Quyền tác giả đối với công trình nghiên cứu khoa học theo pháp luật sở hữu trí tuệ từ thực tiễn đại học y dược thành phố hồ chí minh (tóm tắt) - Pdf 42

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

LÊ THỊ THANH TÂM

QUYỀN TÁC GIẢ ĐỐI VỚI CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
THEO PHÁP LUẬT SỞ HỮU TRÍ TUỆ TỪ THỰC TIỄN ĐẠI HỌC
Y DƯỢC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Chuyên ngành : Luật kinh tế
Mã số : 60.38.01.07

TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI – NĂM 2017


Công trình được hoàn thành tại: Học viện Khoa học Xã hội

Người hướng dẫn khóa học: TS. Lê Mai Thanh

Phản biện 1: …………………………………………………………
……………………………………………………..
Phản biện 2:………………………………………………………….
……………………………………………………..

Luận văn này sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận văn
thạc sĩ tại: Học viện khoa học xã hội ………..giờ……….ngày
……..tháng ………năm


1


NCKH, song tại Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh (ĐHYD
TP.HCM) hoạt động này vẫn chưa được nhà trường quan tâm.
Vì vậy cần phải xây dựng một nền văn hóa SHTT, một quy
chế về SHTT trong ĐHYD TP.HCM. Xuất phát từ những lý do đó
nên học viên chọn đề tài “Quyền tác giả đối với công trình nghiên
cứu khoa học theo pháp luật sở hữu trí tuệ từ thực tiễn Đại học Y
Dược thành phố Hồ Chí Minh.” làm đề tài Luận văn cao học.
2. Tình hình nghiên cứu của đề tài
Liên quan đến quyền tác giả, Việt Nam đã có không ít đề tài
nghiên cứu khoa hoc, luận văn thạc sĩ, bài viết nghiên cứu thể hiện
qua các công trình như sau:
- Luận văn thạc sĩ “ Những vấn đề lý luận và thực tiễn của
việc giải quyết tranh chấp về quyền tác giả ở Việt Nam’, của tác giả
Châu Huy Quang, Tp. Hồ Chí Minh, 2003.
- Luận văn thạc sĩ “ Bảo hộ quyền tác giả trong hợp đồng sử
dụng tác phẩm theo pháp luật Việt Nam”, của tác giả Nguyễn Hoàng
Giao, 2004.
- Luận văn thạc sĩ “Nâng cao hiệu quả thực thi quyền liên
quan đến quyền tác giả tại Việt Nam”, của tác giả Trương Thế Hào
Kiệt, 2007.
- Luận văn thạc sĩ “Bảo hộ quyền tác giả của tổ chức phát
sóng truyền hình theo pháp luật sở hữu trí tuệ ở Việt Nam.”, của tác
giả Phạm Như Gái 2011
- Luận văn thạc sĩ “ Pháp luật về bảo hộ quyền tác giả đối với
tác phẩm âm nhạc được khai thác trên tàu bay.”, của tác giả Nguyễn
Thị Hà Linh 2012
- Luận văn thạc sĩ “Giới hạn quyền tác giả theo hiệp định Trips


3


3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Nghiên cứu, làm rõ những vấn đề lý luận về quyền tác giả
đối với công trình NCKH và cơ sở pháp luật của Việt Nam bảo hộ
quyền này.
Luận văn đánh giá thực trạng pháp luật về quyền tác giả đối
với công trình NCKH tại ĐHYD TP.HCM.
Trên cơ sở thực trạng nói trên Luận văn đề xuất phương
hướng và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về QTG đối với công trình
NCKH nói chung, tại ĐHYD TP.HCM nói riêng.
4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu, phân tích, đánh giá pháp luật về QTG
đối với công trình NCKH thông qua thực tiễn tại ĐHYD TP.HCM
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Luận văn chỉ tập trung nghiên cứu pháp luật bảo hộ QTG đối
với công trình NCKH mà không bao gồm các đối tượng khác của QTG
Luận văn giới hạn đánh giá thực trạng pháp luật thông qua
thực tiễn bảo hộ QTG đối với các công trình NCKH tại ĐHYD
Tp.HCM từ khi luật SHTT có hiệu lực.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
- Luận văn sử dụng chủ nghĩa duy vật biện chứng, duy vật
lịch sử và chủ nghĩa Mác – Lênin về nhà nước và pháp luật làm
phương pháp luận nghiên cứu về QTG đối với công trình NCKH.
- Để đạt được mục đích nghiên cứu, thì các phương pháp
NCKH chuyên ngành đều được áp dụng như: phương pháp phân tích
- tổng hợp, phương pháp hệ thống, phương pháp thống kê, phương

NCKH
1.1.1. Khái niệm quyền tác giả đối với công trình NCKH
Quyền tác giả (QTG) hiểu một cách đơn giản là những quyền
mà pháp luật thừa nhận và bảo hộ đối với tác giả, chủ sở hữu quyền
tác giả (CSH QTG) cũng như các chủ thể khác được phép sử dụng
các công trình NCKH. Vậy, Quyền tác giả đối với công trình NCKH
là tập hợp các quyền được pháp luật thừa nhận gồm quyền nhân thân
và quyền tài sản của tác giả, CSH QTG hoặc chủ thể được phép sử
dụng công trình NCKH do mình sáng tạo hoặc sở hữu và được định
hình dưới dạng vật chất nhất định không phụ thuộc vào thủ tục đăng
ký bảo hộ hoặc đã công bố hay chưa công bố.
1.1.2. Đặc điểm quyền tác giả đối với công trình NCKH
Là tính lãnh thổ triệt để, tính vô hình cũng như tính hữu hạn
trong thời hạn bảo hộ của quyền tài sản Quyền tác giả chỉ được công
nhận khi công trình NCKH là sản phẩm của lao động trí tuệ, sáng tạo
mới, có một phần công lao của tác giả (không đơn thuần chỉ là sao
chép từ các nguồn đã biết) và có tính chất duy nhất.
Quyền tác giả có thể bị giới hạn về thời gian theo quy định
của pháp luật QTG có thể bị giới hạn về không gian, QTG có thể bị
giới hạn về phạm vi QTG có thể không được thừa nhận, bảo hộ đối
với một số công trình NCKH vi phạm đạo đức, trật tự công
cộng…[7, tr. 47- 48]

6


Phải đảm bảo tính nguyên gốc điều đó không có nghĩa là đòi hỏi ý
tưởng của công trình NCKH phải mới mà là hình thức thể hiện của ý
tưởng phải do chính tác giả sáng tạo ra. Tính nguyên gốc không có
nghĩa là không có tính kế thừa [26, tr. 50]

công bố, những người khác làm phái sinh, có những thay đổi, sáng
tạo mới về nội dung, hình thức thể hiện hay truyền đạt so với ban
đầu [5,tr.35],[45].
Quyền tài sản là tập hợp các quyền nhằm bảo vệ lợi ích được
khai thác, tham gia vào quá trình sử dụng và khai thác các giá trị kinh
tế công trình NCKH của tác giả.
Tác giả không đồng thời là CSH QTG thì quyền nhân thân
gồm: các quyền nhân thân không gắn với tài sản và không thể chuyển
giao và quyền bảo vệ sự toàn vẹn của công trình NCKH, không cho
người khác sửa chữa, cắt xén hoặc xuyên tạc công trình NCKH dưới
bất kì hình thức nào gây phương hại đến danh dự và uy tín của tác giả.
Quyền tài sản của tác giả không đồng thời là CSH QTG:
Được hưởng nhuận bút; Được hưởng thù lao khi công trình NCKH
được sử dụng; Nhận giải thưởng đối với công trình NCKH mà mình
là tác giả.
Trường hợp CSH QTG không đồng thời là tác giả có quyền
nhân thân gồm: Quyền công bố, phổ biến hoặc cho người khác công
bố, phổ biến công trình NCKH do mình sở hữu và quyền cho hoặc
không cho người khác sử dụng công trình NCKH mà mình sở hữu.
Quyền tài sản: được hưởng lợi ích vật chất từ việc sử dụng công trình
NCKH tại điều 36 luật SHTT gồm: Làm công trình NCKH phái sinh;
Quyền sao chép công trình NCKH; Quyền phân phối, nhập khẩu bản
gốc hoặc bản sao công trình NCKH; Quyền truyền đạt công trình
NCKH đến công chúng bằng phương tiện hữu tuyến, vô tuyến, mạng
thông tin điện tử hoặc bất kỳ phương tiện kỹ thuật nào khác.
Việc giới hạn thể hiện trong những trường hợp nhất định thì
cá nhân, tổ chức khác có quyền sử dụng công trình NCKH được công
8




Chương 2
THỰC TRẠNG QUYỀN TÁC GIẢ ĐỐI VỚI
CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU KHOA HỌC TỪ THỰC TIỄN
ĐẠI HỌC Y DƯỢC TP.HCM
2.1. Đặc điểm, yêu cầu bảo hộ QTG công trình NCKH
Nghiên cứu khoa học (NCKH) cũng là công cụ quan trọng để định
hướng cho công tác giáo dục. Ở Việt Nam phần lớn NCKH không
xuất phát từ trường đại học. Đây được xem là điểm yếu của các
trường đại học trong việc đóng góp vào sáng tạo tri thức.
2.1.1. Đặc điểm các công trình NCKH tại ĐHYD TP.HCM
Đặc điểm các công trình NCKH như: đề tài NCKH, đề
cương, đề án, báo cáo, tham luận… tại ĐHYD TP.HCM chủ yếu là
nghiên cứu mô tả thuần túy nên chưa thể đào sâu phân tích về bệnh
lý, lâm sàng, chẩn đóan bệnh hay nghiên cứu thuốc thảo dược nên giá
trị khoa học không cao không ứng dụng được trên thực tế, làm hạn
chế khả năng thương mại. Về bài giảng, sách giáo trình, sách chuyên
khảo đây là những công trình NCKH được hình thành theo hình thức
đặt hàng hoặc thực hiện nghĩa vụ lao động của nhà trường nên CSH
vẫn là nhà trường, nhưng việc phân định quyền và nghĩa vụ của tác
giả và CSH không rõ ràng chồng lấn xâm phạm lẫn nhau.
2.1.2. Các yêu cầu bảo hộ QTG đối với công trình NCKH
Nhu cầu về SHTT nói chung QTG nói riêng tại ĐHYD có
thể được xem xét dưới nhiều góc độ: Nâng cao nhận thức về hoạt
động bảo hộ SHTT nói chung QTG nói riêng đối với công trình
NCKH tại trường; Khai thác các tiềm năng SHTT nói chung QTG
nói riêng tại trường hướng tới chuyển giao công nghệ cho đơn vị có
nhu cầu.
10


11


ứng xử nhầm lẫn khi tác giả không đồng thời là CSG QTG lại có
hành vi như thể mình là CSH QTG và ngược lại khi CSH QTG
không đồng thời là tác giả lại hành động như thể mình là tác giả.
2.4. Thực trạng thực thi QTG đối với công trình NCKH
Tại ĐHYD TP.HCM nhu cầu thực thi QTG xuất phát từ
nguyên nhân sau: Ý thức bảo hộ cũng như vấn đề thực thi QTG rất
kém;Không nắm rõ giới hạn QTG trong việc cho phép sinh viên sử
dụng giáo trình bài giảng dùng vào mục đích học tập. Vấn đề trả thù
lao và xin phép khi tái bản sách giáo trình.
Chế tài đối với vi phạm còn chưa có và người vi phạm không nhận
thức được hành vi của mình cũng như chủ thể quyền không muốn
khởi kiện, yêu cầu bồi thường thiệt hại hoặc quyền yêu cầu chấm dứt
khắc phục hậu quả.[50]
Cũng như Hiệp định TRIPs, pháp luật hiện hành của nước ta
quy định các loại phương thức được áp dụng để thực thi QTG. Cụ thể
là phương thức tự bảo vệ QTG (phương thức dân sự), bảo vệ QTG
thông qua các cơ quan quản lý nhà nước (phương thức hành chính),
bảo vệ QTG thông qua các cơ quan tư pháp (phương thức hình sự)
Kết luận chương 2
Theo tổ chức sở hữu trí tuệ thế giới WIPO khoảng 1/3 các
hoạt động nghiên cứu khoa học ở các nước công nghiệp được tiến
hành bởi các viện và trường đại học. Vì vậy cần nhận thức rõ thực
trạng những ảnh hưởng của SHTT cũng như hành vi xâm phạm
quyền tác giả đến quá trình NCKH tại ĐHYD TP.HCM để từ đó định
hướng phát triển cho hoạt động NCKH, bảo vệ QTG góp phần
thương mại hóa kết quả NCKH có ứng dụng cao kích thích hoạt động
NCKH. Việc bảo hộ và thực thi QTG thành công sẽ thúc đẩy hoạt

tắc cân bằng lợi ích của tác giả CSH QTG và lợi ích của xã hội, là

13


quy định về các trường hợp sử dụng công trình NCKH không phải
xin phép, không phải trả tiền nhuận bút, trả thù lao.
3.1.2. Bảo hộ quyền tác giả đáp ứng các điều ước quốc tế
mà Việt Nam là thành viên
Luật SHTT năm 2005 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) được xây
dựng trên những nguyên tắc cơ bản là: Pháp điển hoá, kế thừa có chọn
lọc, bổ sung các quy định còn thiếu, các quy định mới về (SHTT) đảm
bảo tính thống nhất, đồng bộ giữa các quy định pháp luật SHTT và
giữa các quy định liên quan đến SHTT của các ngành luật khác, đảm
bảo sự tương thích giữa các quy định SHTT của Việt Nam và các công
ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên, các Hiệp định song phương,
đa phương khác mà Nhà nước ta đã ký kết; đảm bảo các quy định về
quyền SHTT phù hợp với điều kiện của Việt Nam.
3.2 Giải pháp hoàn thiện pháp luật về QTG đối với công
trình NCKH
3.2.1. Kiến nghị cụ thể sửa đổi bổ sung pháp luật quyền tác
giả đối với công trình NCKH
Trước hết, pháp luật SHTT phải có tính hệ thống, tính thống
nhất; tương thích với các Công ước quốc tế liên quan đến quyền
SHTT mà chúng ta đã là thành viên. Thứ hai, hệ thống pháp luật
SHTT nói chung, pháp luật QTG nói riêng đã bộc lộ những khó khăn,
vướng mắc, bất cập, chồng chéo, không còn thích hợp khi quy định
ghép các đối tượng chuyên ngành độc lập cùng trong Luật SHTT, đòi
hỏi sớm được sửa đổi, bổ sung hoàn thiện theo hướng xây dựng, ban
hành các chuyên ngành luật độc lập.

như đưa vào giảng dạy bắt buộc môn học Pháp luật SHTT ở trường
đại học. Giới thiệu về nguyên tắc bảo vệ SHTT, phương thức trích
dẫn đúng luật, hình thức xử phạt nếu vi phạm QTG. Nhà trường tạo

15


điều kiện cho giảng viên tiếp cận với công nghệ phần mềm phát hiện
vi phạm QTG…
Ở trường ĐHYD TP.HCM nên tích cực phối hợp tổ chức các
hội nghị triển khai thi hành, tuyên truyền, hướng dẫn, phổ biến pháp
luật về QTG dưới nhiều hình thức, cách thức đa dạng, phù hợp với
điều kiện tại trường.
Tại ĐHYD TP.HCM cũng nên quy định cụ thể về vấn đề
phân chia lợi ích nhằm phân định rõ về quyền và nghĩa vụ các bên
tham gia chia theo tỉ lệ. Theo tỉ lệ 30% cho trường, 30% cho đơn vị
công tác trực tiếp của tác giả và 40% cho tác giả.
Thành lập bộ phận chuyên trách về SHTT của Trường là một cơ
quan đầu mối thực hiện chuyển giao công nghệ, xúc tiến việc thương
mại hoá các sản phẩm công nghệ của Trường, liên hệ tìm đầu ra, tìm
nguồn tài trợ NCKH và phân chia lợi nhuận cho các bên tham gia
KẾT LUẬN
Trí tuệ của con người là nguồn gốc của mọi sự sáng tạo. Con
người bằng tư duy sáng tạo của mình đã tạo ra biết bao công trình
NCKH có giá trị. Bảo hộ quyền SHTT nói chung, QTG nói riêng
đồng nghĩa với việc bảo vệ, khuyến khích các thành quả lao động
sáng tạo bằng cách dành cho tác giả, CSH QTG một khoảng thời gian
để có thể độc quyền khai thác nhằm thu hồi vốn đã bỏ ra và thu lợi
nhuận từ sáng tạo của họ. Một thực tế hiển nhiên là khi đã hoạt động
trong lĩnh khoa học ai cũng biết vấn đề bản quyền và tác quyền vốn

tự bảo vệ, công chúng thì vô tư vi phạm mà không bị chế tài nào ràng
buộc, chưa ý thức được sự ảnh hưởng đến cơ chế thị trường làm cho
hành vi vi phạm không kiểm soát được. Sở hữu trí tuệ ngày càng
đóng vai trò quan trọng đối với sự phát triển kinh tế xã hội, sự thịnh
17


vượng của nền văn hóa, đặc biệt trong bối cảnh hiện nay của một nền
kinh tế mới. Các đối tượng QTG không chỉ đơn thuần là tài sản thuộc
quyền sử dụng, định đoạt của riêng CSH mà còn có tác động lớn tới
lợi ích và sự phát triển chung của toàn xã hội. Hành vi xâm phạm
quyền tác giả không chỉ làm thiệt hại cho tác giả, CSH QTG mà còn
ảnh hưởng đến các tổ chức, cá nhân sử dụng khác. Như vậy, để việc
bảo hộ QTG có hiệu quả cần phải xác định xây dựng một hệ thống
pháp luật đầy đủ, chặt chẽ và hoàn thiện ngay từ khâu xác lập quyền
sở hữu cho đến cơ chế thực thi và các biện pháp chế tài nhằm bảo vệ
các quyền được xác lập.
Vậy nên, luận văn đã mạnh dạn đề xuất một số định hướng
và kiến nghị cụ thể, nhằm hoàn thiện pháp luật bảo hộ QTG đối với
công trình NCKH tại các trường đại học nói chung và riêng ĐHYD
TP.HCM.

18






Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status