TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC MẦM NON
=====o0o=====
VŨ THỊ NGÂN
TÍCH HỢP GIÁO DỤC
THÓI QUEN VỆ SINH CÁ NHÂN CHO TRẺ 3 - 4
TUỔI THÔNG QUA ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ
THÔNG TIN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Giáo dục Mầm non
HÀ NỘI, 2018
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC MẦM NON
=====o0o=====
VŨ THỊ NGÂN
TÍCH HỢP GIÁO DỤC
THÓI QUEN VỆ SINH CÁ NHÂN CHO TRẺ 3 - 4
TUỔI THÔNG QUA ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ
THÔNG TIN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Giáo dục Mầm non
Người hướng dẫn khoa học
ThS. Hoàng Thị Kim Huyền
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan khóa luận tốt nghiệp này là công trình nghiên cứu,
tìm tòi dưới sự hướng dẫn, chỉ bảo, dìu dắt của các Thầy Cô, đặc biệt là sự
hướng dẫn tận tình của cô giáo Hoàng Thị Kim Huyền.
Vì vậy, để tài “Tích hợp giáo dục thói quen vệ sinh cá nhân cho trẻ
3 - 4 tuổi thông qua ứng dụng công nghệ thông tin” không có sự trùng lặp
hay sao chép các khóa luận khác.
Hà Nội, ngày tháng 5 năm 2018
Người thực hiện
Vũ Thị Ngân
DANH MỤC VIẾT TẮT
CNTT
: Công nghệ thông tin
NDTT
: Nội dung trọng tâm
NDKH
: Nội dung kết hợp
TCÂN
: Trò chơi âm nhạc
qua ứng dụng công nghệ thông tin.................................................................. 68
Chương 3. MỘT SỐ GIÁO ÁN CÓ TÍCH HỢP GIÁO DỤC THÓI
QUEN VỆ SINH CÁ NHÂN CHO TRẺ 3 - 4 TUỔI THÔNG QUA ỨNG
DỤNG CÔNG NGHỆTHÔNG TIN ............................................................... 79
3.1. Chủ đề: Gia đình ...................................................................................... 79
3.2. Chủ đề: Bản thân...................................................................................... 84
3.3. Chủ đề: Bản thân. ..................................................................................... 88
3.4. Chủ đề: Bản thân ...................................................................................... 94
3.5. Chủ đề: Bản thân ...................................................................................... 99
3.6. Chủ đề: Thế giới động vật...................................................................... 103
3.7. Chủ đề: Thực vật .................................................................................... 109
3.8. Chủ đề: Bản thân.................................................................................... 114
3.9. Hoạt động chiều ..................................................................................... 119
3.10. Hoạt động góc ...................................................................................... 121
PHẦN III: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ .................................................... 124
TÀI LIỆU THAM KHẢO............................................................................. 128
PHẦN I: MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
1
Mục tiêu của giáo dục mầm non là giúp trẻ em phát triển về thể chất, tình
cảm, trí tuệ, thẩm mỹ, hình thành những yếu tố đầu tiên của nhân cách, chuẩn
bị cho trẻ em vào lớp một; hình thành và phát triển ở trẻ em những chức năng
tâm sinh lí, năng lực và phẩm chất mang tính nền tảng, những kĩ năng sống
cần thiết phù hợp với lứa tuổi, khơi dậy và phát triển tối đa những khả năng
tiềm ẩn, đặt nền tảng cho việc học ở các cấp học tiếp theo và cho việc học tập
Bao gồm vệ sinh môi trường và vệ sinh cá nhân. Đối với trẻ mầm non việc
giáo dục ý thức vệ sinh cá nhân nhằm giúp trẻ khỏe mạnh, có thói quen vệ
sinh cá nhân có hành vi văn minh và phòng chống bệnh tật, hình thành những
thói quen cơ bản để giúp trẻ có những nề nếp tốt, hình thành nhân cách tốt sau
này cho trẻ. Việc làm này cần có sự kiên trì, tỉ mỉ của cô giáo, sự phối hợp rèn
luyện thói quen cho trẻ của gia đình - nhà trường, sự đầu tư trang bị chăm sóc
vệ sinh cá nhân và các điều kiện thuận tiện cho hoạt động vệ sinh cá nhân của
trẻ. Không phải trẻ nhỏ nào cũng có thói quen biết rửa tay lúc bẩn, trước khi
ăn và sau khi đi vệ sinh, biết đánh răng, rửa mặt đúng quy trình.
Có rất nhiều cách để lồng ghép, tích hợp giáo dục vệ sinh cá nhân cho trẻ
như giáo dục vệ sinh cá nhân cho trẻ thông qua các hoạt động học tập, sinh
hoạt hàng ngày, vui chơi, phối hợp - trao đổi với gia đình. Tất cả các hình
thức trên đều đã được các trường mầm non thực hiện và có đạt hiệu quả nhất
định. Nhưng đối với trẻ 3 - 4 tuổi là thời kỳ nhận thức rất nhanh, trẻ thích tìm
tòi, ham khám phá và hiếu động nên việc kết hợp với việc sử dụng ứng dụng
công nghệ thông tin vào quá trình tích hợp giáo dục vệ sinh cá nhân cho trẻ 3
- 4 tuổi là một sự sáng tạo, phù hợp với đặc điểm, nhu cầu của trẻ 3 - 4 tuổi.
Khi sử dụng ứng ụng công nghệ thông tin trong khi dạy học cho trẻkhông
những thu hút được sự chú ý và kích thích hứng thú của trẻ vì được chủ động
hoạt động nhiều hơn để khám phá nội dung bài giảng. Đây có thể coi là một
3
phương pháp ưu việt vừa phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý của trẻ, vừa thực
hiện được nguyên lý giáo dục của Vưgotxki “Dạy học lấy trẻ làm trung tâm”
một cách dễ dàng. Có thể thấy ứng dụng của công nghệ thông tin trong giáo
dục mầm non đã tạo ra một biến đổi về chất trong hiệu quả giảng dạy của
ngành giáo dục mầm non, tạo ra một môi trường giáo dục mang tính tương tác
cao giữa giáo viên và trẻ. Tạo ra cho trẻ một không gian học mà chơi - chơi
quen vệ sinh cá nhân cho trẻ 3 - 4 tuổi thông qua ứng dụng công nghệ thông
tin.
- Tìm hiểu về việc ứng dụng công nghệ thông tin để tích hợp giáo dục
thói quen vệ sinh cá nhân cho trẻ 3 - 4 tuổi.
- Đề xuất một số giáo án điện tử có tích hợp giáo dục thói quen vệ sinh
cá nhân cho trẻ 3 - 4 tuổi thông qua ứng dụng công nghệ thông tin.
4. Khách thể và đối tượng nghiên cứu
- Khách thể nghiên cứu của đề tài là trẻ độ tuổi 3 - 4 tuổi.
- Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các nội dung và phương pháp tích
hợp giáo dục thói quen vệ sinh cá nhân cho trẻ 3 - 4 tuổi thông qua ứng dụng
công nghệ thông tin.
5. Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu của đề tài là tích hợp giáo dục thói quen vệ sinh cá
nhân cho trẻ 3 - 4 tuổi thông qua ứng dụng công nghệ thông tin.
6. Phương pháp nghiên cứu
6.1. Phương pháp nghiên cứu lí thuyết
Để tìm hiểu cơ sở lí luận của đề tài, chúng tôi nghiên cứu những giáo
trình liên quan như: Giáo trình Vệ sinh trẻ em (Hoàng Thị Phương, Trần
Thanh Tùng); Giáo trình Tâm lí học mầm non (Nguyễn Ánh Tuyết ); Giáo
trình Sinh lí trẻ em (Lê Thanh Vân).
6.2. Phương pháp quan sát
Để tìm hiểu thực trạng việc tích hợp giáo dục thói quen vệ sinh cá nhân
cho trẻ 3 - 4 tuổi thông qua ứng dụng công nghệ thông tin, chúng tôi dự giờ
5
các tiết học ở lớp trẻ 3 - 4 tuổi.
6.3. Phương pháp điều tra
Chúng tôi tiến hành điều tra thực trạng việc thực hiện tích hợp giáo dục
thói quen vệ sinh cá nhân cho trẻ 3 - 4 tuổi thông qua ứng dụng công nghệ
cài, cởi cúc áo.
+ Nhanh nhẹn, khéo léo khi thực hiện vận động chạy hoặc bò trong
đường hẹp.
+ Biết tên một số thực phẩm, món ăn quen thuộc và chấp nhận ăn các
loại thức ăn khác nhau.
+ Thực hiện một số việc tự phục vụ trong sinh hoạt với sự giúp đỡ của
người lớn (Rửa tay, lau mặt, súc miệng, Tháo tất, cởi quần, áo,...).
+ Biết tránh một số vật dụng, nơi nguy hiểm khi được nhắc nhở.
• Phát triển nhận thức:
+ Thích tìm hiểu khám phá đồ vật và hay đặt các câu hỏi: Ai đây? cái
gì đây?
+ Nói được một vài điểm nổi bật của sự vật, hiện tượng quen thuộc.
+ Nhận biết được sự thay đổi rõ nét của sự vật hiện tượng.
+ Nhận biết được tay phải tay trái của bản thân.
7
+ Đếm được trong phạm vi 5.
+ Nhận biết được sự khác nhau về kích thước của 2 đối tượng.
+ Gọi đứng tên hình tròn, hình vuông, hình tam giác.
+ Nhận biết một số nghề phổ biến, gần gũi.
+ Biết họ và tên của bản thân, tên của người thân trong gia đình, tên
trường, tên lớp mầm non.
• Phát triển ngôn ngữ:
+ Nghe hiểu lời nói trong giao tiếp đơn giản.
+ Diễn đạt nhu cầu, mong muốn để người khác hiểu.
+ Trả lời đước một số câu hỏi của người khác.
+ Kể lại chuyện dựa theo câu hỏi.
quyện vào nhau. Nhà giáo dục muốn đưa ra cách tổ chức hoạt động phù hợp
cho trẻ cần phải dựa vào đặc điểm phát triển của lứa tuổi mầm non. Sự phát
triển của trẻ mầm non hiện nay có một số đặc điểm như sau:
Sự phát triển cơ thể của trẻ ở lứa tuổi mầm non diễn ra với một tốc độ
nhanh. Sự tăng trưởng được biểu hiện ở dấu hiệu tăng kích thước cơ thể. So
với 40 năm trước, tính chung trên thế giới trong đó có Việt Nam, trẻ cùng độ
tuổi cao hơn 0.5 đến 1 cm. nặng hơn 100 đến 150g. So với 75 năm trước trẻ 1
tuổi cao hơn 5cm nặng hơn từ 1 đến 2kg. Hiện tượng tăng tốc phát triển chiều
cao, cân nặng biểu hiện rõ nhất ở tuổi nhà trẻ mẫu giáo.
Tốc độ tăng trọng lượng não nhanh nhất là ở giai đoạn từ 0 đến 3 tuổi: ở
độ tuổi này diễn ra quá trình miêlin hoá các sợi thần kinh, phân hoá về cấu tạo
và chức phận giữa các tế bào vỏ não. Vỏ não có tới 100 tỉ nguồn (tế bào thần
kinh), mỗi nơron có thể có tới 10000 xinap (điện tiếp hợp giữa các nơron).
Ngay từ khi lọt lòng, số lượng nơron vỏ đại não đã được hình thành ổn định.
Từ 0 đến 2 tuổi diễn ra quá trình phức tạp hoá dần dần mối liên hệ giữa các
nơron. từ 1 đến 3 tuổi là thời kì hoàn chỉnh hoá hệ thần kinh về hình thái và
chức năng. Từ 3 tuổi trở đi trọng lượng củ não tăng chủ yếu là do tăng số sợi
thần kinh, phát triển các sợi thần kinh. Vào khoảng từ 5 đến 6 tuổi các vùng
liên hợp trên vỏ não đã tương đối hoàn chỉnh. Người ta cũng đã xác định được
9
là hoạt động thần kinh hướng tâm (cảm giác) hoàn chỉnh vào khoảng 6 - 7
tuổi còn hoạt động thần kinh li tâm (vận động) hoàn chỉnh muộn hơn vào lúc
2 - 5 tuổi.
Cơ thể của trẻ, đặc biệt là trẻ dưới 3 tuổi rất non nớt, nhạy cảm với tác
động của thời tiết, dịch bệnh, sức đề kháng yếu. Trẻ hay mắc các bệnh thường
gặp bệnh truyền nhiễm và một số bệnh về đường hô hấp, đường tiêu hoá…
Trẻ dễ bị tai nạn và luôn cần sự giúp đỡ của người lớn nhằm đảm bảo an toàn
thích cho người lớn và các bạn cùng tuổi hiểu được những ý đồ của mình. Và
ngôn ngữ giải thích cũng đang được phát triển trong độ tuổi mẫu giáo lớn.
Kiểu ngôn ngữ này đòi hỏi đứa trẻ phải trình bày ý kiến của mình theo một
trình tự nhất định, phải nêu bật những điểm chủ yếu và những mối quan hệ
liên kết giữa các sự vật, hiện tượng một cách hợp lí để người nghe dễ đồng
tình.
Các quá trình tâm lí cùng các phẩm chất tâm lí cá nhân phát triển và Các
công trình khoa học nghiên cứu về trẻ em cho rằng, ngày nay với sự biến đổi
và đổi mới không ngừng của hiện thực khách quan, trí tuệ của trẻ em được
phát triển sớm (trẻ khôn hơn). Khuynh hướng, nhu cầu, hứng thú, thị hiếu,
thẩm mĩ của trẻ ngày càng mở rộng và trở nên đa dạng phong phú. Tuy nhiên,
trẻ cần có sự động viên khuyến khích và trợ giúp của người lớn.
Trẻ tự tin vào bản thân và càng ngày càng nhận thức được những suy
nghĩ và hành động của bản thâm. Trẻ có hứng thú và biểu hiện sự quan tâm
đến gia đình, cộng đồng và bạn bè.
Cuối tuổi nhà trẻ, “cái tôi” xuất hiện kèm theo khủng hoảng của tuổi lên
ba trẻ thích tự làm lấy mọi điều và muốn có thẩm quyền với mọi thứ xung
quanh và trẻ hiểu được những hành vi đạo đức sơ đẳng trong xã hội. Trẻ thích
khám phá thế giới đồ vật. học cách chơi cùng đồ vật xung quanh và chính
trong hoạt động với đồ vật, biết được “Cái”, và “Cách” lĩnh hội kinh nghiệm
lịch sử - xã hội (nền văn hoá Người).
Bước sang lứa tuổi mẫu giáo, ý thức bản ngã được xác định rõ ràng cho
11
phép trẻ thực hiện các hành động một cách chủ tâm hơn, nhờ đó mà quá trình
tâm lí mang tính linh động rõ rệt. Trẻ mẫu giáo là những cá thể có những
năng lực riêng, có những sáng kiến, có khả năng tư duy và giao tiếp với mọi
người.
Trẻ mẫu giáo rất ham học hỏi tìm tòi. Chúng thích quan sát, tìm hiểu thế
lực tự kiềm chế kém, cho nên không nên để trẻ kéo dài thời gian hưng phấn
vui chơi quá nhiều.
Sức chống đỡ bệnh tật của trẻ đã tăng dần, số lần mắc bệnh giảm xuống
so với lúc trẻ dưới 3 tuổi, song phạm vi hoạt động của trẻ mở rộng ra nhiều,
nên sức miễn dịch còn yếu, dễ mắc các bệnh truyền nhiễm như bệnh đậu mùa,
bệnh quai bị,…
Các cơ bắp ở trẻ 4 tuổi có thể nâng đỡ được trọng lượng của cơ thể. Trẻ
có thể thay thế chạy, nhảy, biết dùng đôi tay để nắm chặt đồ vật, biết leo trèo,
đôi chân chạy nhảy liên tục. Trong quá trình chạy chơi, trẻ cảm thấy vô cùng
thích thú, cho nên suốt ngày chạy nhảy, không lúc nào ngồi yên. Trẻ ở giai
đoạn này có đặc điểm nổi bật là hoạt bát, hiếu động chính là do sự phát triển
của cơ thể quyết định.
• Đặc điểm tâm lí trẻ 3 - 4 tuổi
* Chú ý
Nhiều phẩm chất chú ý của trẻ ở độ tuổi này được hình thành và phát
triển mạnh do sự tiếp xúc với nhiều dạng đồ vật, những loại âm thanh, màu
sắc, độ di động khác nhau, kích thích phản xạ định hướng của trẻ.
Khối lượng chú ý tăng đáng kể, khối lượng chú ý không chỉ là số lượng
đồ vật trong cùng một thời điểm trẻ tri giác được nhiều, mà ngay một vật trẻ
chú ý được nhiều thuộc tính, tính chất hơn. Khối lượng chú ý của trẻ cũng
tăng lên dưới tác động của ngôn ngữ.
Tính bền vững của chú ý: Tính bền vững của chú ý tăng đáng kể theo
số liệu nghiên cứu thì trẻ 3 - 4 tuổi chú ý được 27 phút so với trẻ 1 tuổi là
14,5 phút.
Tính chủ định của chú ý phát triển mạnh.
14
* Ngôn ngữ
các sự kiện, hiện tượng mà trẻ tri giác được gắn với hoàn cảnh cụ thể.
Tư duy của trẻ mang tính chất cụ thể, hình ảnh, cảm xúc.
Ở giai đoạn này tư duy của trẻ chủ yếu là tư duy hành động - trực quan,
đồng thời phát triển tư duy hình ảnh - trực quan, mầm móng tư duy từ ngữ lôgic xuất hiện.
* Tưởng tượng
Đến lứa tuổi này tưởng tượng của trẻ phát triển mạnh cả về dạng loại và
các mức độ phong phú của hình ảnh tưởng tượng. Hình ảnh tưởng tượng
thường gắn với biểu tượng trong hoàn cảnh cụ thể giới hạn bởi kinh nghiệm
tích luỹ được ở lứa tuổi này.
Trẻ bắt đầu xuất hiện tưởng tượng có chủ định và tưởng tượng sáng tạo.
Ngôn ngữ có ý nghĩa rất lớn kích thích tưởng tượng của trẻ phát triển.
1.1.3. Thói quen vệ sinh cá nhân
1.1.3.1. Sự cần thiết phải giáo dục vệ sinh cá nhân cho trẻ
Cơ thể trẻ em đang phát triển, hệ thần kinh chưa hoàn chỉnh, sức chống
đỡ với bệnh tập nói chung cũng như khả năng thích ứng của da còn yếu nên
trẻ dễ bị mắc các bệnh nhiễm khuẩn cũng như dễ bị ảnh hưởng của yếu tố thời
tiết và môi trường. Vì vậy việc giáo dục trẻ em có thói quen vệ sinh dựa trên
sự hình thành phản xạ có điều kiện sẽ giúp trẻ có được những thói quen tốt có
lợi cho sức khỏe.
Việc vệ sinh cá nhân cho trẻ em không giống với vệ sinh cá nhân của
người lớn về mức độ do đặc điểm giải phẫu sinh lý của trẻ em khác với người
lớn.
1.1.3.2. Nội dung vệ sinh cá nhân cho trẻ
Vệ sinh cá nhân chủ yếu là giữ gìn thân thể sạch sẽ (đầu tóc, mặt mũi,
chân tay, răng miệng, quần áo…), vệ sinh đồ dùng cá nhân. Cụ thể:
Dạy trẻ cách rửa mặt, rửa tay chân, đánh răng, chải đầu, mặc quần áo
gọn gàng sạch sẽ.
Giáo dục trẻ thói quen rửa tay bằng xà phòng và nước sạch trước khi ăn,
16
17
- Đồ dùng để vệ sinh:
Giấy vệ sinh mềm, sạch sẽ, phù hợp với trẻ
Nước sạch, đồ dùng lau, rửa cho trẻ.
Chăm sóc và hướng dẫn trẻ thực hiện vệ sinh cá nhân
- Vệ sinh da:
+Vệ sinh mặt mũi:
Hướng dẫn trẻ tự lau mặt sạch sẽ trước và sau khi ăn, khi mặt bị bẩn.
Hướng dẫn trẻ lau mắt trước lau xuôi về phía đuôi mắt, chuyển dịch khăn sao
cho da mặt của trẻ luôn luôn được tiếp xúc với phần khăn sạch. Mùa đông cần
chuẩn bị khăn ấm cho trẻ lau.
+ Vệ sinh bàn tay:
Hướng dẫn trẻ tự rửa tay và tự lau tay khô theo đúng trình tự, đảm bảo
vệ sinh.
Trường hợp trẻ mới vào lớp, nên hướng dẫn trẻ tỉ mỉ từng thao tác rửa
tay và tập cho trẻ làm quen dần với việc tự phục vụ.
- Vệ sinh răng miệng:
Thường xuyên nhắc nhở trẻ uống nước và súc miệng sau khi ăn.
Hướng dẫn trẻ cách chải răng và kết hợp với gia đình để dạy trẻ tập
chải răng ở nhà. Tuyên truyền cho phụ huynh không nên cho trẻ ăn quà vặt
nhất là kẹo, bánh ngọt.
Khám răng định kì để phát hiện sớm răng sâu và chữa trị kịp thời.
- Hướng dẫn trẻ đi vệ sinh:
Hướng dẫn trẻ đi vệ sinh đúng nơi quy định. Dạy trẻ cách giữ vệ sinh
cho bản thân, giữ gìn nhà vệ sinh sạch sẽ. Nhắc trẻ dội nước, rửa tay sau khi
đi vệ sinh.
- Giữ gìn quần áo, giày dép sạch sẽ:
Không để trẻ mặc quần áo ẩm, ướt. Khi trẻ bị nôn hoặc đại, tiểu tiện ra