TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC MẦM NON
ĐÀM THỊ NHƢ NGỌC
TỔ CHỨC MỘT SỐ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC THÓI QUEN VỆ SINH THÂN
THỂ CHO TRẺ 5 TUỔI Ở TRƢỜNG MẦM NON
ĐẠI MẠCH - ĐÔNG ANH - HÀ NỘI
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Chăm sóc và vệ sinh trẻ em
Người hướng dẫn: ThS. Dương Thị Thanh Thảo
HÀ NỘI - 2017
LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình làm khoá luận, tôi đã nhận được sự hướng dẫn và giúp
đỡ tận tình của ThS. Dương Thị Thanh Thảo. Nhân dịp này, tôi xin được bày
tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc tới cô.
Tôi xin trân trọng cảm ơn sự giúp đỡ của Ban Giám hiệu, các cô giáo
và các cháu lớp 5 tuổi trường Mầm non Đại Mạch - Đông Anh - Hà Nội đã
tạo điều kiện cho tôi trong quá trình khảo sát và thực tập sư phạm.
Tôi xin trân trọng cảm ơn Ban Chủ nhiệm khoa Giáo dục Mầm non Trường ĐHSP Hà Nội 2 cùng các thầy cô trong khoa, gia đình, bạn bè đã
động viên, giúp đỡ tôi trong suốt thời gian tôi học tập và nghiên cứu.
Hà Nội, ngày tháng năm 2017
Người thực hiện
Đàm Thị Nhƣ Ngọc
2.4. Phương pháp đánh giá .............................................................................. 13
2.5. Kết quả ..................................................................................................... 16
CHƢƠNG 3. TỔ CHỨC MỘT SỐ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤCTHÓI
QUEN VỆ SINH THÂN THỂ CHO TRẺ 5 TUỔI Ở TRƢỜNG MẦM
NON ................................................................................................................ 23
3.1. Đề xuất một số hoạt động giáo dục thói quen vệ sinh thân thể cho trẻ 5
tuổi ở trường mầm non .................................................................................... 23
3.2. Tổ chức thực nghiệm ở trường mầm non................................................. 34
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ ...................................................................... 43
TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................ 45
PHỤ LỤC
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Vệ sinh thân thể là động tác cần làm hằng ngày với mỗi chúng ta và
đặc biệt quan trọng với trẻ mầm non. Vì ở lứa tuổi này trẻ đã có sự phát triển
nhất định về thể chất, tinh thần, trí tuệ, ngôn ngữ cùng các mối quan hệ ngày
càng phức tạp. Đây là điều kiện thuân lợi để trẻ có ý thức và khả năng tự vệ
sinh cá nhân và hình thành thói quen vệ sinh thân thể.
Khi trẻ 3 tuổi, người lớn, giáo viên mầm non bắt đầu hình thành các
động tác vệ sinh thân thể cho trẻ. Tuy nhiên, lứa tuổi này thực hiện rất lúng
túng về mặt kĩ năng, đồng thời chưa có thái độ tri giác tích cực trong việc vệ
sinh cho bản thân. Vì vậy, các thói quen vệ sinh thân thể được hình thành ở
mẫu giáo bé cần được rèn luyện và củng cố ở các lứa tuổi tiếp theo, đặc biệt là
mẫu giáo lớn 5 tuổi. Nó có ý nghĩa to lớn trong việc củng cố cho trẻ những kỹ
năng đơn giản trong việc tự vệ sinh cho bản thân sạch sẽ. Đồng thời, rèn luyện
một số phẩm chất đạo đức quan trọng như: tính tự giác, tính kiên trì, tính độc
lập,... góp phần rèn luyện thói quen vệ sinh thân thể cho trẻ được tốt hơn.
Thực tế hiện nay giáo viên cũng đã biết cách lồng ghép giáo dục thói
cho trẻ 5 tuổi ở trường Mầm non Đại Mạch.
- Tổ chức thực nghiệm khoa học ở trường mầm non Đại Mạch.
6. Phạm vi nghiên cứu
Trường Mầm non Đại Mạch - Đông Anh - Hà Nội
7. Phƣơng pháp nghiên cứu
7.1. Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận: phân tích, tổng hợp tài
liệu.
7.2. Nhóm các phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Phương pháp điều tra: điều tra bằng bảng hỏi, trao đổi với giáo viên
2
chủ nhiệm lớp và với phụ huynh học sinh; quan sát: quan sát các hành vi của
trẻ, cảnh quan trong nhà trường.
- Phương pháp thực nghiệm
- Phương pháp tổng kết và rút kinh nghiệm
7.3. Phương pháp xử lý số liệu
Sử dụng toán học để xử lý các số liệu nghiên cứu nhằm rút ra những
nhận xét, kết luận có giá trị khách quan.
8. Đóng góp của đề tài
- Phân tích và đánh giá được mức độ của việc hình thành thói quen vệ
sinh thân thể của trẻ 5 tuổi.
- Đưa ra một số biện pháp giáo dục thói quen vệ sinh thân thể cho trẻ
5tuổi.
3
CHƢƠNG 1. CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI
- Trong quá trình thực hiện phải kiểm tra quá trình thực hiện của trẻ và
dạy trẻ tự kiểm tra mình
- Sự gương mẫu của người lớn có ý nghĩa lớn đối với hiệu quả hình
thành thói quen vệ sinh cho trẻ
- Các biện pháp khen thưởng, trách phạt được sử dụng trong quá trình
giáo dục phải phù hợp với đặc điểm nhận thức và tình cảm của trẻ
1.2. Thói quen vệ sinh thân thể
- Việc giữ gìn vệ sinh thân thể không những chấp hành những yêu cầu
vệ sinh, mà còn nói lên mức độ quan hệ của con người đối với nhau. Bởi vì,
chính việc thực hiện các yêu cầu vệ sinh là thể hiện sự tôn trọng mọi người
xung quanh.
Các thói quen vệ sinh thân thể bao gồm:
1.2.1. Thói quen rửa mặt
- Trẻ cần nắm được tại sao cần rửa mặt: rửa mặt để được mọi người yêu
mến; rửa mặt để cho mặt thơm tho, xinh hơn, không bị bệnh
- Lúc nào cần rửa mặt: cần rửa mặt trước và sau khi ngủ; cần rửa mặt
trước và sau khi ăn; sau khi đi ra ngoài đường; khi thấy mặt bẩn
- Cách rửa mặt
Rửa những nơi nào cần được giữ sạch nhất (rửa từ khóe mắt ra đuôi
mắt, rửa sống mũi và miệng, trán, hai má và cằm); chiều hướng rửa mặt (từ
trong ra ngoài, từ dưới lên); chuyển vị trí của khăn trên các đầu ngón tay khi
rửa từng bộ phận trên mặt; biết vò khăn, vắt khô, phơi ở vị trí nhất định và
ngay ngắn.
1.2.2. Thói quen rửa tay
- Trẻ cần biết tại sao phải rửa tay: để mọi người yêu mến; cho tay thơm
tho, sạch sẽ không bị bệnh;
5
- Cách chải tóc:cầm lượcbằng tay phải; chải cho tóc từ trên xuống dưới
nhẹ nhàng; chải từng ít một, khi tóc bịrối nhiều cần gỡ cho tóc hết rối rồi chải
nhẹ nhàng tránh làm đứt gãy tóc;rẽ ngôi và chải sang hai bên hoặc chải hất từ
trước ra sau, từ trên xuống dưới.
1.2.5. Thói quen cắt móng tay
- Trẻ biết tại sao phải cắt móng tay: để móng tay sạch sẽ; mọi người
yêu mến; để không bị bệnh.
- Trẻ biết khi nào nên cắt móng tay: khi móng tay mọc dài; khi móng
tay bị bẩn.
- Trẻ không được tự ý dùng kéo cắt móng tay hay đưa lên mồm cắn mà
người lớn cắt cho trẻ.
- Cách cắt móng tay: cắt từ cạnh móng dần vào đến giữa và cắt hết phần
móng cần cắt; cắt ít một tránh làm sước móng và bị đau; cắt lần lượt từng
ngón một cho đến hết các ngón tay rồi chuyển sang bàn tay kia.
1.2.6. Thói quen mặc quần áo sạch sẽ
- Trẻ phải biết tạo sao cần mặc sạch sẽ: để mọi người yêu mến hơn; giữ
quần áo cho đẹp và luôn mới; để không bị bệnh.
- Trẻ cần biết lúc nào nên mặc thêm hoặc cởi bớt quần áo: lúc thời tiết
lạnh hoặc nóng hơn; khi vận động nhiều; khi ra ngoài đường hoặc vào nhà;
trước và sau khi ngủ; trước và sau khi tắm rửa.
- Cách thay quần áo: cởi quần áo theo thứ tự từ tháo bỏ dây,cởi bỏ cúc,
kéo khóa, tháo từng ống tay, ống chân;mặc quần áo theo thứ tự từng ống tay,
ống quần,kéo khóa, cài cúc, thắt dây.
1.3.Phƣơng pháp và hình thức giáo dục thói quen vệ sinh thân thể cho trẻ
Việc giáo dục thói quen vệ sinh thân thể cho trẻ được tiến hành thông
qua các hoạt động giáo dục và dạy học ở trường mầm non. Bằng hoạt động
giáo dục phong phú như vui chơi, lao động, sinh hoạt hàng ngày, ăn ngủ,... trẻ
8
của trẻ thành hệ thống các hoạt động, các mối quan hệ. Từ đó, phân tích thành
việc làm, các cách cư xử và các thao tác, cử chỉ,... cho trẻ định hướng vào
“mẫu” cần giáo dục trẻ rồi tổ chức cho trẻ luyện tập, đưa nội dung giáo dục
thành yêu cầu của nếp sống hàng ngày.
1.3.4. Phối hợp với gia đình
Việc giáo dục thói quen vệ sinh cho trẻ chỉ có thể đạt hiệu quả nếu có
sự phối hợp giáo dục giữa gia đình và nhà trường. Trao đổi thường xuyên với
gia đình nhằm nâng cao hiểu biết của phụ huynh, thống nhất yêu cầu, nội
dung, phương pháp giáo dục, tạo ra các điều kiện giáo dục cần thiết ở trường
và ở gia đình.
1.4. Đặc điểm của trẻ 5 tuổi
*Đặc điểm về tâm lý
Sự phát triển xúc cảm và tình cảm:
Ở lứa tuổi này trẻ xuất hiện tình cảm bạn bè, phạm vi giao tiếp mở rộng hơn.
Đời sống xúc cảm, tình cảm ổn định hơn so với trẻ 3 - 4 tuổi, mức độ
phong phú, phức tạp tăng dần theo các mối quan hệ giao tiếp với những người
xung quanh.
Tuy nhiên đời sống xúc cảm của trẻ còn dễ dao động, mang tính chất
tình huống.
Tình cảm trí tuệ: Tình cảm trí tuệ của trẻ phát triển, mỗi nhận thức mới
đều kích thích niềm vui, hứng thú, sự say mê thích thú của trẻ; tính tò mò ham
hiểu biết, làm nảy sinh nhiều xúc cảm tích cực; trong vui chơi, học tập, lao
động tự phục vụ nhiều thành công thất bại củng cố sự phát triển tình cảm trí
tuệ ở trẻ.
Tình cảm đạo đức: Do lĩnh hội được ý nghĩa các chuẩn mực hành vi tốt,
xấu. Qua vui chơi giao tiếp với mọi người; do các thói quen nếp sống tốt được
được hình thành từ cuối tuổi ấu nhi. Tuy nhiên, phải trải qua một quá trình
phát triển thì ý thức bản ngã của trẻ mới được xác định rõ ràng.Đến cuối tuổi
mẫu giáo, trẻ mới hiểu được mình như thế nào, có những phẩm chất gì, những
10
người xung quanh đối xử với mình ra sao, và tại sao mình có hành động này
hay hành động khác... ý thức bản ngã được thể hiện rõ nhất trong sự tự đánh
giá về thành công và thất bại của mình, về những ưu điểm và khuyết điểm của
bản thân, về những khả năng và cả sự bất lực nữa.
- Trẻ ở lứa tuổi này muốn sờ, nếm, ngửi tất cả mọi thứ xung quanh. Trẻ
thể hiện rõ ý thức ham học hỏi qua kinh nghiệm và thực hành. Trẻ học từ các
trò chơi; bận rộn trong việc phát triển các kỹ năng, sử dụng ngôn ngữ và luôn
cố gắng để kiểm soát được nội tâm, trẻ muốn tự khẳng định bản thân khi tách
khỏi cha mẹ, độc lập hơn các em bé tuổi chập chững và đã có thể diễn đạt các
nhu cầu của mình bằng ngôn ngữ. Do vậy được học và chơi đúng cách sẽ giúp
trẻ phát triển tốt[2].
*Đặc điểm về sinh lý
Sự phát triển cơ thể diễn ra chậm hơn so với giai đoạn trước về số
lượng: chiều cao trung bình hằng năm tăng từ 5 - 8 cm; cân nặng trung bình
hằng năm tăng từ 1kg - 1,5 kg. Có sự thay đổi rõ rệt về chất lượng phát triển
- Hệ tiêu hóa ngày càng hoàn thiện, quá trình hình thành men tiêu hóa
được tăng cường, sự hấp thụ thức ăn ngày càng tốt hơn, trẻ ăn được đa dang
thức ăn hơn.
- Hệ thần kinh ngày càng phát triển, khả năng hoạt động của các tế bào
thần kinh tăng lên, quá trình cảm ứng ở vỏ não phát triển, trẻ có thể tiến hành
hoạt động trong thời gian lâu hơn.
- Hệ cơ xương hoàn thiện dần, các mô cơ ngày càng phát triển, cơ quan
điều khiển vận động dược tăng cường... Do vậy trẻ có thể tiến hành hoạt động
2.4. Phƣơng pháp đánh giá
2.4.1. Các tiêu chí đánh giá thói quen vệ sinh thân thể của trẻ
Theo Bloom, mục tiêu giáo dục con người thường được thực hiện trên 3 lĩnh
vực: nhận thức, kĩ năng, thái độ. Do vậy, việc đáng giá kết qủa giáo dục cũng
phải quan tâm đến cả 3 lĩnh vực này. Đánh giá thói quen vệ sinh của trẻ cần
phải tìm hiểu cả mức độ nhận thức và thực hiện của trẻ để có thể tìm ra những
tác động giáo dục phù hợp với chúng. Để có thể thu thập thông tin một cách
đầ đủ, có giá trị và đủ độ tin cậy, cần lựa chọn các tiêu chí đánh giá. Các tiêu
chí được xây dựng phải bao quát được mọi khía cạnh của vấn đề cần đánh giá,
phải độc lập với nhau nhưng lại cho phép có thể diều tra nhiều tiêu chí cùng
một lúc[1].
13
* Các tiêu chí đánh giá sự nhận thức
Nhận biết được hành động vệ sinh
Biết dược các yêu cầu của hành động vệ sinh
Hiểu được cách thể hiện hành động vệ sinh
Hiểu được ý nghĩa của hành động vệ sinh
* Các tiêu chí đánh giá thực hiện (kỹ năng và thái độ)
Tính tự giác của hành động
Tính đúng đắn của hành động
Mức độ thành thạo của hành động
Động cơ thực hiện hành động
Dựa vào các tiêu chí, cần xây dựng thang đánh giá thói quen vệ sinh
của trẻ mầm non
Bảng 2.1. Thang đáng giá thói quen vệ sinh của trẻ mầm non
Loại
khá
Trẻ thực hiện đúng các
rõ các yêu cầu đối với hành
yêu cầu của hành động; tự
động đó; hiểu cách thể hiện;
giác thực hiện trong một số
hiểu ý nghĩa của hành động
tình huống quen thuộc; có thể
trong tình huống quen
hiện thái độ đúng; thực hiện
thuộc;có thể được ý nghĩa của tương đối thành thạo.
hànhđộng khi được giáo viên
gợi ý.
14
4
Loại
Trẻ có biết về hành động;
nêu ra các yêu cầu của hành
Loại
yếu
Trong
những
tình
huống quen thuộc, khi được
động không phù hợp với tình giáo viên nhắc nhở, có cố
huống cụ thể
3
gắng thực hiện một số yêu cầu
2
đối với hành động, nhưng thể
hiện thái độ không đúng.
Trẻ không biết các hành
Loại
kém
thêm thông qua trao đổi với giáo viên và phụ huynh.
2.5. Kết quả
2.5.1. Thói quen rửa mặt sau khi khảo sát
Sau khi tiến hành điều tra, chúng tôi thu được kết quả thể hiện trong bảng 2.2.
Bảng 2.2. Kết quả khảo sát về thói quen rửa mặt
Mức độ
Khả
năng
Nhận thức
Thực hiện
Khá
Tốt
SL
%
SL
%
Trung bình
SL
2/30
6,7% 7/30 23,3%
1/30
3,3%
5/30
16,7%
3/30
10%
Nhìn vào kết quả bảng 2.2, ta có thể thấy được mức độ hình thành thói quen
rửa mặt của trẻ cả về mặt nhận thức và thực hiện như sau:
- Nhận thức: Số lượng trẻ nhận thức được đầy đủ và chính xác về thói
quen rửa mặt còn hạn chế chỉ có 2/30 trẻ(chiếm 6,7%), trẻ nhận thức khá cũng
không nhiều chiếm 23,3% ở những trẻ này đã biết yêu cầu của các bước rửa
mặt, biết lúc ngủ dậy là phải rửa mặt và hiểu được tại sao cần rửa mặt khi cô
giáo gợi ý; còn lại chủ yếu là trẻ nhận thức trung bình chiếm 53,3%, trẻ chưa
16
hiểu được ý nghĩa của việc rửa mặt. Một vài trẻ không hiểu gì về hành động
rửa mặt.
- Thực hiện: nhận thức của trẻ chưa thực sự đầy đủ và chính xác về
thói quen nên khả năng thực hiện của trẻ cũng rất hạn chế nên chỉ có 1/30 trẻ
biết thực hiện tốt thói quen rửa tay chiến 3,3%, có 20% thực hiên thói quen ở
mức độ khá (trẻ biết rửa mặt, thực hiện tương đối thành tạo), trẻ thực hiện ở
mức độ trung bìnhchiếm 50%, trẻ biết rửa mặt nhưng chưa thành thạo tự giác
%
SL
8/30
%
26,7%
SL
%
Kém
Yếu
SL
%
14/30 46,7%
2/30
6,7%
15/30
4/30
Chúng tôi thu được kết quả thể hiện trong bảng 2.4.
Bảng 2.4. Kết quả khảo sát về thói quen đánh răng
Mức độ
Khá
Tốt
SL
Khả
năng
Nhận thức 3/30
Thực hiện 2/30
%
SL
%
10%
9/30 30%
Trung bình
SL
%
14/30
- Nhận thức: Qua bảng kết quả về thói quen đánh răng của trẻ ta thấy
được số lượng trẻ nhận thức tốt về thói quen đánh răng còn hạn chế chỉ chiếm
10%, đó là những trẻ đã biết cách đánh răng, biết đánh răng vào những lúc
nào và ý nghĩa của việc đánh răng. Bên cạnh đó, có những trẻ biết là phải
đánh răng nhưng không hiểu được ý nghĩa mà giáo viên phải gợi ý, giảng giải
(xếp ở mức Khá chiếm 30%).Số trẻ nhận thức trung bình tương đối nhiều
(46,7%), trẻ chỉ biết đánh răng trong một số trường hợp quen thuộc (khi ở nhà
còn khi về quê hay đi du lịch thì trẻ nghĩ không phải đánh); do đó, trẻ không
thấy được sự cần thiết phải đánh răng dù trẻ biết đáng răng. Vẫn còn 1 số trẻ
nhận thức yếu chiếm 10% và kém (chiếm 3,3%).
18
- Thực hiện: Qua trao đổi với phụ huynh học sinh thì một số trẻ có
được thói quen đánh răng, trẻ tự giác thực hiện, đánh răng sạch sẽ và đúng
cách (số này chiếm 6,7%). Có 26,7% số trẻ là đạt ở mức độ khá, là những trẻ
thực hiện tương đối thành thạo. Phần nhiều trẻ là phải có sự nhắc nhở, giám
sát kiểm tra của người lớn nhưng đánh răng không sạch, đánh qua loa cho
xong (chiếm 43,3%).Một vài trẻ thì bố mẹ đánh răng cho.
2.5.4. Thói quen chải tóc sau khi khảo sát
Chúng tôi thu được kết quả thể hiện trong bảng 2.5
Bảng 2.5. Kết quả khảo sát về thói quen chải tóc
Mức độ
Khá
Tốt
SL
20%
3/30
10%
3,3% 6/30 20%
43,3% 7/30
23,3% 3/30
10%
13/30
- Nhận thức: Nhận thức của trẻ kém nên chỉ có 1 trên tổng số 30 trẻ
chiếm 3,3% nhận thức đầy đủ về thói quen chải tóc, biết khi nào cần chải tóc,
chải tóc như thế nào. Số lượng trẻ nhận thức khá (chiếm 23,3%),chủ yếu là các
bé gái, các trẻ này đã ý thức được là phải chải tóc trước khi đi học, trẻ hiểu
được tại sao mình phải chải tóc khi được giáo viên gợi ý. Số trẻ xếp loại Trung
bình thì có biết về việc chải tóc trước khi đi học nhưng không biết được ý nghĩa
của việc mình làm (chiếm 43,3%). Có vài trẻ nhận thức chưa đầy đủ về hành
động chải tóc, nêu ra các yêu cầu của hành động không phù hợp vớt tình huống
cụ thể hoặc không biết gì về chải tóc (thường là các bé trai).
- Thực hiện: Qua trao đổi với phụ huynh và giáo viên chủ nhiệm lớp
thì phần lớn các trẻ được bố mẹ chải đầu cho, nếu chưa chải thì khi đến lớp cô
lại chải cho nên trẻ thực hiện tốt thói quen chải tóc là rất ít chỉ chiếm 3,3%;
khả năng thực hiện khá của trẻ cũng không nhiều (chiếm 26,7%) trẻ thực hiện
%
SL
%
9/30
30%
4/30
13,3%
Thực hiện 0/30 0% 5/30 16,7% 11/30 36,7% 8/30
26,7% 6/30
20%
- Nhận thức: Dựa vào bảng kết quả điều tra về thói quen cắt móng tay
của trẻ ở bảng trên ta thấy được đây là một thói quen còn mới với trẻ. Đa
phần trẻ không chủ động về thói quen này mà được người lớn và bố mẹ nhắc
nhở (chiếm 30%), hay được làm cho (chiếm 13,3%). Vì vậy, chỉ có một số ít
trẻ nhận thức khá về thói quen này (chiếm16,7%) còn đa số trẻ nhận thức
trung bình gồm những trẻ không hiểu được ý nghĩa của việc cắt móng tay
(chiếm 40%). Một số trẻ nhận thức về thói quen này ở mức yếu và kém.
- Thực hiện: Vì nhận thức của trẻ còn hạn chế về thói quen cắt móng
tay nên khả năng thực hiện của trẻ cũng chưa được tốt.Do vậy, không có trẻ
SL %
Khả
năng
Nhận thức 2/30 6,7% 7/30 23,3% 14/30 46,7% 5/30 16,7% 2/30 6,7%
Thực hiện 2/30 6,7% 6/30 20%
13/30 43,3% 6/30 20%
3/30 10%
Nhìn vào kết quả bảng 2.,7 ta có thể thấy được mức độ hình thành thói
quen mặc quần áo sạch sẽ của trẻ như sau:
- Nhận thức: Nhận thức của trẻ về thói quen mặc quần áo tương đối ít
(chiếm 6,7%) trẻ biết tự thực hiện mặc quần áo cho mình. Với nhưng trẻ thực
hiện thói quen mặc quần áo ở mức độ khá (chiếm 23,3%) trẻ biết về thói quen,
biết khi nào nên mặc thêm hay cởi bớt quần áo, biết ý nghĩa của việc làm này
nhưng cần có giáo viên gợi, còn lại là trẻ nhận thức trung bình gồm những trẻ
chỉ nhận thức được thói quen trong một số trường hợp quen thuộc, thực hiện
tương đối thành thạo nhưng không hiểu được tại sao mình làm vậy (chiếm
46,7%)
- Thực hiện: Nhận thức về hành động chưa tốt nên khả năng thực hiện
của trẻ cũng chưa được tốt, nó thể hiện ở mức độ thực hiện tốt thói quen của
trẻ (chiếm 6,7%), trẻ thực hiện hành động thành thạo, biết những thao tác
mặc quần áo, thể hiệ thái độ đúng và hiểu được ý nghĩa của hành động chỉ
(chiếm 20%), số lượng trẻ thực hiện ở mức độ trung bình biết thực hiện thói
21