Biện pháp đánh giá hiệu quả hoạt động hình thành biểu tượng số lượng cho trẻ 5 6 tuổi - Pdf 42

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI

LÊ THỊ THÙY TRANG

BIỆN PHÁP ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG
HÌNH THÀNH BIỂU TƢỢNG SỐ LƢỢNG
CHO TRẺ 5-6 TUỔI

Chuyên ngành : Giáo dục học (Giáo dục Mầm non)
Mã số

: 60.14.01.01

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: TS. Nguyễn Mạnh Tuấn

HÀ NỘI - 2017


LỜI CẢM ƠN
Trước hết em xin bày tỏ tấm lòng biết ơn sâu sắc tới TS, thầy giáo
Nguyễn Mạnh Tuấn – người đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ em hoàn thành
luận văn này.
Em cũng xin gửi lời cảm ơn tới các thầy cô giáo trong khoa GDMN,
trường Đại học Sư phạm Hà Nội đã tạo điều kiện cho em trong quá trình thực
hiện và bảo vệ luận văn.
Đồng thời em cũng xin gửi lời cảm ơn Ban giám hiệu, Phòng Sau đại
học trường Đại học Sư phạm Hà Nội, Ban giám hiệu, các cô giáo, các cháu ở
trường Mẫu giáo Hướng Dương đã giúp đỡ, tạo điều kiện thuận lợi để em

: Giáo viên

NXB

: Nhà xuất bản

TN

: Thực nghiệm

PP

: Phương pháp

BP

: Biện pháp

GDMN

: Giáo dục mầm non


MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU .............................................................................................. 1
1. Lý do chọn đề tài ........................................................................................... 1
2. Mục đích nghiên cứu ..................................................................................... 2
3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu .............................................................. 2
4. Giả thuyết khoa học ...................................................................................... 2
5. Nhiệm vụ nghiên cứu .................................................................................... 2

2.7.4.Thực trạng hiệu quả của các biện pháp đánh giá hoạt động hình thành
BTSL cho trẻ 5-6 tuổi ...................................................................................... 48
2.7.5. Thực trạng mức độ hình thành BTSL cho trẻ 5-6 tuổi .......................... 50
Kết luận chương 2 .......................................................................................... 52
Chƣơng 3: ĐỀ XUẤT MỘT SỐ BIỆN PHÁP ĐÁNH GIÁ VÀ THỰC
NGHIỆM SƢ PHẠM VỀ ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG HÌNH
THÀNH BIỂU TƢỢNG SỐ LƢỢNG CHO TRẺ 5-6 TUỔI .................... 54
3.1 Đề xuất một số BPĐG hiệu quả hoạt động hình thành BTSL cho trẻ
5-6 tuổi ............................................................................................................ 54
3.1.1 Nguyên tắc xây dựng một số BPĐG hiệu quả hoạt động hình thành
BTSL cho trẻ 5-6 tuổi ...................................................................................... 54
3.1.2 Một số BPĐG hiệu quả hoạt động hình thành BTSL cho trẻ 5-6 tuổi............. 55
3.2 TN sƣ phạm về ĐG hiệu quả hoạt động hình thành BTSL cho trẻ 5-6 tuổi...82
3.2.1 Những vấn đề chung về TN .................................................................... 82
3.2.2 Tiến hành TN .......................................................................................... 86
3.2.3 Kết quả TN ............................................................................................. 87
Kết luận chương 3 .......................................................................................... 97
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ SƢ PHẠM................................................... 98
TÀI LIỆU THAM KHẢO .......................................................................... 100
PHỤ LỤC


DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1 Sự khác nhau giữa loại hình ĐG tiêu chuẩn hóa quy mô lớn và loại
hình ĐG ở lớp học........................................................................... 23
Bảng 1.2 Sự khác nhau giữa nhóm ĐG trong tiến trình và nhóm ĐG tổng kết.... 26
Bảng 1.3: Ưu điểm và hạn chế của loại hình thức ĐG thực ........................... 29
Bảng 2.1 Trình độ chuyên môn của GV ......................................................... 42
Bảng 2.2 Thâm niên công tác của GV ............................................................ 43
Bảng 2.3 Ý kiến về tầm quan trọng của ĐG hoạt động hình thành BTSL cho

Biểu đồ 3.2 Mức độ hình thành BTSL của trẻ 2nhóm TN và ĐC sau TN tính
theo %) .......................................................................................... 95
Biểu đồ 3.3 Mức độ hình thành BTSL của trẻ nhóm TN trước và sau TN tính
theo %) .......................................................................................... 95
Biểu đồ 3.4. Mức độ hình thành BTSL của trẻ nhómĐC trước và sau TN tính
theo %) .......................................................................................... 96


PHẦN MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài
Theo Thông tư số 17/2009/TT-BGDĐT ngày 25 tháng 7 năm 2009
của Bộ Giáo dục và Đào tạo thì mục tiêu của giáo dục mầm non là giúp trẻ em
phát triển về trí tuệ giúp các trẻ chuẩn bị vào lớp một; hình thành và phát triển
ở trẻ em những năng lực và phẩm chất mang tính nền tảng, phù hợp với năng
lực, với lứa tuổi, khơi dậy và phát triển tối đa những khả năng tiềm ẩn, đặt
nền tảng cho việc học ở các cấp học tiếp theo và cho việc học tập suốt đời.
Trong đó nội dung về toán học sơ đẳng là những nội dung cơ bản trong
chương trình giáo dục mầm non. Quá trình hình thành biểu tượng số lượng
BTSL , con số và phép đếm cho trẻ mẫu giáo đóng vai trò to lớn đối với sự
phát triển các quá trình nhận thức của trẻ, giúp trẻ nhận biết được các dấu
hiệu số lượng và mối quan hệ số lượng có trong các sự vật, hiện tượng của thế
giới xung quanh trẻ, hình thành ở trẻ biểu tượng về con số, mối quan hệ giữa
chúng và qui luật hình thành dãy số tự nhiên, hình thành ở trẻ những kĩ năng
nhận biết như: so sánh số lượng, đếm, thêm, bớt, chia số lượng. . .Tất cả
những kiến thức, kĩ năng đó là cơ sở để trẻ dễ dàng học phép đếm và các phép
tính đại số ở trường tiểu học.
Hiện nay giáo dục mầm non GDMN đã và đang diễn ra quá trình
đổi mới các hoạt động giáo dục nói chung và hoạt động hình thành BTSL cho
trẻ mẫu giáo theo hướng phát huy tính tích cực, độc lập, sáng tạo của trẻ trong

5.3 Đề xuất và tiến hành TN sư phạm một số BP nhằm giúp GV nâng chất
lượng ĐG hiệu quả hoạt động hình thành BTSL cho trẻ 5-6 tuổi.
6. Phạm vi nghiên cứu
Do thời gian có hạn nên chúng tôi nghiên cứu một số biện pháp đánh
giá hiệu quả hoạt động hình thành BTSL cho trẻ 5-6 tuổi do giáo viên tổ chức
ở trường mầm non

2


7. PP nghiên cứu
7.1 PP nghiên cứu lý luận
Thu thập, phân tích, xử lí một số vấn đề liên quan nhằm hệ thống hóa cơ
sở lí luận của một số BP giúp GVĐG hiệu quả hoạt động hình thành BTSL
cho trẻ 5-6 tuổi.
7.2 Nhóm PP nghiên cứu thực tiễn
7.2.1 PP điều tra bằng phiếu Anket
Sử dụng phiếu trưng cầu ý kiến GV với các câu hỏi đóng và mở để tìm
hiểu thực trạng việc sử dụng một số BPĐG hiệu quả hoạt động hình thành
BTSL cho trẻ 5-6 tuổi của GV.
7.2.2 PP đàm thoại
Tôi tiến hành trò chuyện, trao đổi với GV mầm non và trẻ nhằm tìm hiểu
về nhận thức, cách thức tổ chức, những thuận lợi, khó khăn mà GV gặp phải
trong quá trình tổ chức ĐG hiệu quả hoạt động hình thành BTSL cho trẻ 5-6
tuổi. Đồng thời, chúng tôi cũng ĐG được khả năng nhận thức, mức độ chính
xác và hiệu quả trong việc tổ chức ĐG của GV trong hoạt động này.
7.2.3 PP quan sát sư phạm
Quan sát hoạt động của GV mầm non trong quá trình tổ chức ĐG hiệu quả
hoạt động hình thành BTSL cho trẻ 5-6 tuổi để ĐG thực trạng cách thức việc
tổ chức hoạt động này của GV mầm non.


PHẦN NỘI DUNG
Chƣơng 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG HÌNH
THÀNH BIỂU TƢỢNG HÌNH DẠNG CHO TRẺ 4-5 TUỔI
1.1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
1.1.1 Trên thế giới
Trước đây không lâu, các nguồn tài liệu về ĐG trẻ mầm non chỉ giới hạn
ở các bài viết trên báo, giáo trình của chương trình đào tạo GV mầm non và
một vài cuốn tài liệu tham khảo trong các khóa đào tạo GDMN. Rất ít các bài
giảng được soạn riêng dành cho việc ĐG ở cấp bậc mầm non. Nhưng hiện nay
trong thế kỉ 21, việc ĐG trẻ nhỏ đã trải qua quá trình phát triển và mở rộng
nhanh chóng. Trên thực tế, nó được miêu tả như “một sự bùng nổ mãnh liệt
của kiểm tra ĐG ở các trường công”. Meisels and Atkins-Brunett, 2005,
trang 1 . Nguyên nhân chính là do sự bùng nổ về số lượng trẻ sơ sinh, trẻ 1
tuổi và trẻ mẫu giáo tham gia vào chương trình GDMN và chương trình giáo
dục chuyên biệt dành cho chúng. Và số lượng trẻ dưới 6 tuổi có số lượng tăng
vọt qua hằng năm.
Trẻ được tiến hành ĐG từ khi còn là thai nhi trong bụng mẹ. Sau đó, khi
ra đời sẽ tiếp tục được ĐG thông qua các PP đo lường để thấy được sự tăng
trưởng và phát triển của trẻ. Cho đến khi bước vào bậc học mầm non, trẻ sẽ
được ĐG thông qua các bài test của các chuyên gia để đưa ra các kết luận về
tình hình sức khỏe, tình trạng phát triển trí não cùng với sự quan sát của các
thành viên trong ra đình nhằm xây dựng chương trình và tìm các dịch vụ
chăm sóc – giáo dục phù hợp với trẻ. Lúc đó, ĐG được định nghĩa là “ ĐG là
quá trình thu thập thông tin về trẻ từ nhiều nguồn tư liệu, sau đó tổng hợp và
lí giải những thông tin đó” McAfee, Leong and Bodrova, 2004, trang 3).

5


6


- Theo Jean – Marie De Ketele 1989 : ĐG có nghĩa là “thu thập một tập
hợp thông tin đủ thích hợp, có giá trị và đáng tin cậy, xem xét mức độ phù
hợp giữa tập hợp thông tin này và một tập hợp tiêu chí phù hợp với các mục
tiêu định ra ban đầu hay đã được điều chỉnh trong quá trình thu thập thông tin
nhằm đưa ra một quyết định”.
- Theo C.E. Beeby 1997 : ĐG là sự thu thập và lí giải một cách có hệ thống
những bằng chứng dẫn tới sự phán xét về giá trị theo quan điểm hành động”.
- Theo Piter W.Airasian 1997 : ĐG assessment là quá trình thu thập,
tổng hợp và diễn giải thông tin hỗ trợ cho việc ra quyết định. Thuật ngữ
“assessment” trong tiếng Anh có thể bao gồm cả ĐG định tính như: quan sát,
kiểm tra, đo lường và ĐG mang tính định lương như ĐG bằng điểm số. Ví dụ:
kiểm tra, cho điểm học sinh bằng trắc nghiệm khách quan. Do đó,
“assessment” có khi được dịch là ĐG, có khi là kiểm tra, có khi là kiểm tra
ĐG tùy theo văn cảnh.
Nói chung, việc ĐG trẻ đang ngày càng được xã hội quan tâm một cách
nghiêm túc và sâu sắc. Theo nghiên cứu của một số tác giả theo xu hướng
giáo dục sớm cho trẻ dưới 6 tuổi, coi giai đoạn từ 0 - 6 tuổi là giai đoạn vàng
cho sự phát triển trí não, thể chất và tinh thần cho trẻ nên việc ĐG trẻ ở giai
đoạn này lại càng trở nên cần thiết hơn bất cứ lúc nào. Do đó, việc ĐG trẻ lại
càng được các chuyên gia nghiên cứu nhiều hơn.
1.1.2 Tại Việt Nam
ĐG trong giáo dục nói chung và ĐG trong GDMN nói riêng suốt
những năm qua đã được nhiều tác giả ở Việt Nam quan tâm nghiên cứu.
Tiêu biểu như trong cuốn “ Giáo trình kiểm tra đánh giá trong giáo dục”
của tác giả Nguyễn Công Khanh chủ biên và Đào Thị Oanh – NXB Đại
học sư phạm Hà Nội trình bày cho rằng “ ĐG trong giáo dục làm một quá
trình thu thập, tổng hợp, diễn giải thông tin về đối tượng cần ĐG hiểu biết

gồm nhận thức, thể chất, ngôn ngữ, thẩm mỹ, tình cảm – kĩ năng xã hội. Việc

8


ĐG hiệu quả hình thành BTSL cho trẻ 5-6 tuổi nằm trong lĩnh vực nhận thức.
Tuy nhiên, việc ĐG nội dung đó chưa được chú trọng nhiều và còn hời hợt.
Thêm nữa, việc dạy về BTSL cũng chưa thật sự là dạy trẻ cách tư duy trong
không gian nên năng lực của trẻ về BTSL còn thấp. Do vậy, để góp phần làm
phong phú thêm mặt lí luận và thực tiễn các BPĐG, đặc biệt là ĐG hiệu quả
hình thành BTSL, tôi đã lựa chọn đề tài “ Biện pháp đánh giá hiệu quả hoạt
động hình thành biểu tượng số lượng cho trẻ 5-6 tuổi”.
TH NG TƯ số 23/2010/TT-BGDĐT BAN HÀNH QUY Đ NH V BỘ
CHUẨN PHÁT TRIỂN TRẺ EM NĂM TUỔI. Ở lứa tuổi này, theo chuẩn, trẻ em
phải đáp ứng được 120 chỉ số. Trong đó có một số chỉ số về toán học như sau:
Chuẩn 23: Trẻ có một số hiểu biết về số, số đếm và đo
a) Chỉ số 104. Nhận biết con số phù hợp với số lượng trong phạm vi 10;
b) Chỉ số 105. Tách 10 đối tượng thành 2 nhóm bằng ít nhất 2 cách và so
sánh số lượng của các nhóm;
c) Chỉ số 106. Biết cách đo độ dài và nói kết quả đo.
Theo Công văn số 4242 /SGD&ĐT – GDMN năm 2010 của Sở Giáo
Dục An Giang về việc HD đánh giá trẻ và Thực hiện Chương trình GDMN
quy định về đánh giá trẻ mầm non bao gồm các phương pháp sau:
 Đánh giá hàng ngày
 Đánh giá cuối chủ đề
 Đánh giá cuối độ tuổi
Về phương pháp đánh giá thì theo công văn thì chủ yếu là Quan sát, theo
dõi, trò chuyện, phân tích sản phẩm của trẻ, trao đổi với phụ huynh.
- Sử dụng một số bài tập, tình huống để khảo sát, đánh giá trẻ.
- Trẻ được đánh giá theo các chỉ số của độ tuổi.

sung, hoàn thiện những chủ chương, BP và hành động giáo dục tiếp theo”.

10


- Quan niệm 3: Theo tác giả Trần Thị Tuyết Oanh có cho rằng “ĐG
được hiểu một cách tổng quát là quá trình hình thành những nhận định, những
phán đoán về thực trạng dựa vào sự phân tích thông tin thu được trên cơ sở
đối chiếu với những mục tiêu, tiêu chuẩn đã đề ra, nhằm đề xuất những quyết
định thích hợp để cải thiện thực trạng, điều chỉnh, nâng cao chất lượng và
hiệu quả công việc”. [5, 15]
Trong lĩnh vực giáo dục, ĐG là một bộ phận hợp thành rất quan trọng,
một khâu không thể tách rời của quá trình giáo dục – đào tạo. Nếu coi quá
trình giáo dục – đào tạo là một hệ thống thì ĐG đóng vai trò phản hồi của hệ
thống, có vai trò tích cực trong việc điều chỉnh hệ thống, là cơ sở cho việc đổi
mới giáo dục – đào tạo. Chính vì vậy, ĐG là một trong những vấn đề luôn
được quan tâm.
Có thể diễn tả ĐG trong quá trình giáo dục – đào tạo như sau:
Mục tiêu giáo dục

Quá trình giáo dục – đào tạo

Đánh giá

- Quan niệm 4: Tác giả Phan Lan Anh thì lại cho rằng: “ĐG trong giáo
dục nói chung và ĐG trong GDMN nói riêng là việc điều tra xem xét, xác
định chất lượng của đối tượng được ĐG, trên cơ sở thu thập và xử lí thông tin
một cách có hệ thống về hiện trạng, khả năng hay nguyên nhân của chất
lượng và hiệu quả giáo dục, căn cứ vào mục tiêu giáo dục để đề xuất những
chủ trương, BP và hành động giáo dục tiếp theo”. [10, 4]

bao gồm sự mô tả về định tính hay định lượng những kết quả đạt được và so
sánh với mục tiêu giáo dục đã xác định.
ĐG là một quá trình phản hồi liên tục nhằm cải tiến chương trình và
được mô tả qua sơ đồ về chu trình ĐG dưới đây:

12


Xác định mục
tiêu học tập

Lựa chọn PP,
BP giáo dục
phùhợp

Thiết kế lại
chương trình
để cải thiện
việc học
So sánh kết
quả đạt được
với mục tiêu
dự kiến

Chu trình ĐG học tập
Chu trình ĐG học tập của trẻ diễn ra liên tục trong năm học chứ không
chỉ ĐG kết quả cuối cùng của năm học. Đó là cơ sở để GV có định hướng
giúp đỡ học sinh học tập tốt hơn, khắc phục những gì chưa tốt, những gì đã tốt
sẽ có cơ hội phát triển thêm.
1.2.1.2. Mục đích của ĐG trẻ mầm non

theo. Việc lập kế hoạch chăm sóc và giáo dục của GV phải dựa trên những kết
quả kiểm tra ĐG. GV phải đưa ra những PP, BPĐG phù hợp để làm sao nắm
được những thông tin mình cần thu thập. Những điều mà GV cần quan tâm
trước khi lập kế hoạch cho giai đoạn tiếp theo chẳng hạn như với hình thức,
PP dạy đã sử dụng trẻ có thật sự hiểu bài hay không, tốc độ có quá nhanh hay
quá chậm với trẻ hay không, số lượng, thời gian ôn luyện như vậy có đủ để trẻ
ghi nhớ bài học hay không, trẻ có hứng thú với giờ học hay không, số lượng
trẻ nắm được nội dung bài là bao nhiêu phần lớn hay chỉ một bộ phận nhỏ trẻ

14


trong lớp , độ khả thi khi thực hiện theo kế hoạch như thế nào GV có thật sự
thực hiện được hết những nội dung, ý tưởng nêu ra trong kế hoạch hay chỉ là
đưa ra nhưng không làm được theo kế hoạch ? Sau khi nhận diện, ĐG được
mức độ phù hợp của chương trình chăm sóc và giáo dục đã thực hiện với trẻ,
GV có thể lập kế hoạch chương trình chăm sóc và giáo dục trẻ cho những
giai đoạn tiếp theo.
- Phục vụ công tác nghiên cứu trẻ em. Hiện nay có không ít các công trình
nghiên cứu của các tác giả trong và ngoài nước quan tâm nghiên cứu sự phát
triển của trẻ. Tuy nhiên, chúng ta cũng chưa dám khẳng định là mình đã hiểu
hoàn toàn về trẻ, vẫn có những khúc mắc mà chưa chúng ta chưa thể giải đáp về
đứa trẻ và cũng vẫn còn đấy những chỗ trống trong quá trình phát triển của trẻ
mà chúng ta cần nỗ lực tìm hiểu, nghiên cứu nhiều hơn nữa để điền vào nhằm
mục đích giúp thế hệ trẻ ngày càng tiến bộ, ngày càng phát triển tốt hơn so với
thế hệ đi trước. Do vậy, ĐG còn phục vụ công tác nghiên cứu, ĐG được thực
hiện trên mẫu bao gồm một số lượng trẻ nhằm tìm ra các quy luật phát triển,
chứng minh hay bác bỏ những giả thuyết khoa học về sự phát triển trẻ em, góp
phần tăng cường hiệu quả quá trình chăm sóc và giáo dục trẻ.
1.2.1.3 Các PP thường dùng trong ĐG trẻ mầm non

Trẻ mầm non không thành thạo ngôn ngữ diễn đạt cũng như khả năng
đọc hay viết. Trẻ không thể biểu đạt nổi một cách rõ ràng như người lớn,
không thể hoàn toàn thể hiện được tất cả những gì trẻ biết thông qua ĐG
chính thức và không chính thức. Vì vậy theo các chuyên gia GDMN, cách ĐG
hiệu quả nhất để ĐG trẻ là thông qua chế độ sinh hoạt hằng ngày.
PP quan sát gồm hai hình thức: quan sát theo mẫu và quan sát không
theo mẫu.
+ Đối với quan sát không theo mẫu thì không có một quy trình cụ thể
nào. GV chủ yếu dựa vào nét mặt, cử chỉ, ánh mắt và cách thức thể hiện để lí
giải các hành vi của trẻ. Quan sát hằng ngày đòi hỏi GV nhìn và lắng nghe tất

16


cả những gì diễn ra trong lớp học, trong hoạt động góc, hoạt động vui chơi,
hoạt động học tập có chủ đích của trẻ. Quan sát giúp GV thu được những
thông tin về sự tích cực, sự hứng thú tham gia của trẻ, trong cả câu trả lời của
trẻ, qua phản ứng của trẻ với kết quả của hoạt động,… GV sử dụng giấy và
bút để ghi chép lại những hoạt động của trẻ hằng ngày.
+ Đối với quan sát theo mẫu, điều quan trọng là GV phải lập được phiếu
điều tra trẻ. Sau đây là hai mẫu phiếu mà GV có thể sử dụng để ĐG trẻ cả
trong hoạt động hằng ngày hay trong ĐG định kì.
Lập phiếu quan sát trẻ dựa trên kiểm tra một danh mục các kiến thức,
kĩ năng, thái độ, hành vi (bảng checklist)
Trẻ mẫu giáo phát triển nhanh thông qua các giai đoạn khác nhau. GV
mầm non nên sử dụng phiếu này để ghi lại và ĐG sự phát triển của trẻ. Trong
việc dạy trẻ toán ở trường mầm non việc sử dụng phiếu ĐG cũng giúp GV
nhận ra trẻ có gặp khó khăn trong nhận thức hay không và có sự quan tâm
thích đáng đến trẻ cũng như chọn lựa các BP sử dụng tốt nhất cho trẻ. Ngoài
ra, nó còn giúp GV xem xét liệu việc dạy trẻ có phù hợp với mục tiêu đặt ra

 Xác định loại bảng Rating scale phù hợp với mục đích ĐG trên
 Phân chia tiêu chí cần quan sát theo từ 3 đến 7 mức độ. Việc phân chia
thành bao nhiêu mức độ là dựa vào việc đặc điểm đó bằng quan sát có bao
nhiêu trường hợp khác nhau có thể xảy ra.
GV cần lập kế hoạch quan sát cá nhân và nhóm trẻ thì sẽ dễ dàng hơn
khi quan sát trong hoạt động góc vì hoạt động này diễn ra hằng ngày, lặp lại
nhiều lần, trẻ có nhiều cơ hội trải nghiệm, hoạt động hơn nên GV sẽ có nhiều
điều kiện để quan sát từng cá nhân và nhóm trẻ.
Tuy nhiên PP quan sát cũng có hạn chế là kết quả quan sát phụ thuộc
nhiều vào các yếu tố chủ quan của người quan sát. Nhưng nhìn chung PP
quan sát là PP dễ thực hiện nhất và thông dụng nhất trong ĐG trẻ mầm non.

18



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status