BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI
VŨ NGUYỄN ÁNH HƢƠNG
BIỆN PHÁP RÈN LUYỆN KĨ NĂNG
VẬN ĐỘNG CƠ BẢN CHO TRẺ 3 – 4 TUỔI
THÔNG QUA HOẠT ĐỘNG NGOÀI TRỜI
Chuyên ngành:
Giáo dục mầm non
Mã số:
60140101
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: PGS.TS. ĐẶNG HỒNG PHƢƠNG
HÀ NỘI, NĂM 2017
LỜI CẢM ƠN
Tôi xin chân thành cảm ơn sự hướng dẫn và chỉ bảo tận tình của
PGS.TS. Đặng Hồng Phương trong suốt thời gian hướng dẫn tôi thực hiện
luận văn này.
Xin ghi ơn quý thầy cô khoa Giáo dục mầm non, trường Đại học sư
phạm Hà Nội đã nhiệt tình truyền dạy những kiến thức quý báu, những
phương pháp nghiên cứu và những công cụ hỗ trợ đắc lực cho quá trình làm
HĐNT
Hoạt động ngoài trời
KNVĐCB
Kĩ nặng vận động cơ bản
MN
Mầm non
SL
Số lượng
STN
Sau thực nghiệm
TL
Tỉ lệ
TN
Thực nghiệm
TTN
của hai nhóm ĐC và TN trước TN ............................................... 101
iv
Bảng 4.3. Kĩ năng phối hợp các vận động cơ bản trong HĐNT
của hai nhóm ĐC và TN trước TN ............................................... 103
Bảng 4.4. Thái độ tham gia rèn luyện KNVĐCB thông qua HĐNT
của hai nhóm ĐC và TN trước TN ............................................... 105
Bảng 4.5. Kết quả mức độ thực hiện KNVĐCB của trẻ 3 – 4 tuổi
khi tham gia HĐNT trên hai nhóm ĐC và TN sau TN................. 107
Bảng 4.6. Khả năng nắm được cách thức thực hiện KNVĐCB
trong HĐNT của hai nhóm ĐC và TN sau TN ............................. 109
Bảng 4.7. Kĩ năng phối hợp các vận động cơ bản trong HĐNT
của hai nhóm ĐC và TN sau TN................................................... 110
Bảng 4.8. Thái độ tham gia rèn luyện KNVĐCB thông qua HĐNT
của hai nhóm ĐC và TN sau TN................................................... 112
Bảng 4.9. Kết quả đo trước và sau TN của nhóm ĐC .................................. 114
Bảng 4.10. Kết quả đo trước và sau TN của nhóm TN................................. 116
Bảng 4.11. Kiểm định kết quả TN nhóm ĐC và nhóm TN sau TN ............. 118
Bảng 4.12. Kiểm định kết quả TN nhóm TN trước TN (TTN)
và sau TN (STN) ......................................................................... 118
v
DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 2.1. Nhận thức của GV về mức độ ảnh hưởng của việc
rèn luyện KNVĐCB cho trẻ 3 – 4 tuổi đến các mặt phát triển... 53
Biểu đồ 2.2. Mức độ thực hiện KNVĐCB của trẻ 3 – 4 tuổi ở trường MN ... 62
DANH MỤC CHỮ CÁI VIẾT TẮT ............................................................... iii
DANH MỤC BẢNG ......................................................................................... iv
DANH MỤC BIỂU ĐỒ .................................................................................... vi
DANH MỤC SƠ ĐỒ ........................................................................................ vi
MỤC LỤC ........................................................................................................ vii
MỞ ĐẦU ............................................................................................................ 1
1. Lí do chọn đề tài ................................................................................... 1
2. Mục đích nghiên cứu ............................................................................ 2
3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu ...................................................... 2
4. Giả thuyết khoa học .............................................................................. 2
5. Nhiệm vụ nghiên cứu ............................................................................ 3
6. Phạm vi nghiên cứu .............................................................................. 3
7. Phương pháp nghiên cứu ...................................................................... 3
8. Kế hoạch nghiên cứu ............................................................................ 4
NỘI DUNG......................................................................................................... 5
Chƣơng 1. CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI ................................................... 5
1.1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề ................................................................. 5
1.2. Cơ sở lí luận về kĩ năng vận động ................................................... 11
1.3. Yếu tố ảnh hưởng đến việc rèn luyện KNVĐCB cho trẻ ................ 30
1.4. Một số lí luận về HĐNT ở trường MN ............................................ 35
1.5. Biện pháp rèn luyện KNVĐCB cho trẻ 3 – 4 tuổi
thông qua HĐNT ở trường MN........................................................ 39
Tiểu kết chương 1 .................................................................................. 41
Chƣơng 2. THỰC TRẠNG VIỆC RÈN LUYỆN KĨ NĂNG
VẬN ĐỘNG CƠ BẢN CHO TRẺ 3 – 4 TUỔI
THÔNG QUA HOẠT ĐỘNG NGOÀI TRỜI
Ở TRƢỜNG MẦM NON ............................................................. 42
vii
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Giáo dục mầm non (GDMN) góp phần cùng với sự phát triển của giáo
dục Việt Nam đào tạo ra những con người có năng lực, phát triển toàn diện
không những cả về phẩm chất trí tuệ, phẩm chất đạo đức mà còn có đủ sức
khỏe để sẵn sàng phục vụ đắc lực cho sự nghiệp công nghiệp hóa – hiện đại
hóa đất nước và phát triển kinh tế – xã hội trong tương lai.
Mục tiêu chiến lược về phát triển GDMN của Việt Nam đến năm 2020
đã nhấn mạnh đến chất lượng giáo dục toàn diện: hướng tới việc đặt nền
móng, tiền đề nhân cách con người mới phát triển toàn diện cả về thể chất, trí
tuệ, tình cảm đạo đức – xã hội và thẩm mĩ, chuẩn bị cho trẻ vào lớp một.
Như vậy, giáo dục thể chất (GDTC) là một trong những nhiệm vụ quan
trọng trong chương trình GDMN, nhằm hoàn thiện về mặt hình thể và chức
năng sinh học của cơ thể con người, hình thành và củng cố những kĩ năng, kĩ
xảo vận động, giáo dục các tố chất thể lực. Nội dung GDTC cho trẻ gồm: đội
hình đội ngũ, bài tập phát triển chung, vận động cơ bản và TCVĐ.
Rèn luyện kĩ năng vận động cơ bản (KNVĐCB) cho trẻ MN nói chung
và trẻ mẫu giáo 3 – 4 tuổi nói riêng làm thỏa mãn nhu cầu hoạt động của trẻ,
tăng cường sức khỏe, giúp cơ thể trẻ phát triển một cách cân đối, hài hòa,
hoàn thành khả năng làm việc của hệ thần kinh trung ương, hệ tuần hoàn, hệ
hô hấp, củng cố và phát triển các cơ bắp, góp phần giáo dục cái đẹp khi vận
động và tạo cho trẻ có niềm vui trong hoạt động.
Có nhiều phương tiện để rèn luyện KNVĐCB cho trẻ như rèn luyện
thông qua hoạt động học có chủ đích, hoạt động chơi ở các góc, hoạt động
ngoài trời (HĐNT), hoạt động chiều… Theo tôi, việc rèn luyện KNVĐCB
cho trẻ thông qua HĐNT ở trường MN là một trong các phương tiện phù hợp
1
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu những vấn đề lí luận có liên quan đến đề tài.
- Tìm hiểu thực trạng việc rèn luyện KNVĐCB cho trẻ 3 – 4 tuổi thông
qua HĐNT ở trường MN.
- Đề xuất biện pháp rèn luyện KNVĐCB cho trẻ 3 – 4 tuổi thông qua
HĐNT ở trường MN.
- Tiến hành thực nghiệm (TN) sư phạm các biện pháp đã đề ra.
6. Phạm vi nghiên cứu
- Nghiên cứu nhóm kĩ năng vận động cơ bản: đi, chạy, thăng bằng.
- Nghiên cứu HĐNT ở trường MN: TCVĐ và chơi tự do.
- Đề tài tiến hành nghiên cứu trên 30 GV và 90 trẻ tại một số trường
MN trên địa bàn Thành phố Long Xuyên – Tỉnh An Giang.
7. Phƣơng pháp nghiên cứu
7.1. Phương pháp nghiên cứu lí luận
Phân tích và tổng hợp tài liệu có liên quan đến đề tài nghiên cứu nhằm
xây dựng cơ sở lí luận của đề tài, như: Giáo trình, sách chuyên ngành, tạp chí,
trang web giáo dục…
7.2. Phương pháp điều tra giáo dục
Sử dụng phiếu hỏi GV nhằm tìm hiểu nhận thức của GV về việc rèn
luyện KNVĐCB cho trẻ 3 – 4 tuổi thông qua HĐNT ở trường MN.
7.3. Phương pháp quan sát sư phạm
Quan sát nhằm tìm hiểu những biện pháp tác động của GV và mức độ
thực hiện KNVĐCB của trẻ thông qua HĐNT ở trường MN.
7.4. Phương pháp thực nghiệm sư phạm
Áp dụng một số biện pháp rèn luyện KNVĐCB cho trẻ 3 – 4 tuổi thông
qua HĐNT nhằm chứng minh giả thuyết.
7.5. Phương pháp thống kê toán học
Sử dụng phương pháp thống kê toán học để xử lí, phân tích kết quả
Trẻ em là giai đoạn bình minh của con người. Chăm sóc sức khỏe cho
trẻ là một trong các nội dung không thể thiếu được và còn là một trong những
nhiệm vụ chính của hệ thống giáo dục cho trẻ trước tuổi đi học. Trong đó,
nhiệm vụ giáo dưỡng là rèn luyện KNVĐCB được đặt lên hàng đầu. Từ xưa
đến nay, vấn đề này luôn được sự quan tâm của các nhà khoa học trong nước
cũng như ngoài nước.
1.1.1. Một số nghiên cứu nước ngoài
Con người từ thuở bình minh đã quan tâm đến việc rèn luyện thể chất,
rèn luyện các KNVĐCB. Nhìn tổng quát, có hai nền văn minh: Phương Đông
và Phương Tây.
Cùng phát triển với nền văn hóa, việc rèn luyện thể chất của các nước
Phương Đông có lịch sử hàng mấy nghìn năm. Xuất phát từ triết học Phương
Đông với nền tảng học thuyết Âm – Dương, Ngũ hành, Bát quái, mục tiêu rèn
luyện thể chất là rèn luyện con người toàn diện: thể lực, trí tuệ, khí phách,
v.v… tạo nên sức mạnh tổng hợp. Như Hoa Đà – danh y nổi tiếng của Trung
5
Quốc ở thế kỉ II đã nói: “Vận động giúp khí huyết lưu thông và ngăn ngừa
bệnh tật”. [49]
Phương Tây cổ đại, Hi Lạp cổ chia ra nhiều thành bang như Athens,
Sparta, Thebes… Trong đó thành bang Sparta chú trọng đến rèn luyện thể
chất, chủ yếu rèn luyện KNVĐCB cho trẻ em từ thời thơ ấu bằng con đường
kinh nghiệm. Những trẻ khỏe mạnh, cứng cáp và có khả năng chống đỡ được
các tác nhân của môi trường xung quanh thì để nuôi, trẻ ốm yếu bị thủ tiêu.
Lúc bấy giờ các nhà triết học, các nhà giáo dục chưa hiểu được các quy luật
hoạt động của cơ thể, chưa thể giải thích được cơ chế tác động của các bài tập
rèn luyện KNVĐCB do đó đánh giá hiệu quả của các bài tập theo kết quả bên
ngoài (đúng hơn, thuần thục hơn, kĩ thuật hơn, có nhiều kĩ năng hơn…). Sau
bài tập thể dục tốt là bài tập hình thành các kĩ năng cần thiết trong cuộc sống
như: đi, chạy, nhảy, leo trèo, trườn bò, ném, đấu kiếm… Quá trình tiến hành
theo nguyên tắc chung vừa sức với người tập và đơn giản trong chừng mực có
thể. Các bài tập tiến hành theo trình tự từ dễ đến khó. [38]
Nhà giáo dục học, giải phẫu học, thầy thuốc Piốt Lesghapht (1837 –
1909) có vai trò to lớn trong sự phát triển của khoa học và thực tiễn GDTC.
Ông xuất bản một loạt tác phẩm về sinh học, giải phẫu, GDTC … Trong đó,
quan trọng nhất là tác phẩm: “Giáo dục gia đình và hướng dẫn giáo dưỡng
thể chất cho trẻ ở lứa tuổi đến trường”. Ông cho rằng GDTC là chuẩn bị con
người cho lao động sáng tạo, sao cho có thể sử dụng sức lực, KNVĐCB…
của mình với sự tiêu hao năng lượng ít nhất mà giành được kết quả tốt nhất.
Trẻ em nên rèn luyện kĩ năng tự lĩnh hội các bài tập vận động và các vận
động này được áp dụng trong các điều kiện khác nhau dưới các hình thức
khác nhau. [38]
Theo tác giả L.K. Khai-li-sốp trong cuốn Giáo dục thể dục cho thiếu
nhi trong gia đình, ở vườn trẻ, lớp mẫu giáo coi GDTC là bộ phận không thể
7
tách rời của nền giáo dục, hướng đến rèn luyện cho trẻ các KNVĐCB và khả
năng phối hợp giữa các KNVĐCB với nhau. Ông đặc biệt quan tâm đến việc
rèn luyện thân thể qua chế độ sinh hoạt hàng ngày, “giờ bài tập”, trò chơi,
hoạt động dạo chơi, các yếu tố thiên nhiên vô sinh… một cách có hệ thống.
Các hoạt động đó không chỉ diễn ra ở nhà trường hoặc cơ quan giáo dục nào
khác mà chính các bậc phụ huynh phải hết sức chú ý đến việc rèn luyện các
KNVĐCB cho trẻ. [18]
Maria Montessori (1896 – 1952) bác sĩ, nhà tâm lí giáo dục của nước
Ý. Dựa trên nền tảng của tâm lí học phát triển và lí thuyết học, bà cho rằng trẻ
em là một chủ thể tích cực, chủ động, tự lựa chọn nội dung học tập của mình
một cách độc lập. Hình thức học này gọi là “hoạt động tự do”, “vui chơi tự
Thời kì phong kiến có các trường học, tại đó cùng với các kiến thức về
tôn giáo, trẻ em được học các kiến thức vệ sinh, rèn luyện thân thể. Hoạt động
rèn luyện thể chất đặc biệt là rèn luyện KNVĐCB được tổ chức ở ngoài trời
với không gian rộng rãi dưới hình thức: bài tập rèn luyện thân thể, trò chơi,
trò chơi kết hợp với các bài đồng dao… để phát triển vận động, ý thức thẩm
mĩ, tăng vẻ đẹp và sự hài hòa của động tác… [38]
Trong cuốn “Thể dục và trò chơi vận động” của tác giả Đồng Văn
Triệu, ông đã biên soạn 10 động tác thể dục cho trẻ em. Các bài tập thể dục
này trên cơ sở sinh lí, tâm lí của “lớp vỡ lòng”, với mục đích giúp cơ thể trẻ
phát triển đều đặn, tạo điều kiện chống bệnh tật. Ngoài ra ông còn sưu tầm
những trò chơi dân gian để củng cố và rèn luyện các nhóm cơ bắp mà trẻ mới
được học. Phần lớn các trò chơi này diễn ra ngoài trời, với khoảng không gian
rộng, thoáng, an toàn. [40]
Tác giả Lương Kim Chung và Đào Duy Thư trong cuốn “Vun trồng thể
lực cho đàn em nhỏ” đã đề cập đến phương pháp tổ chức các bài tập thể dục,
trò chơi và HĐNT dựa trên những đặc điểm về sinh lí học, tâm lí học của các
9
em mẫu giáo. Trong đó ông xem HĐNT như là một phương tiện để giáo dục
KNVĐCB cho trẻ, thế nên không nhất thiết phải gò trẻ vào kĩ thuật vận động
chính xác mà cần thiết là trẻ được vận động cơ bản nhiều và vận động một
cách tự nhiên trong môi trường thiên nhiên. [11]
Trong cuốn “Tư tưởng Hồ Chí Minh về thể dục thể thao” của tác giả
Trương Quốc Yên đã cho chúng ta thấy quan điểm của Hồ Chí Minh – Nhà văn
hóa kiệt xuất của Việt Nam và thế giới về vấn đề rèn luyện thể chất trong nhà
trường và ngoài xã hội. Chủ tịch Hồ Chí Minh coi giáo dục và rèn luyện thể chất
là một mặt cần thiết, quan trọng như các mặt giáo dục khác. Người khẳng định
nó đem lại cho tuổi trẻ sức khỏe, mà sức khỏe là cái quý nhất của con người.
Cho nên phải rèn luyện sức khỏe ngay từ lứa tuổi nhỏ và những kĩ thuật động tác
* Khái niệm: Khái niệm vận động được quan tâm và nghiên cứu dưới
nhiều khía cạnh khác nhau:
Trong triết học, Ph. Ăngghen viết: “Vận động, hiểu theo nghĩa chung
nhất, tức được hiểu là một phương thức tồn tại của vật chất, là thuộc tính cố
hữu của vật chất, thì bao gồm tất cả mọi sự thay đổi và mọi quá trình diễn ra
trong vũ trụ, kể từ sự thay đổi vị trí đơn giản cho đến tư duy”. Có rất nhiều
hình thức vận động của thể chất (vận động cơ học, vật lí, hóa học, sinh học, xã
hội), trong đó hình thức vận động phức tạp nhất của vật chất, đó là vận động
của sinh vật, cụ thể là vận động của động vật cao cấp – con người. [28], [37]
Xét ở góc độ sinh lí học, việc nắm vững các chi tiết vận động được xác
định bởi sự hình thành hệ thống mới của sự hoạt động não cho nên ta có thể
nói rằng vận động chính là quá trình hoạt động của hệ thần kinh cao cấp. [29]
Trong tâm lí học, vận động là hoạt động có ý thức của con người, là sự
chuyển hóa lẫn nhau để tạo ra cái mới [43]. Vận động thúc đẩy sự phát triển tâm
lí. Ví dụ như sự phát triển vận động của bàn tay, ngón tay cho phép trẻ hoạt động
11
một cách đa dạng với đồ vật, hay việc biết đi giúp trẻ mở rộng phạm vi tiếp xúc
với môi trường xung quanh… nhờ đó mà tâm lí của trẻ phát triển. [8]
Ở góc độ giáo dục học, vận động có trong mọi hoạt động của con
người, nó có tác động tốt lên cơ thể nếu đúng tư thế và vừa sức. Vận động là
sự tác động tích cực của các giác quan vận động của con người, phương tiện
cơ bản, đặc biệt của quá trình GDTC. Chúng ta GDTC cho trẻ chủ yếu là
thông qua hoạt động tự vận động của trẻ. [29], [38]
Theo Từ điển Tiếng Việt của Nguyễn Lân thì vận động được hiểu là sự
thay đổi chỗ hay tư thế của toàn bộ hay một phần thân thể. Vận động là điều
kiện giữ gìn sức khỏe. [19]
Vậy, có thể nói: Từ khi trẻ mới sinh ra, trẻ luôn thích hoạt động, vận
định được phối hợp và chính xác của vận động, hình thành định hình động
lực. Toàn bộ các phản xạ có điều kiện được phát triển theo thứ tự nhất định và
có sự phối hợp cân bằng của các cơ quan bên trong. Trong chừng mực nào đó
việc thực hiện động tác đã có độ chính xác cao hơn ở giai đoạn thứ nhất.
Giai đoạn 3: Hình thành một hệ thống liên hệ tạm thời phức tạp có tính
chất củng cố định hình động lực và ổn định được thói quen vận động. Quá
trình thực hiện động tác không còn bị gò bó, tiết kiệm được sức lực, tính nhịp
điệu của động tác được thể hiện, trẻ tin tưởng vào hoạt động vận động của
mình và có thể thực hiện được những biến dạng động tác theo những điều
kiện thực tiễn (trò chơi và cuộc sống).
1.2.2. Vận động cơ bản
* Khái niệm: Vận động cơ bản là những vận động cần thiết đối với con
người trong cuộc sống và được sử dụng trong hoạt động, hoàn cảnh khác
nhau như: đi, chạy, nhảy, bài tập thăng bằng…, khắc phục khó khăn: nhảy
qua rãnh nước, trèo lên cây… Khi vận động nó thu hút một số lớn cơ bắp làm
việc. [26], [39]
13
* Khái niệm bài tập vận động cơ bản: Bài tập vận động cơ bản là một loạt
bài tập thể chất, bao gồm hệ thống các hành động vận động được chọn lọc từ các
vận động cơ bản, tác động lên các nhóm cơ bắp lớn của cơ thể nhằm giải quyết
nhiệm vụ giáo dưỡng và giáo dục trong quá trình GDTC cho trẻ. [26]
* Ý nghĩa:
Khi thực hiện bài tập vận động cơ bản sẽ thu hút đa số các nhóm cơ bắp
hoạt động, đẩy mạnh quá trình hoạt động sinh lí và nâng cao hoạt động sống
của toàn bộ cơ thể. Như vậy qua luyện tập bài tập vận động cơ bản giúp hoàn
thiện khả năng làm việc của hệ thần kinh trung ương, hệ tuần hoàn, hệ hô hấp,
củng cố và phát triển cơ bắp, rèn luyện, hình thành các tư thế đúng… Nó có
tác dụng tốt tới sức khỏe và phát triển thể lực, tạo điều kiện phát triển các tố
trên là có sự di chuyển cơ thể hoặc một bộ phận của cơ thể trong không gian.
Dựa vào tố chất thể lực, người ta chia bài tập vận động cơ bản thành
các loại:
- Bài tập sức nhanh: đi, chạy…
- Bài tập sức mạnh: nhảy, ném…
- Bài tập sự khéo léo: cảm giác thăng bằng…
- Bài tập sức bền: đi chậm, chạy chậm.
Dựa vào cấu trúc, đặc điểm cấu tạo động tác và tính chu kì người ta
phân chia thành 2 loại bài tập:
- Bài tập vận động cơ bản có chu kì: là những vận động khi thực hiện
chúng, toàn bộ cơ thể và một bộ phận nào đó của cơ thể không ngừng lặp lại
vị trí ban đầu như đi, chạy, bò, trườn.
- Bài tập vận động cơ bản không có chu kì: là những vận động khi thực
hiện chúng không có sự lặp lại các động tác của người tập như ném, nhảy…
Trong một số bài tập vận động cơ bản, các động tác không có chu kì
xảy ra sau động tác có chu kì. Ví dụ: chạy đà để nhảy.
15
Dựa vào tính chu kì, tố chất thể lực, đặc điểm của bài tập vận động cơ
bản… người ta chia vận động cơ bản thành 4 nhóm: [26], [27]
- Nhóm 1: Đi, chạy, thăng bằng.
- Nhóm 2: Nhảy, bật xa, bật sâu…
- Nhóm 3: Ném (xa, trúng đích…), chuyền, bắt.
- Nhóm 4: Bò, trườn, trèo…
Nội dung của các bài tập vận động cơ bản của trẻ mẫu giáo 3 – 4 tuổi ở
các trường MN hiện nay đó là hình thành, củng cố và phát triển các vận động:
đi, chạy, thăng bằng; bật, nhảy; ném, chuyền, bắt; bò, trườn, trèo. Trong
khuôn khổ luận văn, tôi chỉ quan tâm đến việc rèn luyện “vận động đi”, “vận
động chạy”, “cảm giác thăng bằng” cho trẻ mẫu giáo 3 – 4 tuổi.
có sự khác biệt rõ rệt. Ở động vật, đường liên hệ thần kinh tạm thời được hình
thành chỉ bằng những kích thích có điều kiện, không điều kiện và lặp lại những
kích thích đó. Ở người, KNVĐCB có đặc điểm khác với phản xạ có điều kiện là
trong KNVĐCB có sự tác động của hệ thống tín hiệu thứ nhất và thứ hai. Vì
vậy, sự hình thành KNVĐCB phức tạp hơn nhiều so với việc hình thành phản xạ
có điều kiện ở động vật. Thí dụ: Phản xạ tiết nước bọt ở chó nhờ ánh đèn, chỉ
cần nhắc lại các kích thích từ 5 – 7 lần thì phản xạ đó được hình thành và bền
vững. Nhưng quá trình hình thành KNVĐCB phải được củng cố bằng những
kích thích có điều kiện thông qua quá trình luyện tập thường xuyên. Như vậy
điều kiện căn bản để hình thành kĩ năng là phải củng cố đường liên hệ thần kinh
tạm thời, tạo ra khả năng hưng phấn của hệ thần kinh.
KNVĐCB được xây dựng dựa trên sự tác động của cả hệ thống tín hiệu
thứ nhất và thứ hai. Việc xây dựng kĩ năng vận động có thể được tiến hành
thông qua phương pháp làm mẫu (thị phạm) và giảng giải. Như vậy
KNVĐCB là những hình thái phản xạ học được trong cuộc sống, trong quá
trình tập luyện theo cơ chế đường liên hệ thần kinh tạm thời. [8]
17