Header Page 1 of 132.
VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN HÙNG CƯỜNG
CHÍNH SÁCH NĂNG LƯỢNG TÁI TẠO
CỦA MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI
VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM CHO VIỆT NAM
Chuyên ngành: Kinh tế quốc tế.
Mã số: 62 31 01 06
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ
HÀ NỘI – 2017
Footer Page 1 of 132.
Header Page 2 of 132.
Công trình được hoàn thành tại:
Học viên Khoa học xã hội
Viện hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam
Người hướng dẫn khoa học:
1. GS.TS Nguyễn Quang Thuấn.
2. TS. Đặng Thị Phương Hoa
Phản biện 1: PGS. TS. Đinh Văn Thành
2
cimate:
2015, trang 165-171.
China’s Tạp chí khoa học ĐH Mở
experiences and lessons for TP. HCM, số 4 (16) năm
Vietnam
2015, trang 108-115.
Chính sách năng lượng tái Tạp chí khoa học ĐH Mở
3
tạo của Ấn Độ và bài học TP. HCM, số 6 (45) năm
kinh nghiệm cho Việt Nam
Chính sách năng lượng tái
4
tạo của Cộng hòa Liên bang
Đức và bài học kinh nghiệm
cho Việt Nam
Chính sách năng lượng tái
5
tạo: Kinh nghiệm của Vương
Header Page 4 of 132.
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài luận án
Năng lượng có vai trò vô cùng quan trọng trong sự phát triển của mỗi
quốc gia. Con người gây ra biến đổi khí hậu, mức độ ô nhiễm tăng cao, suy
giảm an ninh năng lượng, cạn kiệt tài nguyên thiên nhiên và các cuộc xung
đột đều liên quan đến nhu cầu sử dụng ngày càng tăng các nguồn năng
lượng hóa thạch. Trên toàn cầu, ngày càng gia tăng nhận thức rằng việc
triển khai năng lượng tái tạo là rất quan trọng để giải quyết biến đổi khí
hậu, tạo ra các cơ hội kinh tế mới, và cung cấp truy cập năng lượng hiện
đại cho người dân. Với sự hỗ trợ của các chính phủ và sự tiến bộ của khoa
học công nghệ thời gian qua, năng lượng tái tạo không còn là một dự án
cho tương lai hay thử nghiệm, chúng đã thực sự trở thành năng lượng thay
thế cho năng lượng truyền thống. Hiện nay, trong 10 quốc gia hàng đầu
đầu tư và năng lượng tái tạo năm 2015 thì sáu nước là các nước đang phát
triển và trong đó Trung Quốc, Ấn Độ đang là động lực phát triển năng
lượng tái tạo của châu Á và các nước đang phát triển. Việt Nam là quốc gia
có tiềm năng rất lớn về nguồn năng lượng tái tạo phân bổ rộng khắp trên
toàn quốc. Mặc dù, Chính phủ Việt Nam đã có nhiều chính sách hỗ trợ
phát triển năng lượng tái tạo, nhưng do khung chính sách chưa hoàn thiện,
các công cụ chính sách sử dụng chưa phù hợp và đồng bộ, chồng chéo và
bất cập trong khâu thực thi. Do đó, năng lượng tái tạo ở Việt Nam vẫn
chưa phát triển, các dự án mới triển khai chậm, thu hút đầu tư rất hạn chế...
Chính vì vậy, đề tài: “Chính sách năng lượng tái tạo của một số nước trên
thế giới và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam” là cần thiết.
2. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
2.1. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở phân tích bối cảnh, chính sách năng lượng tái tạo tại Trung
Quốc và Ấn Độ từ đó chỉ ra những thành công và hạn chế, luận án rút ra
- Phạm
vi về không gian: Luận án tiến hành nghiên chính sách năng
lượng tái tạo ở Ấn Độ, Trung Quốc và Việt Nam.
- Phạm vi về thời gian: Luận án tiến hành nghiên cứu từ 2001 đến năm
2016, và định hướng cho thời gian tới.
4. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
4.1. Cách tiếp cận
Luận án sử dụng cách tiếp cận: tiếp cận hệ thống, tiếp cận liên ngành,
tiếp cận lịch sử, tiếp cận từ trên xuống (Top down).
4.2. Phương pháp luận
Luận án sử dụng phương pháp luận chủ nghĩa duy vật biện chứng, duy
vật lịch sử.
2
Footer Page 5 of 132.
Header Page 6 of 132.
4.3. Phương pháp nghiên cứu
Luận án sử dụng các phương pháp nghiên cứu khoa học cụ thể như:
phương pháp nghiên cứu lý thuyết, phương pháp nghiên cứu tổng kết
kinh nghiệm, phương pháp thống kê, thu thập số liệu, so sánh, phân tích
và tổng hợp, kết hợp những kết quả thống kê với sự vận dụng lý luận làm
sáng tỏ những vấn đề đặt ra cho luận án.
5. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án
- Ý nghĩa lý luận:
Luận án đã hệ thống hóa được một số vấn đề lý luận cơ bản liên quan
pháp.
7. Kết cấu của luận án
Ngoài phần Mở đầu, luận án gồm 4 chương như sau:
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến luận án
Chương 2: Cơ sở lý luận và thực tiễn về năng lượng tái tạo và chính
sách năng lượng tái tạo
Chương 3:Thực trạng chính sách năng lượng tái tạo tại Trung Quốc và
Ấn Độ
Chương 4: Chính sách năng lượng tái tạo của Việt Nam và giải pháp
vận dụng bài học kinh nghiệm từ Trung Quốc và Ấn Độ
CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN
QUAN ĐẾN LUẬN ÁN
1.1. Tình hình nghiên cứu của nước ngoài
1.1.1. Các nghiên cứu liên quan đến lợi ích của năng lượng tái tạo
Nghiên cứu của Krishnan trong “Implementation of Renewable Energy to
Reduce Carbon Consumption and Fuel Cell as a Back-up Power for
National Broadband Network (NBN) in Australia” năm 2013; Wing và Jin
trong “Risk management methods applied to renewable and sustainable
energy:
A
review”
năm
2012;
Edenhofer
Policy Frameworks for Renewable Energy to Mitigate Climate Change”
năm 2007; Janet L. Sawin trong “Renewables 2015 Global Status Report”
năm 2015; Barroso Azuela trong “Design and Performance of Policy
Instruments to Promote the Development of Renewable Energy: emerging
experience in selected developing countries” năm 2012; Peter Meier và
đồng nghiệp trong “The Design and Sustainability of Renewable Energy
Incentives An Economic Analysis” năm 2013; Hans Poser và đồng nghiệp
trong “Development And Integration Of Renewable Energy: Lessons
Learned From Germany” năm 2013.
1.1.4. Các nghiên cứu liên quan đến chính sách năng lượng tái tạo của
Trung Quốc và Ấn Độ
Nghiên cứu của Bloomberg New Energy Finance trong “Global Trends
in Renewable Energy Investment 2012” năm 2012; REN21 trong
“Background Paper: Chinese renewables status report” năm 2009; Ủy
ban Kinh tế và xã hội Châu Á Thái Bình Dương của Liên hợp quốc
(UNEPCAP) trong “Finding a green engine for economic growth: China’s
renewable energy policies” năm 2013; P R Krithika và Siddha Mahajan
5
Footer Page 8 of 132.
Header Page 9 of 132.
trong “Governance of renewable energy in India: Issues and challenges”
năm 2014; Idam Infrastructure Advisory Private Limited trong “REEnergising India: Policy, Regulatory and Financial Initiativesto Augment
Renewable Energy Deployment in India” năm 2014.
1.1.5. Các nghiên cứu liên quan đến năng lượng tái tạo và chính sách
năng lượng tái tạo của Việt Nam.
Nghiên cứu của Deutsche Gesellschaft für Technische Zusammenarbeit
(GTZ) trong “Energy-policy Framework Conditions for Electricity
Nghiên cứu của Phạm Thị Thanh Mai và Nguyễn Vĩnh Thụy trong
“Nghiên cứu một số phương án sử dụng nguồn năng lượng tái tạo cho phát
điện ở Việt Nam” năm 2014; Nguyễn Quốc Khánh trong “Năng lượng gió
ở Việt Nam: Đánh giá tài nguyên, tình trạng phát triển và tác động trong
tương lai” năm 2014; Dư Văn Toán trong “Chiến lược phát triển năng
lượng tái tạo trên thế giới và Việt Nam”.
2.3. Đánh giá
Nhìn chung, các công trình nghiên cứu nêu trên đều đề cập một cách
trực tiếp hoặc gián tiếp tới vấn đề năng lượng tái tạo và ở một chừng mực
nhất định, đến vấn đề chính sách năng lượng tái tạo ở Việt Nam và một số
nước trên thế giới, đặc biệt là hai nước Trung Quốc và Ấn Độ. Các đề tài
và công trình nghiên cứu đã trình bày một cách có hệ thống các cơ sở lý
luận cũng như thực tiễn về năng lượng tái tạo, năng lượng tái tạo của một
số nước trên thế giới và Việt Nam. Tuy nhiên, tại Việt Nam chưa có đề tài
nào đi sâu vào nghiên cứu một cách đầy đủ, chuyên sâu và toàn diện các
vấn đề liên quan đến chính sách năng lượng tái tạo ở các nước Ấn Độ và
Trung Quốc, từ đó, rút ra các bài học kinh nghiệm cho Việt Nam.
7
Footer Page 10 of 132.
Header Page 11 of 132.
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬNVỀ NĂNG LƯỢNG TÁI TẠO VÀ
CHÍNH SÁCH NĂNG LƯỢNG TÁI TẠO
2.1. Cơ sở lý luận của năng lượng tái tạo.
2.1.1. Khái niệm
Năng lượng tái tạo là năng lượng có nguồn gốc từ quá trình tự nhiên
(ví dụ như ánh sáng mặt trời và gió) được bổ sung với một tốc độ nhanh
(thường là chính phủ) quyết định để giải quyết các vấn đề về phát triển
năng lượng tái tạo bao gồm sản xuất, phân phối và tiêu dùng năng lượng
tái tạo. Các thuộc tính của chính sách năng lượng tái tạo có thể bao gồm
pháp luật, điều ước quốc tế, khuyến khích đầu tư, hướng dẫn bảo tồn năng
lượng, thuế và các công cụ chính sách công khác.
Chu trình thiết kế chính sách xác định năm bước tiêu chuẩn sau: Bước 1.
Thiết lập các mục tiêu năng lượng tái tạo; Bước 2. Vạch ra chiến lược; Bước
3. Vạch ra các biện pháp thực hiện; Bước 4. Tổ chức thực thi; Bước 5. Tổng
kết và đánh giá.
2.2.2. Các yếu tố ảnh hưởng tới chính sách năng lượng tái tạo
Hình 2.1: Các yếu tố ảnh hưởng tới chính sách năng lượng tái tạo
Nguồn: Tác giả tự xây dựng
9
Footer Page 12 of 132.
Header Page 13 of 132.
2.2.3. Công cụ chính sách năng lượng tái tạo
Các công cụ bao gồm: Danh mục tiêu chuẩn tái tạo hoặc hạn ngạch bắt
buộc; Chứng nhận năng lượng tái có thể giao dịch; Thanh toán bù trừ
(Metering Net); Đầu tư công, cho vay hoặc tài trợ; Đấu thầu cạnh tranh
công; Thuế trợ cấp; Trợ cấp vốn, giảm lãi vay; Miễn giảm thuế đầu tư;
Thanh toán hoặc miễm giảm thuế dựa trên sản xuất.
2.3. Tình hình phát triển năng lượng tái tạo và chính sách tái tạo trên
thế giới
Năng lượng tái tạo đang dần trở thành nguồn cung cấp năng lượng
chính trên toàn thế giới. Trong năm 2015, tổng mức đầu tư toàn cầu mới
một vai trò trong việc thúc đẩy cho chuyển đổi sang nền kinh tế carbon
thấp ở Trung Quốc. Các ưu tiên chiến lược và trọng điểm kinh tế của
Trung Quốc hiện nay xung quanh chủ đề phát triển bền vững, phát thải
carbon thấp và bảo vệ môi trường.
Nhận thức: Chính phủ Trung Quốc coi trọng việc phát triển năng
lượng tái tạo và thiết lập các chính sách liên quan đến Năng lượng tái tạo
nhằm giải quyết năm vấn đề quan trọng của đất nước: Đầu tiên là an ninh
năng lượng; Chống biến đổi khí hậu; Tăng khả năng cạnh tranh của nền
kinh tế; Giảm ô nhiễm môi trường; Sinh kế của người dân
Tiềm năng tự nhiên: Trung Quốc có nguồn năng lượng tái tạo đáng
kể, hầu hết trong số đó vẫn chưa được sử dụng. Tiềm năng Thủy năng:
400-700 GW; Năng lượng gió ngoài khơi (cao trên 50m): 1.300-2.600
GW; Năng lượng gió trong đất liền (cao 5-25m): 200 GW; Năng lượng mặt
trời phát điện tập trung 2.200 GW; Năng lượng mặt trời trên mái nhà: 500
GW.
11
Footer Page 14 of 132.
Header Page 15 of 132.
Trình độ khoa học công nghệ và sản xuất trong nước: Trung quốc
đã có những bước tiến vượt bậc trong phát triển khoa học công nghệ năng
lượng tái tạo và sản xuất trong nước các thiết bị liên quan. Tuy nhiên, các
nhà sản xuất Trung Quốc đã chủ yếu vẫn phải dựa trên giấy phép công
nghệ của nước ngoài cho các sản phẩm của họ. Các nhà sản xuất Trung
Quốc vẫn dựa vào nhập khẩu nước ngoài cho một số bộ phận công nghệ
cao.
Kinh tế và đầu tư: Kinh tế Trung Quốc là nền kinh tế lớn thứ hai
trên thế giới (sau Hoa Kỳ). Với tiềm lực kinh tế to lớn, Trung quốc đã tổng
Cấp Trung Ương
Ủy ban
năng lượng
quốc gia
Ủy ban cải
cách và
phát triển
quốc gia
Đại hội quốc dân
toàn quốc
Cục quản lý
năng lượng
quốc gia
Ủy ban Quản trị
và giám sát tài
sản nhà nước
Các công ty sản
xuất năng lượng
Các công ty
lưới điện
(Truyền tải và
phân phối)
13
Footer Page 16 of 132.
Header Page 17 of 132.
Trung Quốc có một danh mục lớn các công cụ chính sách khác nhau để
thúc đẩy năng lượng tái tạo; Thứ tư, Chính phủ Trung Quốc cung cấp ưu
đãi cho các doanh nghiệp đầu tư vào R&D nhằm tăng cường cạnh tranh
quốc tế.
Trung Quốc đã trở thành một nhà lãnh đạo thế giới về năng lượng tái tạo,
đặc biệt là năng lượng gió, năng lượng mặt trời và thủy điện. Trung Quốc
đứng đầu trong lĩnh vực năng lượng tái tạo trên toàn cầu về đầu tư, sản
xuất, công suất lắp đặt. Trung Quốc đã đầu tư 83 tỷ USD trong năng lượng
tái tạo vào năm 2014 và nước này chi 1,8 nghìn CNY (294 tỷ USD) trong
năm năm từ 2010 đến 2015 trong việc phát triển năng lượng tái tạo.
Mặc dù gặt hái nhiều thành công, nhưng chính sách năng lượng tái tạo
của Trung Quốc gặp phải một số vấn đề hạn chế, nhất là trong bước thực
thi chính sách: Mục tiêu RPS không được tuân thủ và hoàn thành; Bất cập
trong triển khai thuế trợ cấp (FiT); Lưới điện không theo kịp sự phát triển
của năng lượng tái tạo; Thiếu hụt công nghệ và nhân lực ; Đầu tư quá mức
trong sản xuất PV và năng lượng sinh khối; Thiếu nhà cung cấp tài chính
chuyên nghiệp; Sản xuất thiết bị PV gây ô nhiễm môi trường; Độc quyền
thị trường trên thị trường phát điện và truyền tải; Bất đồng lợi ích giữa
trung ương và địa phương trong phát triển năng lượng tái tao
3.2. Thực trạng chính sách năng lượng tái tạo của Ấn Độ
3.2.1. Bối cảnh năng lượng Ấn Độ
Ấn Độ có dân số lớn thứ hai trên thế giới, đang đối mặt với những
thách thức năng lượng cần một lượng lớn công suất điện mới rất cần thiết
để đáp ứng nhu cầu năng lượng gia tăng nhanh chóng trong nước. Tiêu thụ
Trình độ khoa học công nghệ và sản xuất trong nước: Trong khi
ngành năng lượng gió ở Ấn Độ được coi là khá hoàn thiện, đứng vị trí thứ
6 trong sản xuất tuabin gió trên toàn cầu, ngành công nghiệp năng lượng
mặt trời vẫn đang trong quá trình phát triển. Tuy nhiên, có nhiều khoảng
trống công nghệ trong ngành công nghiệp năng lượng tái tạo như thiết kế
và chế tạo các thiết bị khí hóa sinh khối, lắp đặt và vận hành các nhà máy
sinh khối quy mô lớn, lập kế hoạch và quản lý thực vật sinh khối nguyên
liệu, kỹ năng thiết kế để phù hợp với tốc độ gió và công suất tua bin…
Kinh tế và đầu tư: Nền kinh tế của Ấn Độ là nền kinh tế lớn thứ sáu
trên thế giới tính theo GDP danh nghĩa và lớn thứ ba của sức mua tương
15
Footer Page 18 of 132.
Header Page 19 of 132.
đương (PPP). Để phát triển năng lượng tái tạo, Ủy Ban Dự toán, ngày 28
Tháng 12 năm 2011, đề nghị ngân sách dành cho MNRE tăng lên 1% tổng
ngân sách nhằm đầu tư phát triển năng lượng mới và tái tạo.
3.2.3. Phân tích chính sách năng lượng tái tạo của Ấn Độ
3.2.2.1. Thiết lập các mục tiêu năng lượng tái tạo
Hình 3.2: Các mục tiêu năng lượng tái tạo của Ấn Độ
(Nguồn: Kumar, S. (2012). Initiatives of Govt. of India For Providing
Electricity to Rural Areas. New Delhi.)
3.2.2.2. Vạch ra chiến lược
Luật Điện lực năm 2003; Kế hoạch chiến lược cho ngành năng lượng
mới và tái tạo giai đoạn 2011-2017; Kế hoạch hành động quốc gia về biến
đổi khí hậu (NAPCC); Chính sách điện khí hóa nông thôn Quốc gia.
Bắc
4. Tập đoàn điện nông thôn
Chính
Cấp
bang
Bộ điện lực
(Chịu trách nhiệm các vấn đề sản
xuất điện, quản lý lưới thông qua
các công ty dịch vụ công)
quyền
bang
Phòng năng lượng
bang
(ban hàng các luật và
chính sách khuyến
khích, quản lý lưới và
hỗ trợ )
Bộ năng lượng mới và tái tạo
(Chịu trách nhiệm phát triển và
triển khai các công nghệ năng
lượng tái tạo)
Các chức năng phụ
1. Tập đoàn lưới điện quốc
gia Ấn Độ (Truyền tải và
17
Footer Page 20 of 132.
Header Page 21 of 132.
năng lượng mặt trời. Theo MNRE, công suất lắp đặt năng lượng tái tạo từ
các nguồn phi truyền thống đã tăng trưởng với tốc độ tăng trưởng hàng
năm là 24,69% trong thời gian 10 năm qua.
Tuy nhiên, các nhà nghiên cứu và tổ chức quốc tế không đánh giá chính
sách năng lượng tái tạo của Ấn Độ là thực thi có hiệu quả:
• Mức độ tuân thủ và hoàn thành RPO thấp;
• Cơ sở hạ tầng nối lưới điện không đảm bảo;
• Thiếu cơ sở dữ liệu đáng tin cậy về năng lượng tái tạo;
• Thiếu nguồn tài chính hỗ trợ năng lượng tái tạo;
• Tính minh bạch trong giải ngân quỹ môi trường;
• Các tác động tiêu cực tới xã hội và môi trường
18
Footer Page 21 of 132.
Header Page 22 of 132.
CHƯƠNG 4:CHÍNH SÁCH NĂNG LƯỢNG TÁI TẠO CỦA
VIỆT NAM VÀ GIẢI PHÁP VẬN DỤNG BÀI HỌC KINH NGHIỆM
TỪ TRUNG QUỐC VÀ ẤN ĐỘ
4.1. Chính sách năng lượng tái tạo của Việt Nam
4.1.1. Bối cảnh năng lượng
Chính phủ Việt Nam đã sử dụng nguồn năng lượng hóa thạch dồi dào
vững đất nước; Tạo thêm cơ hội, việc làm mới cho nhiều lực lượng lao
động trong xã hội.
Tiềm năng tự nhiên: Theo các chuyên gia và nhà đầu tư đánh giá Việt
Nam là một trong những quốc gia có nhiều thuận lợi nhất trong khu vực để
phát triển nguồn năng lượng tái tạo: Tiềm năng năng lượng mặt trời
khoảng 43,9 triệu tấn dầu qui đổi/năm; năng lượng gió có thể đạt công suất
phát điện khoảng 800-1.400 kwh/m2/năm trên đất liền, từ 500-1.000
kwh/m2/năm; tiềm năng của thủy điện nhỏ khoảng 4.000 MW mỗi năm;
năng lượng sinh khối quy đổi cũng vào khoảng 43-46 triệu tấn dầu trong
đó 60% đến từ các phế phẩm gỗ và 4% đến từ phế phẩm nông nghiệp.
Trình độ khoa học công nghệ và sản xuất trong nước: Trình độ công
nghệ năng lượng tái tạo của Việt Nam vẫn còn rất khiêm tốn, các dạng
công nghệ vẫn đang trong giai đoạn nghiên cứu lý thuyết, thử nghiệm và
chưa thể thương mại hóa. Ngành thiết bị năng lượng tái tạo trong nước mới
dừng lại ở gia công lắp ráp và chế tạo các thiết bị đơn giản. Phần lớn các
thiết bị lớn và công nghệ cao phải nhập khẩu khiến Việt Nam không thể
chủ động và năng lượng tái tạo trở lên đắt đỏ.
Kinh tế và đầu tư: Kinh tế Việt Nam là nền kinh tế lớn thứ 6 ở Đông
Nam Á trong số 11 quốc gia Đông Nam Á; GDP năm 2015 là 198,8 tỷ
USD. Trong năm 2015, Việt Nam với mức lãi suất và lạm phát ổn định ở
mức là 5,75 % và 2,05% tạo môi trường ổn định cho thu hút đầu đầu tư
trong và ngoài nước. Nguồn đầu tư vào năng lượng tái tạo được gộp vào
trong QHĐ VII, Việt Nam cam kết đầu 48 tỷ USD cho ngành điện đến năm
2020, 123,8 tỷ USD cho ngành điện đến năm 2030.
4.1.2. Chính sách năng lượng tái tạo của Việt Nam
4.1.4.1.Thiết lập các mục tiêu năng lượng tái tạo
Chiến lược phát triển năng lượng tái tạo Việt Nam đến năm 2030, tầm
nhìn đến năm 2050 đề ra các mục tiêu cho việc sử dụng các loại nguồn
20
Tổng cục năng
lượng
Tập đoàn điện lực
Việt Nam
Viện năng lượng
Vụ năng lượng
mới và tái tạo
Hình 4.4: Cơ cấu quản lý nhà nước về Năng lượng tái tạo
Nguồn: Phạm Khánh Nam, Nguyễn Anh Quân, Quan Minh, Quốc Bình.
(2012) “Investment Incentives for Renewable Energy in Southeast Asia: Case
study of Viet Nam”.
21
Footer Page 24 of 132.
Header Page 25 of 132.
4.1.4.5. Đánh giá
Việt Nam đã xác định mục tiêu cho năng lượng tái tạo bằng cách thiết
lập mục tiêu dài hạn cho cả về mức năng lượng sản xuất và bổ sung công
suất lắp đặt. Tuy nhiên, để đạt được các mục tiêu này, Việt Nam xây dựng
chiến lược phát triển và các công cụ chính sách thích hợp, cả hai bước này
các bên liên quan và học giả đánh giá Chính phủ vẫn chưa hoàn thiện
được. Trong khi có những luật khác nhau để thúc đẩy năng lượng thủy điện