BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI
NGUYỄN THỊ PHƢƠNG THẢO
BIỆN PHÁP ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG
HÌNH THÀNH BIỂU TƢỢNG KÍCH THƢỚC
CHO TRẺ 4-5 TUỔI Ở TRƢỜNG MẦM NON
Chuyên ngành : Giáo dục học (Giáo dục Mầm non)
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: TS. Nguyễn Mạnh Tuấn
HÀ NỘI - 2016
LỜI CẢM ƠN
Trước hết em xin bày tỏ tấm lòng biết ơn sâu sắc tới TS, thầy giáo
Nguyễn Mạnh Tuấn – người đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ em hoàn thành luận
văn này.
Em cũng xin gửi lời cảm ơn tới các thầy cô giáo trong khoa GDMN,
trường Đại học Sư phạm Hà Nội đã tạo điều kiện cho em trong quá trình thực
hiện và bảo vệ luận văn.
Đồng thời em cũng xin gửi lời cảm ơn Ban giám hiệu, Phòng Sau đại học
trường Đại học Sư phạm Hà Nội, Ban giám hiệu, các cô giáo, các cháu ở trường
mầm non Thành Công, trường mầm non Tân Lợi – TP Buôn Ma Thuột, tỉnh
ĐakLak đã giúp đỡ, tạo điều kiện thuận lợi để em hoàn thành đề tài.
Con xin cảm ơn những người thân đã luôn bên con, khuyến khích để con
tiếp tục bước trên con đường học tập của mình; cảm ơn các anh chị, bạn bè đồng
nghiệp đã luôn động viên để tôi hoàn thành luận văn này.
TN
: Thực nghiệm
PP
: Phương pháp
BP
: Biện pháp
GDMN
: Giáo dục mầm non
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ............................................................................................................ 1
1. Lý do chọn đề tài ............................................................................................ 1
2. Mục đích nghiên cứu..................................................................................... 3
3. Khách thể và đối tƣợng nghiên cứu ............................................................. 3
4. Giả thuyết khoa học ....................................................................................... 4
5. Nhiệm vụ nghiên cứu .................................................................................... 4
6. Phạm vi nghiên cứu....................................................................................... 4
7. Phƣơng pháp nghiên cứu.............................................................................. 4
8. Những đóng góp mới của đề tài....................................................................... 5
9. Cấu trúc của luận văn ..................................................................................... 5
NỘI DUNG ........................................................................................................ 7
trƣờng mầm non .............................................................................................. 40
2.2.2 Thực trạng mức độ hình thành biểu tƣợng thƣớc cho trẻ 4-5 tuổi ở
trƣờng mầm non .............................................................................................. 47
Kết luận chƣơng 2........................................................................................... 50
CHƢƠNG 3. BIỆN PHÁP ĐÁNH GIÁ VÀ ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ HOẠT
ĐỘNG HÌNH THÀNH BIỂU TƢỢNG KÍCH THƢỚC CHO TRẺ 4-5 TUỔI Ở
TRƢỜNG MẦM NON ..................................................................................... 52
3.1 Đề xuất một số biện pháp đánh giá hiệu quả hoạt động hình thành
biểu tƣợng kích thƣớc cho trẻ 4-5 tuổi ở trƣờng mầm non .................... 52
3.1.1 Nguyên tắc xây dựng một số biện pháp đánh giá hiệu quả hoạt động hình
thành biểu tƣợng kích thƣớc cho trẻ 4-5 tuổi ở trƣờng mầm non ................ 52
3.1.2 Một số biện pháp đánh giá hiệu quả hoạt động hình thành biểu tƣợng
kích thƣớc cho trẻ 4-5 tuổi ở trƣờng mầm non................................................ 53
3.2 Thực nghiệm sƣ phạm về đánh giá hiệu quả hoạt động hình thành biểu
tƣợng kích thƣớc cho trẻ 4-5 tuổi ở trƣờng mầm non ................................ 78
3.2.1 Những vấn đề chung về thực nghiệm.................................................... 78
3.2.2 Tiến hành thực nghiệm .......................................................................... 82
3.2.3 Kết quả thực nghiệm .............................................................................. 83
Kết luận chƣơng 3........................................................................................... 92
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ SƢ PHẠM ....................................................... 93
TÀI LIỆU THAM KHẢO ................................................................................ 95
PHỤ LỤC
DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1 Sự khác nhau giữa loại hình đánh giá tiêu chuẩn hóa quy mô lớn
và loại hình đánh giá ở lớp học ...................................................................... 22
Bảng 1.2 Sự khác nhau giữa nhóm đánh giá trong tiến trình và nhóm đánh giá
tổng kết ............................................................................................................. 25
Biểu đồ 3.1: Mức độ hình thành iểu tƣợng kích thƣớc của trẻ 2 nhóm thực
nghiệm và đối chứng trƣớc thực nghiệm (tính theo
) .............................. 84
Biểu đồ 3.2 Mức độ hình thành iểu tƣợng kích thƣớc của trẻ 2 nhóm thực
nghiệm và đối chứng sau thực nghiệm (tính theo
) ................................. 90
Biểu đồ 3.3 Mức độ hình thành iểu tƣợng kích thƣớc của trẻ nhóm thực
nghiệm trƣớc và sau thực nghiệm (tính theo
) ......................................... 90
Biểu đồ 3.4. Mức độ hình thành iểu tƣợng kích thƣớc của trẻ nhóm đối
chứng trƣớc và sau thực nghiệm (tính theo
) ........................................... 91
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Giáo dục được xem là quốc sách hàng đầu của nước ta, chăm sóc - giáo
dục trẻ em là trách nhiệm của gia đình - nhà trường và xã hội, trong đó ngành
giáo dục mầm non đóng vai trò rất quan trọng trong sự nghiệp chăm lo, đào
tạo và bồi dưỡng thế hệ trẻ trở thành người chủ tương lai của đất nước.
GDMN là mắt xích đầu tiên trong hệ thống giáo dục quốc dân. Mục
đích chung của giáo dục mần non là phát triển tất cả các khả năng trẻ, hình
thành cho trẻ những cơ sở ban đầu của nhân cách con người, tạo điều kiện để
các biểu tượng về kích thước vật thể tạo cơ sở cho trẻ có được những kiến
thức làm nền móng cho việc học tập nói chung và việc học toán nói riêng ở
trường phổ thông sau này.
Đối với lứa tuổi mẫu giáo, trẻ không hình thành cho mình những biểu
tượng về toán học mà phải nhờ sự hướng dẫn giúp đỡ của người lớn. Thông
qua phương pháp nhập tâm J.Bruner đã khẳng định: “Mức độ phát triển trí tuệ
phản ánh trình độ nhập tâm hành động sử dụng công cụ mà con người được
tạo cho trong nền văn hoá nào đó” thuyết “Nhập tâm” biểu hiện ở chỗ hành
động đối chiếu thuộc tính của các đồ vật với chuẩn cảm giác, hành động xây
dựng và ứng dụng mô hình tốt nhất cần hình thành dưới hình thức bên ngoài,
trong tương lai chúng là tài sản thế giới nội tâm của trẻ.
Vì vậy việc hình thành các biểu tượng toán học ban đầu cho trẻ mẫu
giáo là có ý nghĩa rất quan trọng. Đặc biệt là cho trẻ làm quen với kích thước
vật thể. Trong quá trình làm quen cũng là lúc hoạt động tư duy của trẻ thay
đổi cả về số lượng lẫn chất lượng. Sự thay đổi này gắn liền với lứa tuổi cùng
với kinh nghiệm phong phú của trẻ và nó chịu ảnh hưởng của tác động giáo
dục.
Giảng dạy về kích thước cho trẻ Mầm non là cô giáo đã bồi dưỡng khả
năng tư duy, phương pháp suy nghĩ chính xác, rõ ràng, phát triển trí tuệ và
thúc đẩy quá trình phát triển tâm lý ở trẻ và nhất là khi trẻ học về kích thước
thì cô giáo đã nâng tư duy của trẻ từ tư duy cụ thể lên tư duy trừu tượng, giúp
trẻ phát triển những thao tác tư duy (so sánh, phân tích, tổng hợp). Đồng thời
thông qua việc giảng dạy giúp trẻ có thói quen sống nề nếp, bồi dưỡng tình
cảm đạo đức của con người xã hội chủ nghĩa và bước đầu có nhận thức về
thẩm mỹ.
2
Ví dụ: Trẻ biết sắp xếp các khối, đồ chơi có thứ tự gọn gàng, biết xưng
Quá trình đánh giá hiệu quả hoạt động hình thành BTKT cho trẻ 4-5
tuổi ở trường mầm non.
3.2. Đối tƣợng nghiên cứu
BPĐG hiệu quả hoạt động hình thành BTKT cho trẻ 4-5 tuổi ở trường
mầm non.
4. Giả thuyết khoa học
Nếu xây dựng được một số BPĐG trẻ theo hướng tăng cường kiểm tra,
ĐG quá trình, mức độ tiến bộ của trẻ thì sẽ góp phần nâng cao hiệu quả của
hoạt động hình thành BTKT cho trẻ 4-5 tuổi ở trường mầm non.
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1 Xây dựng cơ sở lý luận của một số BPĐG hiệu quả hoạt động hình
thành BTKT cho trẻ 4-5 tuổi ở trường mầm non.
5.2 Phân tích, thực trạng đánh giá hiệu quả hoạt động hình thành BTKT
của trẻ 4-5 tuổi của giáo viên mầm non và tìm ra nguyên nhân của thực trạng
đó.
5.3 Đề xuất và tiến hành thực nghiệm (TN) sư phạm một số BP nhằm
giúp GV nâng chất lượng ĐG hiệu quả hoạt động hình thành BTKT cho trẻ 45 tuổi ở trường Mầm non.
6. Phạm vi nghiên cứu
Tiến hành nghiên cứu trên trẻ mẫu giáo nhỡ, trường mầm non Thành
Công tại địa bàn phường Thành Công, TP Buôn Ma Thuột, Tỉnh DakLak.
7. Phƣơng pháp nghiên cứu
7.1 Phƣơng pháp nghiên cứu lý luận
Thu thập, phân tích, xử lí một số vấn đề liên quan nhằm hệ thống hóa
cơ sở lí luận của một số biện pháp (BP) giúp GVĐG hiệu quả hoạt động hình
thành BTKT cho trẻ 4-5 tuổi.
7.2 Phƣơng pháp nghiên cứu thực tiễn
7.2.1 Phương pháp điều tra bằng phiếu Anket
Sử dụng phiếu trưng cầu ý kiến GV với các câu hỏi đóng và mở để tìm
9. Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, luận văn
gồm ba chương:
5
Chương 1: Cơ sở lí luận về ĐG hiệu quả hoạt động hình thành BTKT
cho trẻ 4-5 tuổi ở trường mầm non.
Chương 2: Thực trạng việc GVĐG hiệu quả hoạt động hình thành
BTKT của trẻ 4-5 tuổi ở trường mầm non
Chương 3: Đề xuất một số BPĐG và TN sư phạm việc ĐG hiệu quả
hoạt động hình thành BTKT cho trẻ 4-5 tuổi ở trường mầm non.
6
NỘI DUNG
CHƢƠNG I
CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG HÌNH
THÀNH BIỂU TƢỢNG KÍCH THƢỚC CHO TRẺ 4-5 TUỔI Ở
TRƢỜNG MẦM NON
1.1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
1.1.1 Trên thế giới
Như chúng ta đã biết trước đây không lâu nguồn tài liệu về ĐG trẻ
mầm non chỉ giới hạn ở các bài viết trên báo, giáo trình của chương trình đào
tạo GV mầm non và một vài cuốn tài liệu tham khảo trong các khóa đào tạo
GDMN. Rất ít các bài giảng được soạn riêng dành cho việc ĐG ở cấp bậc
mầm non. Nhưng hiện nay trong thế kỉ 21, việc ĐG trẻ nhỏ đã trải qua quá
trình phát triển và mở rộng nhanh chóng. Trên thực tế, nó được miêu tả như
nay, các nghiên cứu và các tư liệu về ĐG ngày càng được quan tâm nhiều hơn
kể cả với trẻ bình thường hay trẻ có khiếm khuyết.
Các bài test chuẩn hóa cũng được hình thành bắt đầu từ những năm
1900. Terman là người tiên phong trong lĩnh vực ĐG tâm lí trẻ. (Irwin and
Bushnell, 1980; Wortham, 2002). Ông đã giới thiệu công cụ đo lường tên là
“Thước đo trí thông minh Binet – Stanford” dành cho trẻ mầm non.
Thorndike và các học trò cũng đã thiết kế một PP đo lường để ĐG kết quả đạt
được trong khả năng đọc, làm toán và đánh vần, khả năng ngôn ngữ cho trẻ
(Weber, 1984). Vào năm 1918, hơn 100 bài test chuẩn hóa đã ra đời để ĐG
kết quả học tập. (Monroe, 1918).
Năm 1975, Luật Công 92 – 142 là bộ luật có tác động mạnh mẽ nhất
đến quá trình ĐG trẻ khuyết tật.ĐG và phân loại trẻ khuyết tật và thiểu năng
trí tuệ là một công việc hết sức khó khăn. GV đứng lớp phải học các kĩ thuật
để ĐG trẻ khuyết tật cũng như xác định nhu cầu giáo dục của các em.
Sau đó, càng ngày càng có nhiều nhà nghiên cứu quan tâm đến việcĐG.
Mỗi tác giả lại có một quan điểm riêng về ĐG. Ví dụ như:
- Theo Jean – Marie De Ketele (1989): ĐG có nghĩa là “thu thập một tập hợp
thông tin đủ thích hợp, có giá trị và đáng tin cậy, xem xét mức độ phù hợp
giữa tập hợp thông tin này và một tập hợp tiêu chí phù hợp với các mục tiêu
định ra ban đầu hay đã được điều chỉnh trong quá trình thu thập thông tin
8
nhằm đưa ra một quyết định”.
- Theo C.E. Beeby (1997): ĐG là sự thu thập và lí giải một cách có hệ thống
những bằng chứng dẫn tới sự phán xét về giá trị theo quan điểm hành động”.
- Theo Piter W.Airasian (1997): ĐG (assessment) là quá trình thu thập, tổng
hợp và diễn giải thông tin hỗ trợ cho việc ra quyết định. Thuật ngữ
“assessment” trong tiếng Anh có thể bao gồm cả ĐG định tính như: quan sát,
kiểm tra, đo lường và ĐG mang tính định lương như ĐG bằng điểm số. Ví dụ:
còn một số các tác giả khác có quan tâm đến ĐG trong giáo dục và đặc biệt
là ĐG trong GDMN nhưNguyễn Hoàng Phương, Võ Ngọc Lan , Lâm Quang
Thiệp, Dương Triệu Thống,... Nói chung, ĐG trong giáo dục và ĐG trong
GDMN đã và đang được quan tâm rất nhiều tại Việt Nam. Không chỉ các
nhà nghiên cứu, các nhà giáo dục, các GV mà đến cả các phụ huynh cũng
quan tâm đến vấn đề này. Những gia đình có con chậm phát triển ở một
lĩnh vực nào đó thì muốn tìm đến ĐG xem con mình đang có nhu cầu đặc
biệt ở đâu, từ đó để có những can thiệp phù hợp và kịp thời còn với nhưng
gia đình có bé phát triển bình thường thì cũng muốn ĐG xem con mình
đang phát triển ở mức độ nào.
Việc ĐG trẻ thường được tiến hành đầy đủ 5 lĩnh vực phát triển, bao
gồm nhận thức, thể chất, ngôn ngữ, thẩm mỹ, tình cảm – kĩ năng xã hội. Việc
ĐG hiệu quả hình thành BTKT cho trẻ 4-5 tuổi nằm trong lĩnh vực nhận thức.
Tuy nhiên, việc ĐG nội dung đó chưa được chú trọng nhiều và còn hời hợt.
Thêm nữa, việc dạy về BTKT cũng chưa thật sự là dạy trẻ cách tư duy trong
không gian nên năng lực của trẻ về BTKT còn thấp. Do vậy, để góp phần làm
phong phú thêm mặt lí luận và thực tiễn các BPĐG, đặc biệt là ĐG hiệu quả
hình thành BTKT, tôi đã lựa chọn đề tài “ Biện pháp đánh giá hiệu quả hoạt
động hình thành biểu tƣợng kích thƣớc cho trẻ 4-5 tuổi ở trƣờng MN”.
1.2. Cơ sở đánh giá hiệu quả hoạt động hình thành iểu tƣợng kích thƣớc
cho trẻ 4-5 tuổi ở trƣờng MN
1.2.1 Đánh giá trong giáo dục
1.2.1.1 Khái niệm về đánh giá trong giáo dục
Qua tìm hiểu và phân loại, tác giả thấy nổi lên hai xu hướng ĐG trong
giáo dục như sau:
* Xu hướng thứ 1: người ĐG chỉ sử dụng các BPĐG nhằm để thu
thập kết quả cuối cùng của người học khi kết thúc quá trình học tập.
10
11
thống, có vai trò tích cực trong việc điều chỉnh hệ thống, là cơ sở cho việc đổi
mới giáo dục – đào tạo. Chính vì vậy, ĐG là một trong những vấn đề luôn
được quan tâm.
Có thể diễn tả ĐG trong quá trình giáo dục – đào tạo như sau:
Mục tiêu giáo dục
Quá trình giáo dục – đào tạo
Đánhgiá
- Quan niệm 4: Tác giả Phan Lan Anh thì lại cho rằng: “ĐG trong giáo
dục nói chung và ĐG trong GDMN nói riêng là việc điều tra xem xét, xác
định chất lượng của đối tượng được ĐG, trên cơ sở thu thập và xử lí thông tin
một cách có hệ thống về hiện trạng, khả năng hay nguyên nhân của chất
lượng và hiệu quả giáo dục, căn cứ vào mục tiêu giáo dục để đề xuất những
chủ trương, BP và hành động giáo dục tiếp theo”.[10, 4]
ĐG trong GDMN bao gồm việc đáng giá tổng hợp các thành tố cơ bản:
sản phẩm đầu ra của GDMN – trẻ em (mức độ phù hợp với mục tiêu và đáp
ứng nhu cầu), các yếu tố đầu vào (cơ sở vật chất, chương trình, năng lực của
GV) và quá trình giáo dục (PP hoạt động, cách thức tổ chức, hình thức tương
tác, cách thức quản lý,…) tạo ra sản phẩm giáo dục.
- Quan niệm 5: Tác giả Đinh Thị Kim Thoa cũng đưa ra quan niệm của
mình, tác giả nói: “ĐG là quá trình đưa ra nhận định về năng lực và phẩm
chất của sản phẩm giáo dục căn cứ vào các thông tin định tính và định lượng
từ các phép đo. ĐG cũng là quá trình thu thập thông tin về năng lực và phẩm
chất của một cá nhân và sử dụng những thông tin đó đưa ra quyết định về mỗi
cá nhân và dạy học trong tương lai. ĐG bao gồm các việc phán xét cá nhân
Thiết kế lại
chương trình
để cải thiện
việc học
So sánh kết
quả đạt được
với mục tiêu
dự kiến
Hình 2.1 Chu trình đánh giá học tập
Chu trình ĐG học tập của trẻ diễn ra liên tục trong năm học chứ không
13
chỉ ĐG kết quả cuối cùng của năm học. Đó là cơ sở để GV có định hướng
giúp đỡ học sinh học tập tốt hơn, khắc phục những gì chưa tốt, những gì đã tốt
sẽ có cơ hội phát triển thêm.
1.2.1.2. Mục đích của đánh giá trẻ mầm non
ĐG trong GDMN được thực hiện trên nhiều mặt với nhiều nội dung
khác nhau, đó là: ĐG chất lượng cơ sở GDMN, ĐG công tác tổ chức quản lý
GDMN, ĐG chương trình GDMN, ĐGGV, ĐG sự phát triển của trẻ mầm
non. Tuy nhiên, theonghĩa hẹp sử dụng trong luận văn này, chúng tôi coi ĐG
trong GDMN chính là ĐG trẻ mầm non với các mục đích như sau:
- Định rõ sự phát triển của cá nhân trẻ: Muốn dạy trẻ cho tốt thì nhà
giáo dục phải nắm bắt được trẻ đang phát triển ở mức độ nào, mặt nào đã phát
triển tốt, mặt nào còn cần phải rèn luyện thêm cho hoàn thiện. Do vậy, việc
xác định rõ ràng mức độ phát triển ở từng cá nhân trẻ là rất quan trọng và cần
thiết cho việc lập kế hoạch chăm sóc và giáo dục. Và ở đây có thể là sự phát
triển một năng lực ngôn ngữ hay Toán ở trẻ, hoặc có thể là xác định mức độ
mức độ phù hợp của chương trình chăm sóc và giáo dục đã thực hiện với trẻ,
GV có thể lập kế hoạch chương trình chăm sóc và giáo dục trẻ cho những
giai đoạn tiếp theo.
- Phục vụ công tác nghiên cứu trẻ em. Hiện nay có không ít các công
trình nghiên cứu của các tác giả trong và ngoài nước quan tâm nghiên cứu sự
phát triển của trẻ. Tuy nhiên, chúng ta cũng chưa dám khẳng định là mình đã
hiểu hoàn toàn về trẻ, vẫn có những khúc mắc mà chưa chúng ta chưa thể giải
đáp về đứa trẻ và cũng vẫn còn đấy những chỗ trống trong quá trình phát triển
của trẻ mà chúng ta cần nỗ lực tìm hiểu, nghiên cứu nhiều hơn nữa để điền vào
nhằm mục đích giúp thế hệ trẻ ngày càng tiến bộ, ngày càng phát triển tốt hơn so
với thế hệ đi trước. Do vậy, ĐG còn phục vụ công tác nghiên cứu, ĐG được thực
hiện trên mẫu bao gồm một số lượng trẻ nhằm tìm ra các quy luật phát triển,
chứng minh hay bác bỏ những giả thuyết khoa học về sự phát triển trẻ em, góp
phần tăng cường hiệu quả quá trình chăm sóc và giáo dục trẻ.
1.2.1.3 Các phương pháp thường dùng trong đánh giá trẻ mầm non
Hiện nay thực tế ở các trường mầm non, GV có chú trọng đến việc
chăm sóc, lập kế hoạch, thiết kế, điều khiển các hoạt động hằng ngày nhưng
15
lại ít chú trọng đến việc ĐG cá nhân và nhóm trẻ. Nguyên nhân theo đa số GV
nêu ra là do sĩ số lớp quá đông nên gây ra nhiều khó khăn cho việc ĐG và GV
không được trang bị PPĐG trẻ trong hoạt động nói chung và hoạt động hình
thành BTKT cho trẻ 4-5 tuổi nói riêng. Sau đây là một số PPĐG chủ yếu
trong hoạt động làm quen với toán của trẻ mẫu giáo ở trường mầm non mà
GV có thể sử dụng trong quá trình làm việc của mình nhằm góp phần nâng
cao hiệu quả giáo dục và chăm sóc trẻ.
a/ Phương pháp quan sát:
Quan sát là PPĐG trực tiếp nhất, quen thuộc nhất trong các PPĐG trẻ.
hoạt động học tập có chủ đích của trẻ. Quan sát giúp GV thu được những
thông tin về sự tích cực, sự hứng thú tham gia của trẻ, trong cả câu trả lời của
trẻ, qua phản ứng của trẻ với kết quả của hoạt động,…GV sử dụng giấy và bút
để ghi chép lại những hoạt động của trẻ hằng ngày.
+ Đối với quan sát theo mẫu, điều quan trọng là GV phải lập được
phiếu điều tra trẻ. Sau đây là hai mẫu phiếu mà GV có thể sử dụng để ĐG trẻ
cả trong hoạt động hằng ngày hay trong ĐG định kì.
Một là, lập phiếu quan sát trẻ dựa trên kiểm tra một danh mục các kiến
thức, kĩ năng, thái độ, hành vi (bảng checklist)
Trẻ mẫu giáo phát triển nhanh thông qua các giai đoạn khác nhau.GV
mầm non nên sử dụng phiếu này để ghi lại và ĐG sự phát triển của trẻ. Trong
việc dạy trẻ toán ở trường mầm non việc sử dụng phiếu ĐG cũng giúp GV
nhận ra trẻ có gặp khó khăn trong nhận thức hay không và có sự quan tâm
thích đáng đến trẻ cũng như chọn lựa các BP sử dụng tốt nhất cho trẻ. Ngoài
ra, nó còn giúp GV xem xét liệu việc dạy trẻ có phù hợp với mục tiêu đặt ra
hay không và có những điều chỉnh việc lập kế hoạch cho lớp trong những kế
hoạch tuần tiếp theo.
Để lập một bảng các hành vi, GV có thể thực hiện theo các bước
sau:
Xác định các năng lực cần ĐG trong giờ học
Dự kiến ĐG năng lực qua một tổ hợp các kiến thức, kĩ năng, thái độ,
hành vi, hành động, hành vi của trẻ
Sắp xếp, tổ chức lại thành phiếu điều tra
Quan sát, ghi lại kết quả điều tra
17
Hai là, lập phiếu quan sát trẻ bằng thang đo tỉ lệ (Rating scale)
Cũng giống như bảng checklist về quan sát năng lực của trẻ, tuy nhiên