QTG khi làm công trình NCKH phái sinh
phải trả tiền nhuận bút, thù lao …cho CSH QTG gốc.
- Quyền sao chép công trình NCKH tại khoản 10 điều 4 Luật SHTT: “là việc
tạo ra một hoặc nhiều bản sao của tác phẩm hoặc bản ghi âm, ghi hình bằng bất kì
phương tiện hay hình thức nào, bao gồm cả việc tạo ra bản sao dưới hình thức điện
tử ’’. Quyền sao chép thuộc QTG một lần nữa được hướng dẫn tại khoản 5 điều 1
Nghị định số 85/2011/NĐ-CP theo đó “quyền sao chép quyền tác giả là một trong
các quyền tài sản độc quyền thuộc quyền tác giả, do chủ sở hữu thực hiện hoặc cho


đích nghiên cứu, giảng dạy của cá nhân hay sao chép một bản để lưu trữ trong thư
viện (việc sao chép này cũng không áp dụng đối với chương trình máy tính). Như

17


vậy, hành vi sao chép ngoài những trường hợp nêu trên dù thực hiện dưới bất kỳ
hình thức nào (có thể là bản in, sao chép lên đĩa, thông qua các phương tiện kĩ thuật
số, ghi chép vào dữ liệu máy tính ….) thực hiện ở đâu, các bản sao có được phát
hành đến công chúng hay không … đều có thể bị xem là hành vi xâm phạm QTG.
- Quyền phân phối, nhập khẩu bản gốc hoặc bản sao công trình NCKH;
Quyền phân phối công trình NCKH được coi là một trong những phương thức sử
dụng công trình NCKH một cách độc lập. Phân phối công trình NCKH là việc đưa
những vật thể hiện hoặc sao chép công trình NCKH vào giao lưu dân sự thông qua
các hợp đồng như mua bán, trao đổi, tặng cho…..Đối tượng phân phối có thể là bản
gốc hoặc bản sao của công trình NCKH.
- Quyền truyền đạt công trình NCKH đến công chúng bằng phương tiện hữu
tuyến, vô tuyến, mạng thông tin điện tử hoặc bất kỳ phương tiện kỹ thuật nào khác.
Pháp luật về quyền tác giả ghi nhận những đóng góp về khoa học của tác giả,
CSH QTG bằng cách dành cho họ những độc quyền khai thác, sử dụng những thành
quả sáng tạo, đầu tư của họ. Tuy nhiên những độc quyền đó cũng có khả năng ngăn
cản sự tiếp cận khoa học của đông đảo công chúng, và vô hình chung kìm hãm các
giao lưu dân sự liên quan tới loại quyền tài sản đặc biệt này. Nhằm hài hòa lợi ích
của chủ thể QTG và lợi ích cộng đồng trong việc tiếp cận, sử dụng công trình
NCKH. PLVN quy định các ngoại lệ của độc quyền hay còn gọi là các hạn chế của
QTG đối với một số hành vi sử dụng, khai thác QTG. Việc giới hạn thể hiện trong
những trường hợp nhất định thì cá nhân, tổ chức khác có quyền sử dụng công trình
NCKH được công bố mà không phải xin phép, không phải trả tiền nhuận bút, thù
lao hoặc không phải xin phép nhưng phải trả tiền nhuận bút, thù lao cho chủ thể
quyền khi sử dụng công trình NCKH được công bố. (điều 25, 26 Luật SHTT). Tuy

cho người học là xâm phạm QTG, có mục đích thương mại (trực tiếp hoặc gián
tiếp). Quy định của Luật SHTT và Nghị định hướng dẫn “tự sao chép” nghĩa là
người cần nghiên cứu, giảng dạy sao chép một bản phục vụ cho chính mình. Khi ý
thức thực thi bảo hộ QTG kém thì việc xác định mục đích sử dụng rất khó minh
bạch cần phải quy định cụ thể rõ ràng hơn về vấn đề sao chép cho mục đích cá nhân
- Trích dẫn hợp lý để bình luận hoặc minh họa trong công trình NCKH của
mình hoặc để viết báo dùng trong ấn phẩm định kỳ hoặc để giảng dạy trong nhà
trường, mà không làm sai ý tác giả, không nhằm mục đích thương mại [45].

19



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status