Trờng đại học vinh
Khoa giáo dục tiểu học
-----------------
một số biện pháp giáo dục thói quen văn
hoá
vệ sinh cho trẻ 3-4 tuổi trờng mầm non
Khoá luận tốt nghiệp đại học
Ngành giáo dục mầm non
Giáo viên hớng dẫn: ThS. Nguyễn
Thị Quỳnh
Anh
Sinh viên thực hiện: Nguyễn
Sinh viên lớp:
46a2
1
Thị Bé
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành khoá luận tốt nghiệp này, chúng tôi đã nhận được rất nhiều
ý kiến đóng góp và sự quan tâm giúp đỡ của ban chủ nhiệm khoa, các thầy cô
giáo trong khoa GDTH, cùng với các cô giáo và các cháu trường Mầm non Hoa
Hồng, trường Mầm non Bình Minh, trường Mầm non Hưng Dũng 1.
3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu…………………………...
3
4. Phạm vi nghiên cứu…………………………………………...
3
5. Giả thiết khoa học…………………………………………….
3
6. Nhiệm vụ nghiên cứu…………………………………………
3
7. Phương pháp nghiên cứu……………………………………...
3
8. Đóng góp mới của đề tài………………………………………
4
9. Cấu trúc luận văn……………………………………………...
4
Ch¬ng 1. CƠ
1.2.2. Mối quan hệ qua lại giữa kĩ năng, kĩ xảo và thói quen……….
14
1.2.3. Thói quen văn hoá vệ sinh của trẻ mầm non………………….
18
1.2.3.1. Vai trò của việc giáo dục TQVHVS cho trẻ 3-4 tuổi ở trường
mầm non………………………………………………………
1.2.3.2. Nhiệm vụ giáo dục TQVHVS cho trẻ mầm non………………
1.2.3.3. Nội dung giáo dục TQVHVS cho trẻ mầm non nói chung và
cho trẻ 3-4 tuổi nói riêng…………………………………..
1.2.4. Những đặc điểm cơ bản của trẻ 3-4 tuổi………………………
1.2.4.1. Đặc điểm tâm sinh lý của trẻ mầm non nói chung và trẻ 3 - 4
tuổi nói riêng trong việc hình thành TQVHVS ………………
18
20
22
24
24
1.2.4.2. Đặc điểm hình thành kĩ năng, kĩ xảo và TQVHVS cho trẻ 3-4 tuổi
25
Kết luận chương 1…………………………………………….
27
Chng 3
XUT MT S BIN PHP GIO DC TQVHVS CHO TR
3-4 TUI TRNG MM NON
3.1.
xut bin phỏp
3.1.1. Trũ chuyn ch dn cho tr v cỏc hnh ng v sinh. To
iu kin cho tr thng xuyờn c t mỡnh hot ng..
28
28
28
31
36
40
41
41
42
3.1.2. S dng trũ chi, chi...
43
3.1.3. Thng xuyờn c th, k chuyn cho tr nghe
45
59
Kết luận và kiến nghị s phạm
60
Kết luận..
Kiến nghị
60
Tài
liệu
khảo.
Phần phụ lục
4
tham
61
63
5
trưởng thành rõ nét về tất cả các mặt và là giai đoạn học làm người đầu tiên của
trẻ. Đây cũng chính là thời điểm thuận lợi và có ý nghĩa nhất để có thể giáo dục
cho trẻ những thói quen vệ sinh có văn hoá, phát huy được tính tích cực độc lập
của trẻ trong mọi hoạt động. Giai đoạn này sự phát triển của các cơ quan trong
cơ thể còn non nớt, việc thực hiện các kĩ năng cũng như trung tâm điều khiển
vận động còn kém, vì thế những hành vi vệ sinh phải được lặp đi lặp lại một
cách có hệ thống. Giai đoạn này nếu chúng ta không hình thành các thói quen
vệ sinh - thói quen tự phục vụ cho trẻ thì giai đoạn sau sẽ rất khó hình thành và
nếu hình thành sai lệch, không có hệ thống thì sau này rất khó sửa chữa. Đúng
7
như nhà giáo dục Xô viết. A.X.Macarenco thÕ kû XX khẳng định: “Những gì
mà trẻ không có được trước 5 tuổi thì sau này rất khó hình thành và sự hình
thành nhân cách ban đầu bị lệch lạc thì sau này giáo dục lại rất khó khăn”.
Giáo dục TQVHVS cũng chính là một phần của giáo dục tính tự lập cho
trẻ. Một đứa trẻ tự lập trong các hành vi vệ sinh đồng thời là đứa trẻ khoẻ
mạnh, tích cực có ý thức cao trong mọi hoạt động.
Giữ gìn vệ sinh cho trẻ phải đi đôi với việc giáo dục TQVHVS. Đây là
nhiệm vụ quan trọng tuy nhiên rất khó khăn vất vả đòi hỏi nhà giáo dục phải có
tri thức, có tình yêu nghề và đặc biệt là lòng yêu trẻ. Bởi vậy sinh thời Bác Hồ
thường nhắc nhở “phải giữ gìn vệ sinh cho các cháu, các cô phải học hành tốt
nuôi dạy các cháu ngoan và khoẻ”.
Vấn đề giáo dục ý thức VHVS mang ý nghĩa to lớn. Nhưng chúng ta đã
thực hiện tốt vấn đề này chưa? Các trường mầm non đã thực hiện ở mức độ
nào? Trong thực tế hầu hết mọi người đã ý thức được vai trò của việc giáo dục
TQVHVS trong việc phát triển nhân cách cho trẻ. Tuy nhiên, hiệu quả của việc
tổ chức các hoạt động giáo dục TQVHVS chưa cao, chưa phát huy được vai trò
trọng tâm của trẻ. Việc sử dụng các biện pháp giáo dục chưa linh hoạt, giáo
6. Nhim v nghiờn cu
6.1. Nghiờn cu c s lý lun
6.2. Tỡm hiu thc trng s dng cỏc bin phỏp giỏo dc TQVHVS cho tr
3 - 4 tui trng Mm non
6.3. xut mt s bin phỏp giỏo dc TQVHVS cho tr 3 - 4 tui
7. Phng phỏp nghiờn cu
7.1. Nghiờn cu lý thuyt: Đc, nghiờn cu cỏc ti liu trong v ngoi
nc liờn quan n ti
7.2. Phng phỏp nghiờn cu thc tin
+ Phng phỏp m thoi: Phng vn giáo viên ở trờng Mầm non thu
thp thờm thụng tin v nhn thc ca họ trong vic giỏo dc TQVHVS cho tr
trng v thu thp thụng tin t b m ca cỏc chỏu.
+ Phng phỏp trc quan: Quan sỏt cụng vic ca giỏo viờn trong quỏ
trỡnh t chc hot ng v sinh cho tr v quan sỏt tr trong cỏc hot ng t
phc v.
9
+ Phương pháp điều tra: Đây là phương pháp chủ yếu, mục đích tìm
hiểu thực trạng giáo dục TQVHVS cho trẻ của giáo viên và mức độ phát triển
tính tự lập của trẻ trong các hành vi VHVS.
+ Phương pháp thống kê toán học: Dùng để xử lý số liệu, kết quả thu
được và kiểm tra độ tin cậy của các số liệu.
8. Đóng góp mới của đề tài
Xây dựng một số biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục TQVHVS
cho trẻ 3 - 4 tuổi ở trường Mầm non
9. Cấu trúc khoá luận
Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, kiến nghị, danh mục tài liệu tham
khảo, khoá luận gồm 3 chương:
được giáo dục từ lứa tuổi nhỏ nhất, đi từ việc hình thành kĩ năng VHVS, dần
dần hình thành kĩ xảo, thói quen cho trẻ. Bà đã nêu ra các điều kiện để hình
thành TQVHVS cho trẻ là phải có các dụng cụ vệ sinh, bố trí ở các vị trí nhất
định thuận lợi cho trẻ dễ sử dụng cũng như thu dọn. Bà yêu cầu phải dạy trẻ tỉ
mỉ cách tiến hành các hành động vệ sinh, khi dạy trẻ cần sử dụng các biện pháp
phù hợp với chúng.
1()
Những cơ sở lý luận về vệ sinh trẻ em - Xuất bản năm 1971.
11
Bà cho rằng chỉ trong điều kiện trẻ ý thức được tầm quan trọng của việc
thực hiện các hành động vệ sinh và sự kết hợp chặt chẽ giữa gia đình và nhà
trường thì giáo dục vệ sinh mới đem lại hiệu quả.
G.Liamivna(2) đã đề cập đến việc hình thành TQVHVS cho trẻ. Bà cho
rằng do đặc điểm hệ thần kinh của trẻ đang ở giai đoạn mềm dẻo nhất, trong khi
đó các hành động có liên quan đến quá trình: ăn, mặc, ngủ, vệ sinh cá nhân
được lặp đi lặp lại hàng ngày một cách có hệ thống và liên tục, đã tạo điều kiện
cho các TQVHVS hầu như được hình thành ở lứa tuổi nhỏ. Việc hình thành
TQVHVS được thực hiện dưới tác động trực tiếp của người lớn và hoàn cảnh
xung quanh. Tính bền vững và dẻo dai của các thói quen phụ thuộc hàng loạt
các yếu tố như: điều kiện, thời gian bắt đầu một kĩ năng mới, ý thức của trẻ khi
thực hiện… Bà kêu gọi các trường Mẫu giáo phải quan tâm đến việc hình thành
các thói quen mới, khi mà chính trong bản thân đứa trẻ xuất hiện những nhiệm
vụ mới. Người lớn cần dạy trẻ không chỉ thực hiện những gì chúng thích mà
phải làm những gì cần thiết với trẻ. Bà đã đưa ra các điều kiện hình thành
TQVHVS cho trẻ và xây dựng các điều kiện để hình thành thói quen như sau:
+ Lựa chọn các dụng cụ vệ sinh phù hợp, xếp ở vị trí thuận lợi dễ sử dụng.
tính chất mô tả trẻ làm trong sinh hoạt hàng ngày còn vấn đề bản chất, những
yêu cầu về tri thức, điều kiện và sự hình thành các TQVHVS cho trẻ chưa được
lưu tâm ở mức độ cần thiết.
- Các tác giả Đào Mai Hương và Nguyễn Lệ Quyên đã nghiên cứu đề tài
này nhưng trên đối tượng là Mẫu giáo nhỡ và lớn.
Theo quan điểm của các nhà Giáo dục học Xô Viết thì việc hình thành các
thói quen cho trẻ có thể bắt đầu từ tuổi Mẫu giáo bé. Bởi vì các thói quen văn
hoá là những hoạt động có liên quan đến các quá trình sinh hoạt hàng ngày (ăn,
ngủ, vệ sinh cá nhân…) được lặp đi lặp lại một cách rõ ràng có hệ thống, liên
tục sẽ dễ dàng được hình thành ở lứa tuổi nhỏ. Tuy nhiên, đây không phải là
nhiệm vụ đơn giản mà rất phức tạp. Vì vậy, vấn đề giáo dục VHVS cho trẻ Mẫu
giáo bé được thừa nhận rằng rất phức tạp và mới mẻ, cần được quan tâm và
nghiên cứu một cách nghiêm túc.
13
- Tác giả Mai Ngọc Liên (1999) nghiên cứu “một số biện pháp giáo dục
tính độc lập cho trẻ 24 - 36 tháng tuổi qua hoạt động tự phục vụ”
- Chương trình chăm sóc giáo dục Mầm non của Bộ giáo dục và Đào tạo.
Ngoài ra, còn có một số công trình nghiên cứu khác cũng có đề cập đến
vấn đề giáo dục thói quen hành vi có văn hoá. Tuy nhiên, các công trình khai
thác ở các khía cạnh khác nhau trên khách thể học sinh, sinh viên, người lớn
tuổi. Còn trẻ lứa tuổi nhà trẻ, Mẫu giáo, chưa có nhiều công trình nghiên cứu
nhất là trong vấn đề giáo dục TQVHVS. Chính vì vậy, vấn đề này cần được
nghiên cứu tìm ra biện pháp hữu hiệu để giáo dục TQVHVS cho trẻ trong quá
trình tổ chức chế độ sinh hoạt, trò chơi hay trong hoạt động học tập, lao động…
Chúng tôi cho rằng đó là việc làm rất cần thiết để giáo dục TQVHVS cho trẻ
nhằm bảo vệ sức khoẻ, hình thành nếp sống VHVS, góp phần nâng cao chất
lượng giáo dục trẻ ở trường Mầm non, từ đó cùng với gia đình, xã hội hình
được hình thành trong quá trình vận dụng những tri thức hiểu biết vào thực tiễn
và được luyện tập dần dần để trở thành kĩ xảo và ngày càng hoàn thiện.
N.D.Levitov phân tích cơ sở lí luận của kĩ năng là do trên bộ não hình
thành sự kết hợp phức tạp giữa 2 loại liên hệ: liên hệ thứ nhất là liên hệ của hệ
thống tín hiệu thứ 2 mang tính chất trừu tượng và khái quát. Đó là sự tiếp thu
những lời hướng dẫn khi hình thành kĩ năng. Liên hệ thứ 2 là mối liên hệ giữa
các hệ thống nhằm chuyển lời hướng dẫn sang sự định hướng cách nhìn và
thực hiện động tác, hay căn cứ vào lời hướng dẫn để kiểm tra động tác đã được
thực hiện. Trình độ kĩ năng đạt được phụ thuộc vào độ nhanh, chính xác và có
hệ thống trong việc hình thành hai loại liên hệ ấy. Còn việc hình thành kĩ năng
là quá trình tổ chức các mối liên hệ ấy một cách có kết quả. Con đường hình
thành kĩ năng thường là bắt chước kĩ năng mẫu, bắt chước các hành động nổi
bật bằng quá trình làm thử và luyện tập, và bao giờ cũng gắn bó với thực tiễn.
Theo quan điểm của nhà TLH Xô Viết X.I.Kixengov (4): Kĩ năng là khả
năng thực hiện có hiệu quả hệ thống và các hành động phù hợp với mục đích và
điều kiện thực hiện hệ thống này.
Ông khẳng định kĩ năng có đặc điểm là nó được hình thành không có
những luyện tập đặc biệt để thực hiện hành động bởi sự thể hiện các kĩ năng
bao giờ cũng diễn ra của những kinh nghiệm truớc đây và những tri thức nhất
định về các hành động là không thể thiếu.
4()
“Hình thánh các kỹ năng - kỹ xảo cho sinh viên trong điều kiện nền giáo dục đại học” .
15
Kĩ năng lao động chung được X.I.Kixengov và E.A.Mirerian cùng một số
nhà Tâm lí học Liên Xô (cũ) cho rằng nó được hình thành trong quá trình hoạt
động có tổ chức đặc biệt. Những hoạt động như vậy đưa đến giá trị toàn vẹn
bằng hoạt động thực tiễn. Ta thấy trong quan điểm của N.D.Levitov, “yếu tố
thực tiễn giữ vai trò quyết định về mọi mặt của vấn đề kĩ năng và kĩ xảo”.
Theo quan điểm của X.I.Kixengov “kĩ xảo là biện pháp được đặc trưng ở
trình độ thành thạo trong đó có yếu tố tự động hoá ”.
Mức độ tự động hoá của kĩ xảo thể hiện ở sự kiểm tra của ý thức được thu
gọn lại. Như vậy, không phải là mọi khâu của hành động đều được tự động hoá,
mà chỉ những khâu nào phù hợp với điều kiện tương đối thường xuyên của hoạt
động mới được tự động hoá, còn các thành phần biến thiên (do có sự thay đổi
của các điều kiện) bao giờ cũng đặt dưới sự kiểm tra được triển khai của ý thức.
X.L.Kixengov cho rằng đặc trưng của kĩ xảo ở tính bền vững to lớn của các
phương thức hành động được lĩnh hội và được tự động hoá bằng cách rèn
luyện. Nét này là cố hữu đối với nhiều kĩ xảo của con người (dáng đi, cách nói
chuyện…) ngoài tính bền vững ra kĩ xảo còn được đặc trưng ở tính mềm dẻo,
tức là ở sự thay đổi (tất nhiên trong những giới hạn nhất định) về phương thức
của các hành động khi các điều kiện thực hiện chúng thay đổi. Bởi vậy, nên
“khi tạo ra các kĩ xảo hoặc vận dụng kĩ xảo mà các điều kiện này càng đa dạng
thì kĩ xảo càng trở nên mềm dẻo hơn” và ngược lại tính đơn điệu của các điều
kiện sẽ tạo nên tính đơn điệu cho các kĩ xảo. Sự hình thành kĩ xảo được diễn ra
bằng quá trình tiếp thu các phương thức thực hiện hành động, ở giai đoạn đầu
của việc hình thành kĩ xảo người học được giới thiệu cho biết về hành động cần
phải tiếp thu đã được thực hiện như thế nào? Sự hiểu biết này rất cần thiết cho
sự hình thành kĩ xảo, dẫu rằng chúng chưa được thực hiện toàn vẹn bằng hành
động và sau đó là vai trò của người làm công tác giáo dục trong việc hướng
dẫn, giảng giải những hiểu biết về phương thức hành động.
Có hai con đường để hình thành kĩ xảo: Con đường thứ nhất là thông qua
hệ thống các bài tập được tổ chức đặc biệt, có mục đích luyện tập riêng lẻ. Con
đường thứ hai là đưa nhiều lần các hành động đã được lĩnh hội vào các bài tập
có tính chất chung hơn.
vững nếu không thường xuyên luyện tập củng cố.
6()
7()
“Những vấn đề của sự phát triển tâm lý” – 1972.
“Tâm lí dạy học lao động” - NXBGD Hà Nội 1972.
18
Nhìn chung, kĩ xảo có rất nhiều khái niệm của nhiều quan điểm khác nhau.
Nhưng nói chung các tác giả cho rằng kĩ xảo được hình thành từ kĩ năng, kĩ
năng đạt mức độ cao hơn, thành thạo các hành động thông qua các bài tập được
tổ chức có mục đích mang tính chất chung. Kĩ xảo hình thành trong việc thực
hiện hành động “Thao tác có ý thức - kĩ xảo”. Để đạt được mục đích nào đó với
điều kiện càng đa dạng thì kĩ xảo càng mềm dẻo hơn.
1.2.1.3. Khái niệm thói quen(8)
Thói quen thường chỉ những hành vi của cá nhân được diễn ra trong những
điều kiện ổn định trong không gian và quan hệ xã hội rất cụ thể. Thói quen có
nội dung tâm ký nhất định, thường gắn với nhu cầu của cá nhân, và gần như trở
thành phản xạ có điều kiện. Khi đã trở thành thói quen mọi hoạt động tâm sinh
lý trở thành cố định, cân bằng và khi phá vỡ sự cân bằng đó tức là sự phá vỡ
thói quen, sẽ là một quá trình rất khó thực hiện. Sở dĩ như vậy bởi vì thói quen
là loại hành động tự động hoá trở thành nhu cầu của con người và đòi hỏi được
thực hiện theo một cách nhất định. Ở mỗi cá nhân đều có những thói quen nhất
định được tạo thành trong quá trình sống của chủ thể. Thói quen tuân thủ chặt
chẽ chế độ sinh hoạt hàng ngày: thói quen ngăn nắp sau khi sử dụng đồ dùng,
thói quen niềm nở với mọi người…
Một phẩm chất nhân cách được hình thành, phát triển trong những điều
kiện ổn định trên nền tảng thói quen. Để tạo những phẩm chất trung thực,
kĩ năng được hình thành hoàn toàn dựa trên cơ sở các thao tác tự động hoá, mà
nền tảng của nó phải là các “Thao tác có ý thức - kĩ xảo”. Việc hoàn thiện kĩ
năng xảy ra không chỉ tuỳ thuộc vào mức độ tiếp thu các kĩ xảo và việc sử dụng
những kinh nghiệm hiểu biết, mà còn tuỳ thuộc vào tiếp thu các kĩ xảo và việc
sử dụng những kinh nghiệm khác nữa. X.I.Kixengov khẳng định kĩ năng không
phải là tổ hợp máy móc các kĩ xảo mà là một tổ hợp của vốn hiểu biết, vốn kinh
nghiệm và khả năng sáng tạo của cá nhân. Việc hoàn thiện kĩ năng mới còn có
sự tồn tại của các thành phần tự động hoá, tức là các kĩ xảo hoạt động.
Theo quan điểm của V.V.Tsebaseva, kĩ xảo và kĩ năng có những đặc điểm
giống và khác nhau nhưng sự khác biệt ấy thường không mâu thuẫn nhau mà
lại bổ sung cho nhau. Những đặc điểm đó biểu hiện ở chỗ.
+ Nội dung các kĩ năng kĩ xảo là những quá trình tâm lí.
+ Các điều kiện hình thành kĩ năng, kĩ xảo và đặc biệt là vai trò của việc
luyện tập ở các giai đoạn khác nhau.
20
+ Trình độ phát triển của kĩ xảo, chất lượng thực hiện những hành động
đã thông thuộc.
+ Vai trò của tri thức trong quá trình lĩnh hội và vận dụng kĩ năng, kĩ xảo.
+ Cơ cấu tâm lí của kĩ năng, kĩ xảo. Vai trò của ý thức và tính chất của
các quá trình tư duy trong công việc hình thành và vận dụng các kĩ năng, kĩ
xảo.
+ Các chức năng khác nhau của kĩ năng, kĩ xảo trong hoạt động.
Như vậy, kĩ năng và kĩ xảo có mối liên hệ biện chứng với nhau, và theo
một trật tự nhất định. Những kĩ năng phức tạp dần trở thành kĩ xảo và ở mức độ
cao hơn, kĩ xảo trở thành thói quen.
1.2.2.2. Mối quan hệ giữa kĩ xảo và thói quen
Thói quen cũng như kĩ xảo đều là những hành động tự động hóa, đó là
dẹp sạch sẽ nơi làm việc sau khi kết thúc công việc, thói quen niềm nở với mọi
người…Tuy những thói quen đều hình thành từ hành động tự động hoá, nhưng
kĩ xảo có nhiều điểm khác với thói quen: Kĩ xảo mang tính chất kĩ thuật thuần
tuý, còn thói quen mang nhu cầu nếp sống của con người. Con đường hình
thành chủ yếu của kĩ xảo là sự luyện tập có mục đích và hệ thống, còn thói
quen được hình thành bằng nhiều con đường tự phát. Kĩ xảo không gắn với một
tình huống nhất định nào cả còn thói quen bao giờ cũng gắn với một tình huống
nhất định. Thói quen có tính chất bền vững hơn kĩ xảo, nó bắt rễ vào hành vi
của con người sâu hơn so với kĩ xảo. Cho nên việc thay đổi sửa chữa thói quen
khó hơn kĩ xảo. Thói quen được đánh giá về mặt đạo đức: có thói quen tốt, thói
quen xấu, thói quen có lợi, thói quen có hại. Còn kĩ xảo thì không đánh giá về mặt
đạo đức mà về mặt kĩ thuật thao tác: có kĩ xảo mới, tiến bộ, có kĩ xảo cũ lỗi thời.
Thực tiễn cho thấy có những hành động vừa là thói quen đồng thời là kĩ
xảo, nhưng không phải bao giờ cũng có sự trùng hợp đó. Trong giáo dục cần
phải làm cho những hành động trong học tập, lao động, rèn luyện thể lực, sinh
hoạt vừa là kĩ xảo vừa là thói quen.
Nhà giáo dục học Xô Viết A.X.Macarenco(9) đã viết “giáo dục đạo đức mà
không hình thành thói quen thì cũng giống như một toà lâu đài xây trên bãi cát”.
9()
Ph¹m Minh H¹c, T©m lý häc, Nxb Gi¸o dôc, 1992.
22
Như vậy, qua quá trình phân tích và tổng hợp nhiều ý kiến, nhiều quan
điểm của các tác giả khác nhau. Chúng tôi đi đến một sự thống nhất chung
trong cách nhìn nhận về vấn đề kĩ năng - kĩ xảo - thói quen như sau:
- Thứ nhất về vấn đề kĩ năng: kĩ năng được hiểu là khả năng thực hiện có
ngay từ nhỏ, sẽ có sự xa lạ trong nhận thức và hành vi của trẻ về những khái niệm,
hành vi kỷ luật tổ chức, trật tự kỷ cương pháp luật. Xây dựng thói quen cần thiết
có các điều kiện nhất định về không gian, nội dung hoạt động, song phải đảm bảo
tính tự nguyện, tránh áp đặt, cưỡng bức. Thói quen tốt chính là nền tảng cho mọi
phẩm chất nhân cách hình thành, phát triển một cách ổn định nhất.
1. 2.2.3 Con đường hình thành thói quen
Thói quen được hình thành từ kÜ năng - kÜ xảo. Tức con đường hình thành
thói quen phải đi qua những giai đoạn nhất định của nó mà ở đó kĩ năng giữ vị
trí ban đầu. Bắt đầu từ sự bắt chước kĩ năng mẫu, bắt chước các hành động nổi
bật trong tiến trình hoạt động thực tiễn có sự luyện tập một cách có ý thức, kĩ
năng được củng cố, hoàn thiện và tự động hóa dần dần trở thành kĩ xảo. Mức
độ cao hơn của kĩ xảo là thói quen.
Vậy TQVHVS: Là những hành vi vệ sinh có văn hoá, được thực hiện một
cách tự động hoá như một nhu cầu trở thành ý thức nó ăn sâu vào nếp sống của
con người.
1.2.3. Thói quen văn hoá vệ sinh của trẻ Mầm non
1.2.3.1. Vai trò của việc giáo dục TQVHVS cho trẻ 3 - 4 tuổi ở trường
Mầm non
Giáo dục TQVHVS có ý nghĩa quan trọng trong việc phát triển toàn diện
nhân cách con người trên tất cả các mặt đức, trí, thể, mỹ, giáo dục thói quen lao
động tự phục vụ đơn giản…
Việc giáo dục TQVHVS có ảnh hưởng trực tiếp đến phát triển thể chất và
hình thành nhân cách cho trẻ, giúp trẻ biết tự giữ gìn vệ sinh thân thể, có những
thói quen tốt trong mọi hành động vệ sinh, giúp trẻ quen dần với nếp sống vệ
sinh sạch sẽ trên cơ sở đó mà trong suốt cuộc đời mình đứa trẻ thích giữ gìn
chân tay không dính bẩn, quần áo sạch sẽ, nhà cửa ngăn nắp. Từ việc tập giữ
sạch, trẻ có ý thức phải làm mọi việc ngăn nắp, đúng đắn và có ý thức về nghĩa
vụ của mình cũng như trở thành một người hành động có mục đích.
24
vào việc hình thành nhân cách phát triển toàn diện cho trẻ. Với trẻ, sự tri giác
25