Giáo dục thói quen vệ sinh thân thể cho trẻ 3 4 tuổi thông qua hoạt động có chủ đích - Pdf 38

TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC
KHOA TIỂU HỌC - MẦM NON

NGUYỄN THÙY TRANG

GIÁO DỤC THÓI QUEN VỆ SINH THÂN THỂ CHO TRẺ 3 - 4 TUỔI
THÔNG QUA HOẠT ĐỘNG CÓ CHỦ ĐÍCH

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Sơn La, năm 2015


TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC
KHOA TIỂU HỌC - MẦM NON

NGUYỄN THÙY TRANG

GIÁO DỤC THÓI QUEN VỆ SINH THÂN THỂ CHO TRẺ 3 - 4 TUỔI
THÔNG QUA HOẠT ĐỘNG CÓ CHỦ ĐÍCH

Chuyên ngành: Phương pháp chăm sóc và vệ sinh trẻ em

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Người hướng dẫn: ThS. Khúc Thị Hiền

Sơn La, năm 2015


LỜI CẢM ƠN
Em xin chân thành cảm ơn các thầy, cô giáo trong khoa Tiểu học - Mầm

5. Đối tượng nghiên cứu ..................................................................................................4
7. Phương pháp nghiên cứu .............................................................................................4
8. Những đóng góp của khóa luận ...................................................................................4
9. Bố cục của khóa luận ...................................................................................................5
NỘI DUNG .....................................................................................................................6
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI ............................6
1.1. Cơ sở lí luận ..............................................................................................................6
1.1.1. Khái niệm kĩ năng, kĩ xảo, thói quen ....................................................................6
1.1.1.1. Khái niệm kĩ năng ..............................................................................................6
1.1.1.2. Khái niệm kĩ xảo ................................................................................................7
1.2.1.3. Khái niệm thói quen ...........................................................................................9
1.1.1.4. Mối quan hệ giữa kĩ năng, kĩ xảo và thói quen ................................................10
1.1.2. Giáo dục thói quen vệ sinh thân thể cho trẻ mầm non ........................................11
1.1.2.1. Vai trò của việc giáo dục thói quen văn hóa vệ sinh cho trẻ mầm non ............11
1.1.2.2. Nhiệm vụ của việc giáo dục thói quen văn hóa vệ sinh cho trẻ mầm non ..............13
1.1.2.3. Nội dung của việc giáo dục thói quen vệ sinh thân thể cho trẻ mầm non ...............14
1.1.3. Đặc điểm phát triển của trẻ mầm non 3 - 4 tuổi ..................................................16
1.1.3.1. Đặc điểm sinh lý của trẻ mầm non 3 - 4 tuổi ...................................................16
1.1.3.2. Đặc điểm tâm lý của trẻ mầm non 3 - 4 tuổi ....................................................17
1.1.3.4. Cơ sở hình thành thói quen vệ sinh thân thể cho trẻ 3 - 4 tuổi .........................19
1.2. Cơ sở thực tiễn ........................................................................................................21
1.2.1. Thực trạng việc thực hiện giáo dục thói quen vệ sinh thân thể cho trẻ 3 - 4 tuổi
thông qua hoạt động học tập tại trường Mầm non xã Văn Phú -TP.Yên Bái - tỉnh Yên
Bái ..................................................................................................................................23


1.3.3. Thực trạng về việc vệ sinh thân thể của trẻ 3-4 tuổi ở trường Mầm non xã Văn
Phú - TP.Yên Bái ...........................................................................................................25
CHƯƠNG 2: GIÁO DỤC THÓI QUEN VỆ SINH THÂN THỂ CHO TRẺ 3-4
TUỔI THÔNG QUA HOẠT ĐỘNG CÓ CHỦ ĐÍCH …………...……………….27

ma ̣nh, trí tuê ̣ cao. Vì vâ ̣y chăm sóc - giáo du ̣c trẻ la ̣i càng mang mô ̣t ý nghiã
nhân văn cụ thể và trở thành mô ̣t đa ̣o lý của thế giới văn minh. Để có mô ̣t thế hê ̣
hoàn thiêṇ nhân cách toàn diêṇ trong tương lai thì phải đảm bảo cung cấ p cho trẻ
nề n móng phát triể n thể chấ t tố t.
Giáo dục mầm non là bậc học đầu tiên trong hệ thống quốc dân, đặt nền
móng cho việc giáo dục, hình thành và phát triển nhân cách cho trẻ em. Việc
chăm sóc giáo dục trẻ lứa tuổi mầm non có tầm ảnh hưởng không nhỏ đến sự
phát triển của trẻ, chăm sóc sức khỏe và giáo dục các thói quen tốt cho trẻ trong
những năm tháng đầu tiên của cuộc sống là rất cần thiết giúp trẻ khỏe mạnh, góp
phần, phòng chống bệnh tật và tạo điều kiện để trẻ phát triển toàn diện.
Lứa tuổi 3 - 4, trẻ đã có ý thức về bản thân, có thể hiểu và làm theo sự
hướng dẫn của người lớn, Đây là giai đoạn tốt để người lớn, cha mẹ và cô giáo
hình thành thói quen vệ sinh thân thể cho trẻ. Tuy nhiên, trẻ 3 - 4 tuổi khi vệ
sinh thân thể ít có cơ hội thực hành, do đó trẻ còn lúng túng khi người lớn yêu
cầu trẻ thực hiện hoạt động vệ sinh thân thể.
Thông qua các hoạt động có chủ đích ở trường Mầm non, quá trình giáo
dục thói quen vệ sinh thân thể cho trẻ được giáo viên lồng ghép vào các hoạt
động có chủ đích và vào những hoạt động khác nhau, để nhắc nhở trẻ luôn ghi
nhớ và thực hiện việc vệ sinh thân thể hàng ngày. Vệ sinh thân thể góp phần bảo
vệ và tăng cường sức khỏe cho trẻ, để trẻ thích thú khi tham gia các hoạt động
khác hiệu quả nhằm hoàn thiện và phát triển nhân cách cho trẻ. Không những
thế việc lồng ghép còn giúp tiết học trở nên hấp dẫn, sinh động bớt đơn điệu,
nhàm chán, ngoài ra còn rút ngắn số tiết học ở trường Mầm non.
Vì những lí do trên mà tôi đã chọn đề tài “Giáo dục thói quen vệ sinh thân
thể cho trẻ 3 - 4 tuổi thông qua hoạt động có chủ đích” để tìm hiểu, nghiên cứu.
1


2. Mục đích nghiên cứu
- Tìm hiểu về nội dung, hình thức và phương pháp giáo dục thói quen vệ


duy từ bình diện bên ngoài vào bình diện bên trong mà thực chất đó là việc
chuyển những hành động định hướng bên ngoài thành những hành động định
hướng bên trong theo cơ chế nhập tâm. Đây là điểm khởi đầu của kiểu tư duy
mới do đó tư duy ở lứa tuổi mẫu giáo (3 - 4 tuổi) thường gắn với hành động và
còn gắn liền với xúc cảm và ý muốn chủ quan. Trẻ chưa nhận ra được rằng
những ý nghĩ, những ý muốn trong tâm trí của mình chỉ là hình ảnh tượng
trưng của sự vật bên ngoài. Ranh giới giữa cái thực và cái hư, giữa ý nghĩ của
mình và ý nghĩ của người khác còn chưa rõ. Đặc biệt tư duy của trẻ còn bị tình
cảm chi phối rất mạnh, thể hiện ở chỗ trẻ chỉ suy nghĩ về những điều mà chúng
thích và dòng suy nghĩ thường bị cuốn hút vào ý thích riêng của mình bất chấp
cả tác động khách quan.
Điều này thể hiện ở nguyện vọng được độc lập. Trẻ lên 3 hay thường “nói
con tự làm lấy, con tự rửa tay”. Không muốn người lớn can thiệp vào những việc
đó. Tính độc lập xuất hiện ở trẻ, nhu cầu muốn độc lập rất lớn để khẳng định
mình. Nhu cầu khẳng định là một động lực mạnh mẽ, thúc đẩy trẻ bước sang
một giai đoạn mới … Nhu cầu này nhiều khi lấn át nhu cầu khác cũng phát triển
mạnh ở trẻ. Đây là những dấu hiệu của sự trưởng thành rất đáng mừng, nhưng
cùng với nó, ở trẻ lên 3 lại xuất hiện tính bướng bỉnh, do muốn làm theo ý mình
và muốn tự mình làm tất cả.
- Điều tra thực trạng việc giáo dục thói quen vệ sinh thân thể cho trẻ 3 - 4
tuổi tại trường Mầm non xã Văn Phú - TP.Yên Bái.
- Thiết kế các hoạt động có chủ đích, tích hợp giáo dục thói quen vệ sinh
thân thể cho trẻ 3 - 4 tuổ i.
- Đề xuất quy trình tổ chức giáo dục thói quen vệ sinh thân thể cho trẻ 3 - 4
tuổi thông qua hoạt động có chủ đích.
- Thực nghiệm sư phạm kiểm chứng tính hiệu quả của đề tài.
4. Giả thuyết khoa học
Nếu tích hợp được các nội dung và phương pháp giáo dục thói quen vệ
sinh thân thể vào các hoạt động có chủ đích phù hợp thì sẽ nâng cao kĩ năng vệ

8. Những đóng góp của khóa luận
Hệ thống hóa và bổ sung cơ sở lí luận về việc giáo dục thói quen vệ sinh
thân thể cho trẻ 3 - 4 tuổi thông qua hoạt động có chủ đích.
4


Đánh giá được thực trạng giáo dục thói quen vệ sinh thân thể cho trẻ
thông qua hoạt động có chủ đích tại một trường mầm non cụ thể, để từ đó đưa ra
nội dung và phương pháp giáo dục phù hợp.
Phân tích được nội dung và phương pháp giáo dục thói quen vệ sinh thân
thể cho trẻ 3 - 4 tuổi.
Cung cấp một số hoạt động học tập, giáo án tiêu biểu về việc lồng ghép,
tích hợp giáo dục thói quen vệ sinh thân thể cho trẻ 3 - 4 tuổi, sinh viên mầm
non có thể dùng làm tài liệu tham khảo 3 - 4 tuổi
9. Bố cục của khóa luận
Ngoài phần mở đầu và kết luận, khóa luận tốt nghiệp gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài
Chương 2: Giáo dục thói quen vệ sinh thân thể cho trẻ 3 - 4 tuổi thông qua
hoạt động có chủ đích.
Chương 3: Thực nghiệm sư phạm

5


NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
1.1. Cơ sở lí luận
1.1.1. Khái niệm kĩ năng, kĩ xảo, thói quen
1.1.1.1. Khái niệm kĩ năng
Kĩ năng là một vấn đề phức tạp các nhà khoa học nghiên cứu về vấn đề

- Tri thức về phương thức thực hiện các thao tác, hành động và tri thức về
đối tượng hành động.
- Mục đích và nhiệm vụ mà hành động phải thực hiện.
- Hệ thống các thao tác, các hành động và các phương tiện tương ứng.
Như vậy, kỹ năng chứa đựng trong nó cả tri thức về hành động, mục đích
hành động và thao tác hành động. Tùy theo từng loại kỹ năng mà các thành phần
trên tham gia vào cấu trúc đó ở những mức độ khác nhau.
Kĩ năng thực hiện hành động có ý thức nhưng do lặp đi lặp lại nhiều lần
hoặc do luyện tập mà trở thành tự động hóa, không cần có sự kiểm soát trực tiếp
của ý thức mà vẫn có kết quả. Khi đó, kĩ năng sẽ phát triển ở mức độ cao thành
kĩ xảo và thói quen
1.1.1.2. Khái niệm kĩ xảo
Theo quan điểm của Levitov: Kĩ xảo là kĩ năng thực hiện một động tác
nào đó đã được củng cố bằng luyện tập [11].
Theo quan điểm của Kixengov: Kĩ xảo là biện pháp được đặc trưng ở
trình độ thành thạo trong đó có yếu tố tự động hóa.
Như vậy, theo các nhà khoa học, kĩ xảo là một hành động có ý thức, có ý
chí nhưng do được lặp đi lặp lại hay do luyện tập mà về sau trở thành những
hành động tự động, nghĩa là không cần có sự kiểm soát trực tiếp của ý thức mà
vẫn được thực hiện hiệu quả.
Kĩ xảo là hành động đã được củng cố và tự động hóa.
* Đặc điểm của kĩ xảo:
- Kĩ xảo không bao giờ thực hiện đơn độc, tách rời khỏi hành động có ý
thức. Trong hành động có ý thức, kĩ xảo quan hệ nhiều đến biện pháp hoàn
thành hành động mà không quan hệ đến mục đích và cách thức hành động.

7


- Mức độ tham gia của ý thức vào kĩ xảo rất ít, thậm chí có khi cảm thấy



chuyển sang chơi cầu lông những động tác séc bít, cắt xoáy của chơi bóng bàn
lúc đầu cũng được sử dụng để séc bít, đỡ cầu. Điều đó làm cho việc chơi cầu
lông khó khăn hơn.
- Quy luật dập tắt kỹ xảo: Một kỹ xảo được hình thành nếu không luyện
tập, củng cố và sử dụng thường xuyên thì sẽ bị suy yếu và cuối cùng có thể bị
mất hẳn, tức là bị dập tắt. Ví dụ, một người chơi bóng bàn giỏi, nhưng không
luyện tập, củng cố thường xuyên, thì những kỹ năng, kỹ xảo trong việc thực hiện
các thao tác chơi bóng sẽ bị mai một đi.
=> Sự hình thành kĩ xảo: Củng cố kĩ năng là điều kiện để hình thành kĩ xảo.
- Làm cho học sinh hiểu biện pháp hành động:
• Cho học sinh quan sát hành động mẫu, kết quả mẫu, hướng dẫn, chỉ vẽ.
• Giúp học sinh nắm được cách thức, lề lối, quy tắc, phương tiện để đạt
kết quả, đặt biệt là các thủ thuật then chốt.
- Luyện tập:
• Cho học sinh biết mục đích luyện tập.
• Theo dõi để điều chỉnh cho đúng với hành động mẫu.
• Tập đủ lần, và việc xác định số lần luyện tập tùy thuộc vào đặc điểm tâm
lý của từng học sinh.
• Bài tập phải có hệ thống.
• Không được ngắt quãng trong thời gian dài.
- Tự động hóa (cấu trúc hành động đã thay đổi về chất):
• Bao quát hơn, bớt dần mục tiêu bộ phận.
• Tiết kiệm: Bớt động tác thừa, gộp động tác, cử động chính được nổi bật.
• Giảm dần sự tham gia của ý thức.
• Tốc độ nhanh, chất lượng cao và duy trì kết quả điều đặn.
• Là một khâu của hành động phức tạp.
1.2.1.3. Khái niệm thói quen
Theo từ điển Việt Nam, tác giả Lê Ngọc Trụ định nghĩa: Thói quen là

nghiệm hoặc trải nghiệm.
Thói quen và kĩ xảo mang tính chất lặp lại và sự thuần thục trong hành
động

10


Kĩ xảo

Thói quen
Mang tính chất nhu cầu nếp sống

Mang tính chất kỹ thuật

Được đánh giá về mặt đạo đức

Được đánh giá về mặt thao tác (Thao

(Trong đó có cả thói quen tốt và thói tác có nhuần nhuyễn hay không, nhanh
quen xấu)

hay chậm)

Luôn gắn với tình huống cụ thể

Ít gắn với tình huống

Bền vững ăn sâu vào nếp sống

Ít bền vững nếu không được luyện tập

nhân, phòng chống các bệnh tật. Cơ thể trẻ ở lứa tuổi này đang trong thời kì phát
triển mạnh mẽ, hệ thần kinh, hệ cơ xương, hệ vận động, hệ hô hấp, hệ bài tiết
đang trong quá trình hoàn thiện, nhờ vào đó trẻ tham gia các hoạt động vui chơi,
học tập sẽ trở nên hứng thú, luôn ở trạng thái vui vẻ khi được tham gia vào các
hoạt động giúp cơ thể trẻ phát triển hài hòa cân đối [8].
Giáo dục thói quen vệ sinh thân thể cho trẻ mầm non còn ảnh hưởng lớn
đến sự phát triển trí tuệ của trẻ. Giúp trẻ hình thành những tri thức sơ đẳng khác
nhau, hình thành những biểu tượng, khái niệm đúng về hành vi vệ sinh thân thể,
cũng như những hiện tượng đơn giản khác của của cuộc sống xung quanh trẻ,
nhờ các hoạt động cảm nhận phong phú, chính xác tư duy sẽ trở nên nhạy bén,
thông qua đó, trẻ có thể tự rèn cho bản thân những thái độ đúng đắn chuẩn mực
với mọi hành vi, việc làm và điều chỉnh những cảm xúc của bản thân
Giáo dục kỹ năng, kỹ xảo, thói quen vệ sinh thân thể hàng ngày cho trẻ có
vai trò vô cùng quan trọng nó góp phần hình thành ở trẻ các phẩm chất đạo đức
tốt thông qua việc hình thành những tình cảm, xúc cảm của bản thân. Trẻ có
lòng tự trọng tinh thần và trách nhiệm với công việc được giao. Đồng thời, nó
cũng rèn cho trẻ tính kiên trì, tự giác và có ý thức cao trong mọi hoạt động.
Ngoài ra, giáo dục thói quen vệ sinh thân thể cho trẻ qua các hoạt động
có chủ đích còn giúp trẻ phát triển thẩm mỹ, giáo dục các thói quen lao động
tự phục vụ đơn giản. Trong thế giới xung quanh trẻ chứa bao điều mới lạ, hấp
dẫn. Việc tác động vào tâm hồn trẻ những tình cảm tốt đẹp, những hành vi,
thói quen có văn hóa là những điều vô cùng quan trọng giúp trẻ nhanh nhẹn,
khéo léo, hứng thú với mọi hoạt động để phát triển toàn diện nhân cách cho
trẻ, từ những sự tri giác việc bồi đắp cho trẻ từ những hành vi, thói quen ngay từ
những năm tháng đầu đời sẽ giúp trẻ biết tự điều chỉnh theo đúng những chuẩn
của xã hội.
Việc giáo dục những thói quen vệ sinh thân thể cho trẻ là một trong những
điều kiện thuận lợi giúp trẻ phát triển tâm sinh lý, tình cảm và khả năng nhận
12


cho trẻ, như:
13


+ Có ý thức, thích thú, phấn khởi khi tiến hành các hoạt động vệ sinh
+ Biết đồng tình ủng hộ những bạn có thói quen văn hóa vệ sinh tốt, biết
góp ý với những bạn có thói quen vệ sinh chưa tốt.
Hình thành thói quen vệ sinh thân thể cho trẻ là một nhiệm vụ vô cùng quan
trọng nhằm bảo vệ và tăng cường sức khỏe, bước đầu cần tạo cho trẻ nề nếp
sống có văn hóa vệ sinh đảm bảo sự phát triển đúng đắn về các mặt nhân cách,
rèn luyện cơ thể. Đối với trẻ mẫu giáo bé (3 - 4 tuổi) thì việc giáo dục vệ sinh
thân thể cho trẻ cần được đảm bảo tổ chức thông qua các hoạt động có chủ đích
tạo bầu không khí thoải mái, sinh động, vui tươi cho trẻ. Nhưng đồng thời cũng
cần chú ý thông qua đó rèn cho trẻ tính tổ chức kỷ luật, tự giác trong quá trình
vệ sinh.
Việc tích hợp, lồng ghép giáo dục thói quen vệ sinh thân thể cho trẻ thông
qua các hoạt động có chủ đích là một việc cần thiết để giúp trẻ rèn luyện, hình
thành các thói quen vệ sinh. Từ đó giáo viên cần kết hợp chặt chẽ với phụ
huynh để tạo cho trẻ một điều kiện tốt nhất để trẻ vận dụng, củng cố những
kỹ năng đã có.
1.1.2.3. Nội dung của việc giáo dục thói quen vệ sinh thân thể cho trẻ mầm non
Trong cuộc sống và sinh hoạt hàng ngày, trẻ cần được hình thành nhiều thói
quen văn hóa vệ sinh khác nhau. Trong trường mầm non, bốn nội dung giáo dục
thói quen văn hóa vệ sinh cho trẻ gồm: thói quen vệ sinh thân thể, thói quen ăn
uống có văn hóa hợp vệ sinh, thói quen hoạt động có văn hóa và thói quen giao
tiếp có văn hóa [4]. Bốn nội dung này được thực hiện ngay từ khi trẻ còn nhỏ ở
mỗi gia đình nhưng để hình thành thói quen tốt thì ở trường mầm non là có
những điều kiện phù hợp và thuận lợi nhất. Một trong số đó là thói quen vệ sinh
thân thể.
Việc giữ vệ sinh thân thể không những nhằm chấp hành những yêu cầu vệ

Cách chải răng: rửa sạch bàn chải, lấy thuốc ra bàn chải, súc miệng, đặt bàn
chải nghiêng mỗi góc 30 - 45 độ so với mặt răng, chải hàm trên theo hướng từ
trên xuống, hàm dưới từ dưới lên, mặt nhai đưa bàn chải đi lại vuông góc với
mặt răng; súc miệng thật kĩ, rửa sạch bàn chải, vẩy ráo nước và cất các dụng cụ
vệ sinh vào nơi quy định.
* Thói quen chải tóc

15


Trẻ cần biết tại sao phải chải tóc (để đầu tóc gọn gàng, mọi người yêu mến,
không bị đau đầu, chấy rận…).
Lúc nào nên chải tóc (sau khi ngủ, trước khi ra ngoài đường, khi tóc rối
bù…).
Cách chải tóc: cầm lược, chải cho tóc suôn, rẽ ngôi và chải sang hai bên
hoặc chải hất từ trước ra sau, từ trên xuống dưới. Trẻ 3 - 4 tuổi phải có sự hướng
dẫn, giúp đỡ của người lớn để thực hiện chải tóc.
* Thói quen mặc quần áo sạch sẽ
Trẻ phải biết tại sao cần mặc quần áo sạch sẽ (để mọi người yêu mến hơn,
giữ quần áo cho đẹp và luôn mới, để không bị bệnh…).
Trẻ cần biết lúc nào nên mặc thêm hoặc cởi bớt quần áo: lúc thời tiết lạnh
hoặc nóng hơn, khi vận động nhiều, khi ra ngoài đường hoặc vào nhà, trước và
sau khi ngủ, trước và sau khi tắm rửa….
Cách thay quần áo: cởi quần áo theo thứ tự từ cởi bỏ cúc, tháo từng ống tay,
ống chân, mặc quần áo theo thứ tự từng ống tay, ống quần, cài cúc.
Trẻ 3 - 4 tuổi tự mặc được những quần áo đơn giản, còn lại việc tự mặc quần áo
cần đến sự giúp đỡ, hướng dẫn của người lớn [4].
1.1.3. Đặc điểm phát triển của trẻ mầm non 3 - 4 tuổi
1.1.3.1. Đặc điểm sinh lý của trẻ mầm non 3 - 4 tuổi
Trẻ mẫu giáo bé 3 - 4 tuổi đây là giai đoạn chuyển tiếp từ nhà trẻ lên, trẻ có

kiềm chế kém, cho nên không nên để trẻ kéo dài thời gian hưng phấn vui chơi
quá nhiều.
Sức chống đỡ bệnh tật của trẻ đã tăng dần, số lần mắc bệnh giảm xuống so
với lúc trẻ dưới 3 tuổi, song phạm vi hoạt động của trẻ mở rộng ra nhiều, nên
sức miễn dịch còn yếu, dễ mắc các bệnh truyền nhiễm như bệnh đậu mùa, bệnh
quai bị.
Các cơ bắp ở trẻ 4 tuổi có thể nâng đỡ được trọng lượng của cơ thể. Trẻ có
thể chạy, nhảy, biết dùng đôi tay để nắm chặt đồ vật, biết leo trèo, đôi chân chạy
nhảy liên tục. Trong quá trình chạy chơi, trẻ cảm thấy vô cùng thích thú, cho nên
suốt ngày chạy nhảy, không lúc nào ngồi yên. Trẻ ở giai đoạn này có đặc điểm
nổi bật là hoạt bát, hiếu động, chính là do sự phát triển của cơ thể quyết định.
1.1.3.2. Đặc điểm tâm lý của trẻ mầm non 3 - 4 tuổi
* Chú ý:
17


Nhiều phẩm chất chú ý của trẻ ở độ tuổi này được hình thành và phát triển
mạnh do sự tiếp xúc với nhiều dạng đồ vật, những loại âm thanh, màu sắc, độ di
động khác nhau, kích thích phản xạ định hướng của trẻ.
Những thay đổi cơ bản trong các phẩm chất chú ý của trẻ:
- Khối lượng chú ý tăng đáng kể, khối lượng chú ý không chỉ là số lượng
đồ vật trong cùng một thời điểm trẻ tri giác được nhiều, mà ngay một vật trẻ chú
ý được nhiều thuộc tính, tính chất hơn. Khối lượng chú ý của trẻ cũng tăng lên
dưới tác động của ngôn ngữ.
- Tính bền vững của chú ý: Tính bền vững của chú ý tăng đáng kể, theo
số liệu nghiên cứu thì trẻ 3 - 4 tuổi chú ý được 27 phút so với trẻ 1 tuổi là
14,5 phút [6].
- Tính chủ định của chú ý phát triển mạnh.
* Ngôn ngữ:
Số lượng từ ngữ trong giai đoạn 3 - 4 tuổi khoảng từ 800 - 1926 từ ( nghiên

từ thì hàng loạt đặc trưng của tư duy xuất hiện: thao tác so sánh, thao tác phân
tích, thao tác tổng hợp.
Tư duy của trẻ phát triển đi từ khái quát trên cơ sở những dấu hiệu bên
ngoài của đồ vật đến khái quát những dấu hiệu bản chất của đồ vật, hiện
tượng cụ thể
Ở trẻ đã xuất hiện một số dạng phán đoán, suy lý đơn giản gắn liền với các
sự kiện, hiện tượng mà trẻ tri giác được gắn với hoàn cảnh cụ thể. Tư duy của
trẻ mang tính chất cụ thể, hình ảnh, cảm xúc. Ở giai đoạn này tư duy của trẻ chủ
yếu là tư duy hành động - trực quan, đồng thời phát triển tư duy hình ảnh - trực
quan, mầm móng tư duy từ ngữ - lôgic xuất hiện [6].
* Tưởng tượng:
Đến lứa tuổi này tưởng tượng của trẻ phát triển mạnh cả về dạng loại và các
mức độ phong phú của hình ảnh tưởng tượng. Hình ảnh tưởng tượng thường gắn
với biểu tượng trong hoàn cảnh cụ thể giới hạn bởi kinh nghiệm tích luỹ được ở
lứa tuổi này.
Trẻ bắt đầu xuất hiện tưởng tượng có chủ định và tưởng tượng sáng tạo.
Ngôn ngữ có ý nghĩa rất lớn kích thích tưởng tượng của trẻ phát triển.
1.1.3.4. Cơ sở hình thành thói quen vệ sinh thân thể cho trẻ 3 - 4 tuổi

19



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status