Giáo dục kỹ năng bảo vệ môi trường cho trẻ 5 6 tuổi trong hoạt động khám phá khoa học ở trường mầm non - Pdf 42

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
----------

NGUYỄN THỊ TẤM

GIÁO DỤC KỸ NĂNG BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG
CHO TRẺ 5-6 TUỔI TRONG HOẠT ĐỘNG KHÁM PHÁ
KHOA HỌC Ở TRƯỜNG MẦM NON

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

HÀ NỘI - 2017

i


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
----------

NGUYỄN THỊ TẤM

GIÁO DỤC KỸ NĂNG BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG
CHO TRẺ 5-6 TUỔI TRONG HOẠT ĐỘNG KHÁM PHÁ
KHOA HỌC Ở TRƯỜNG MẦM NON
Chuyên ngành: Giáo dục học (Giáo dục mầm non)
Mã số: 60.14.01.01

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC


1. MN

: Mầm non

2. KNBVMT : Kĩ năng bảo vệ môi trường
3. BVMT

: Bảo vệ môi trường

4. KPKH

: Khám phá khoa học

5. GVMN

: Giáo viên mầm non

6. TCHT

: Trò chơi học tập

7. TN

: Thực nghiệm

8. MG

: Mẫu giáo

8. ĐC

Bảng 1.5. Mức độ sử dụng TCHT trong các hoạt động của trẻ.

46

Bảng 1.6. Các bước thiết kế TCHT giáo dục KNBVMT cho trẻ MG 5-6

47

tuổi.
Bảng 1.7. Những khó khăn của GV sử dụng TCHT giáo dục KNBVMT

47

của trẻ 5-6 tuổi.
Bảng 1.8. Mức độ thực hiện KNBVMT của trẻ 5-6 tuổi.

50

Bảng 3.1. Kết quả khảo sát KNBVMT của trẻ nhóm ĐC và nhóm TN

72

trước TN (tính theo %).
Bảng 3.2. Mức độ thực hiện KNBVMT của trẻ nhóm ĐC và nhóm TN

74

trước TN (tính theo điểm TB).
Bảng 3.3 Kết quả khảo sát KNBVMT của trẻ nhóm ĐC và nhóm TN sau


Trang

PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài

1

2. Mục đích nghiên cứu

2

3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu

2

4. Giả thuyết khoa học

2

5. Nhiệm vụ nghiên cứu

3

6. Giới hạn phạm vi nghiên cứu

3

7. Phương pháp nghiên cứu

3


1.2.1. Khái niệm kĩ năng

16

1.2.2. Khái niệm môi trường

17

1.2.3. Khái niệm giáo dục kĩ năng bảo vệ môi trường

18

1.2.4. Các kĩ năng bảo vệ môi trường của trẻ 5-6 tuổi ở trường mầm non

20

1.3. Hoạt động khám phá khoa học và vai trò của nó đối với việc giáo

21

dục hành vi bảo vệ môi trường cho trẻ 5-6 tuổi
1.3.1 Khái niệm Hoạt động khám phá khoa học

vii

21


1.3.2. Vai trò của hoạt động khám phá khoa học trong giáo dục kĩ năng

1.5.1. Mục tiêu của việc giáo dục kĩ năng bảo vệ môi trường cho trẻ 5-6

29

tuổi qua trò chơi học tập trong hoạt động khám phá khoa học
1.5.2. Nội dung giáo dục kĩ năng bảo vệ môi trường cho trẻ 5-6 tuổi qua

29

trò chơi học tập trong hoạt động khám phá khoa học
1.5.3. Sử dụng trò chơi học tập trong hoạt động khám phá khoa học

31

nhằm giáo dục kĩ năng bảo vệ môi trường cho trẻ 5-6 tuổi
1.5.4. Quá trình giáo dục kĩ năng bảo vệ môi trường cho trẻ 5-6 tuổi ở

32

trường mầm non
1.6. Các yếu tố ảnh hưởng đến việc giáo dục kĩ năng bảo vệ môi

34

trường cho trẻ 5-6 tuổi qua trò chơi học tập trong hoạt động khám
phá khoa học
1.6.1. Khả năng nhận thức và mức độ tham gia vào trò chơi học tập

34


40

tuổi trong hoạt động khám phá khoa học ở trường mầm non
2.2.1. Khái quát về quá trình điều tra

40

2.2.2. Kết quả thực trạng

41

2.3. Thực trạng mức độ thực hiện kĩ năng bảo vệ môi trường của trẻ

49

5-6 tuổi thông qua trò chơi học tập trong hoạt động khám phá khoa
học
2.3.1.Tiêu chí và thang đánh giá kết quả giáo dục kĩ năng bảo vệ môi

49

trường đối với trẻ 5-6 tuổi thông qua trò chơi học tập trong hoạt động
khám phá khoa học ở trường mầm non.
2.3.2. Kết quả khảo sát

50

Kết luận chương 2

54

3.1.4. Bảo đảm cho trẻ được luyện tập nhiều lần trong ngày

57

3.2 Các biện pháp giáo dục kĩ năng bảo vệ môi trường cho trẻ 5-6 tuổi

57

qua trò chơi học tập trong hoạt động khám phá khoa học
3.2.1. Biện pháp 1: Lựa chọn trò chơi học tập từ nhiều nguồn khác nhau và

57

xác định mục đích giáo dục kĩ năng bảo vệ môi trường cho trẻ 5-6 tuổi.
3.2.2. Biện pháp 2. Thiết kế các trò chơi học tập giáo dục kĩ năng bảo vệ

59

môi trường cho trẻ 5-6 tuổi trong hoạt động khám phá khoa học
3.2.3 Biện pháp 3. Lập kế hoạch và hướng dẫn sử dụng trò chơi học tập

65

giáo dục kĩ năng bảo vệ môi trường trong hoạt động khám phá khoa học
ở trường mầm non
3.2.4. Mối quan hệ giữa các biện pháp giáo dục kĩ năng bảo vệ môi trường

70

cho trẻ 5-6 tuổi qua trò chơi học tập trong hoạt động khám phá khoa học


3.3.6.1. Kết quả khảo sát trước thực nghiệm

72

3.3.6.2. Kết quả khảo sát sau thực nghiệm

75

Kết luận chương 3

83

Kết luận và khuyến nghị

84

1. Kết luận

84

2. Khuyến nghị

85

Tài liệu tham khảo

87

Phụ lục

trình chăm sóc - giáo dục trẻ MN mới, nội dung giáo dục BVMT cho lứa tuổi
MN được tích hợp trong từng chủ đề. Hoạt động KPKH mang đến cho trẻ những
cảm nhận mới lạ về môi trường xung quanh, phát triển về nhận thức cho trẻ, hình
1


thành ở trẻ lòng yêu thiên nhiên, có ý thức giữ gìn vệ sinh môi trường, biết
BVMT. Vì thế việc giúp trẻ có những trải nghiệm, hình thành và phát triển thẩm
mỹ ở trẻ sự cảm thụ cái đẹp của thiên nhiên, lòng yêu thiên nhiên, có ý thức
BVMTthì việc sử dụng có hiệu quả việc giáo dục KNBVMT cho trẻ 5-6 tuổi qua
TCHT trong hoạt động KPKH là một giải pháp quan trọng.
Tuy nhiên, trong thực tế hiện nay ở các trường MN đều tổ chức các hoạt
động KPKH cho trẻ nhưng chưa đầu tư nhiều về thời gian, đa số GV chỉ truyền
đạt đến trẻ những kiến thức qua việc cho trẻ xem tranh ảnh trong hoạt động
KPKH mà trẻ ít được thực hành. Qua việc trao đổi với GV, cho thấy GV ít tạo
điều kiện cho trẻ được trực tiếp tham gia vào hoạt động khám phá vì thế trẻ chưa
có nhiều cơ hội trải nghiệm, tìm hiểu về thế giới thực vật dẫn đến trẻ chưa được
mở rộng hơn về nhận thức để từ đó có ý thức BVMT.
Với lý do trên, tôi lựa chọn thực hiện đề tài: “ Giáo dục kĩ năng bảo vệ
môi trường cho trẻ 5-6 tuổi trong hoạt động KPKH ở trường mầm non”.
2. Mục đích nghiên cứu
Đề xuất một số biện pháp giáo dục KNBVMT cho trẻ 5-6 tuổi trong hoạt
động KPKH ở trường MN.
3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1. Khách thể nghiên cứu
Quá trình giáo dục KNBVMTcho trẻ 5 - 6 tuổi ở trường MN.
3.2. Đối tượng nghiên cứu
Một số biện pháp giáo dục KNBVMTcho trẻ 5-6 tuổi trong hoạt động
KPKH ở trường MN.
4. Giả thuyết khoa học

7. Phương pháp nghiên cứu
7.1. Nhóm phương pháp nghiên cứu lí luận:
- Phân tích và hệ thống hóa các vấn đề lí luận có liên quan đến đề tài.
3


- Phân loại và hệ thống hóa - khái quát hóa lí thuyết.
- Cụ thể hóa lí thuyết.
7.2. Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
7.2.1. Phương pháp quan sát:
Dự giờ, quan sát và ghi chép KNBVMT của trẻ 5-6 tuổi qua các hoạt động
và sinh hoạt hàng ngày của trẻ ở trường MN. Đồng thời chúng tôi kết hợp quan
sát hoạt động của GVMN trong quá trình tổ chức các hoạt động giáo dục BVMT
để có cơ sở đánh giá thực trạng giáo dục BVMT cho trẻ ở trường MN hiện nay.
7.2.2. Phương pháp điều tra:
Sử dụng phiếu thăm dò ý kiến GV để tìm hiểu nhận thức, thái độ cũng như
cách sử dụng TCHT của GV trong hoạt động KPKH nhằm hình thành kĩ năng
BVMT cho trẻ 5-6 tuổi. Phiếu điều tra được thiết kế với hệ thống câu hỏi đã
được in sẵn để tìm hiểu nhận thức, thái độ của họ đối với việc giáo dục BVMT
cho trẻ 5-6 tuổi ở trường MN hiện nay.
7.2.3. Phương pháp đàm thoại
Tiến hành trao đổi với GV và cán bộ phụ trách chuyên môn ở trường MN
về những vấn đề có liên quan đến việc sử dụng TCHT trong hoạt động KPKH
nhằm giáo duc KNBVMT cho trẻ 5-6 tuổi. Trò chuyện, đàm thoại với trẻ để tìm
hiểu khó khăn, thuận lợi của trẻ trong việc giáo dục BVMT hiện nay.
7.2.4. Phương pháp lấy ý kiến chuyên gia
Trưng cầu ý kiến của các chuyên gia, các nhà GDMN về những vấn đề có
liên quan đến việc giáo dục BVMT cho trẻ 5-6 tuổi.
7.2.5. Phương pháp nghiên cứu sản phẩm
Nghiên cứu kế hoạch, giáo án tổ chức hoạt động KPKH của GVMN, đặc

Chương 3: Một số biện pháp giáo dục KNBVMT cho trẻ 5-6 tuổi trong
hoạt động KPKH và TN sư phạm.

5


CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA GIÁO DỤC KĨ NĂNG BẢO VỆ MÔI
TRƯỜNG CHO TRẺ 5-6 TUỔI TRONG HOẠT ĐỘNG KHÁM PHÁ
KHOA HỌC Ở TRƯỜNG MẦM NON.
1. 1. Vài nét về lịch sử nghiên cứu vấn đề
1.1.1. Ở nước ngoài
Giáo dục môi trường là một việc làm vô cùng quan trọng và cấp thiết
trước biến đổi lớn của khí hậu và nguy cơ tàn phá thảm khốc của con người đối
với thiên nhiên. Sự cạn kiệt dần của tài nguyên thiên nhiên và sự giảm sút về
chất lượng môi trường đang là những vấn đề nóng bỏng trong các hội nghị toàn
cầu. Thế giới nói chung và từng quốc gia nói riêng ngày càng có sự quan tâm đặc
biệt đến vấn đề BVMT và cải tạo môi trường.
Năm 1948, tại cuộc họp Liên hợp Quốc về BVMT và tài nguyên thiên
nhiên ở Pari, thuật ngữ “Giáo dục môi trường” đã được sử dụng. Tuy nhiên việc
giáo dục môi trường thực sự được quan tâm khi những hiểm họa về sự tồn vong
của con người đã trở nên báo động. Trái đất - Ngôi nhà chung của nhân loại bị ô
nhiễm và suy thoái nghiêm trọng do chính những hành động mà con người gây
ra. Sau đó, các quốc gia trên thế giới đã lần lượt tổ chức các hội nghị, hội thảo và
đề ra được nhiều chiến lược, sách lược quan trọng về vấn đề bảo vệ môi trường
theo những hướng cơ bản sau [5]:
Thứ nhất, nghiên cứu về mục tiêu, nguyên tắc giáo dục môi trường.
Vào tháng 5 năm 1958, Hội đồng cộng đồng châu âu đã họp và thống nhất đưa
ra nghị quyết về giáo dục môi trường với những mục tiêu và nguyên tắc sau:
- Mục tiêu của giáo dục môi trường là nâng cao nhận thức của nhân dân

Năm 1977, tại Tbilisi (Liên Xô) UNESCO [4] đã tổ chức Hội nghị Liên
chính phủ đầu tiên về giáo dục môi trường bao gồm 66 nước tham dự. Hội nghị
đưa ra các ý kiến đóng góp cho việc áp dụng rộng rãi nội dung giáo dục môi
7


trường trong chương trình giáo dục chính thức và không chính thức. Nội dung về
giáo dục môi trường trong văn kiện của Hội nghị có thể tóm tắt như sau: “ Nếu
như muốn đạt được các mục tiêu bảo tồn thì hành vi cư xử của một xã hội đối
với sinh quyển bắt buộc phải thay đổi... Nhiệm vụ lâu dài của giáo dục môi
trường là khuyến khích hoặc củng cố các hành vi, thái độ mang tính đạo đức
mới”.
Sau đó vào năm 1987, nhân kỷ niệm 10 năm Hội nghị Tbilisi đầu tiên, một
loạt các vấn đề cơ bản về môi trường được đưa ra thảo luận, trong đó nhấn mạnh
đặc biệt tới tầm quan trọng của giáo dục môi trường, và khẳng định sẽ không thể
giảm được mối đe dọa mang tính khu vực và quốc tế đối với môi trường trừ phi
ý thức của đại đa số quần chúng được thức tỉnh.
Trong năm 1987, Ủy ban thế giới về môi trường và sự phát triển đã có báo
cáo “ Tương lai chung của chúng ta” (WCED 1987) [12]. Bản báo cáo đã đưa ra
công bố “Chương trình nghị sự toàn cầu”. Giáo dục được coi là trọng tâm của
chương trình này: “ Sự thay đổi thái độ mà chúng ta cố gắng phụ thuộc vào các
chiến dịch giáo dục lớn, các cuộc thảo luận và sự tham gia của quần chúng”.
Môi trường và sự phát triển có mối quan hệ với nhau. Chính sự suy thoái
về môi trường là vật cản chủ yếu đối với sự phát triển. Bảo vệ môi trường là mục
tiêu quan trọng nhất để đạt được tốc độ phát triển bền vững.
Hội nghị Thượng đỉnh (UNCED) diễn ra tại Rio de Janeco (Brazil) [4] vào
năm 1992 có 170 nước tham dự. Hội nghị thảo luận vấn đề mấu chốt là “Chương
trình Nghị sự 21”. Chương trình nhằm chỉ ra cho các quốc gia biết cần phải làm
những gì để đạt được sự phát triển mang tính chất duy trì trong thế kỷ XXI. Hội
nghị nhất trí cao phát triển và giáo dục môi trường phải là một bộ phận thống nhất

trường trước khi tiêu thụ thực phẩm” nhằm khuyến khích mọi người có ý thức
hơn về các tác động tới môi trường từ việc lựa chọn thực phẩm của mình, từ đó

9


đưa ra được những quyết định sáng suốt. Chủ đề ngày môi trường thế giới năm
2014 là “Hãy hành động để ngăn chặn nước biển dâng” [18].
Mỗi quốc gia trên thế giới đều có cách thức BVMT riêng biệt phù hợp với
thực trạng môi trường, con người và điều kiện KT-XH ở nước đó. Giáo dục môi
trường được tiến hành song song giữa giáo dục gia đình, nhà trường và xã hội
bằng các biện pháp, phương pháp đa dạng nhằm tác động đến ý thức của mỗi
công dân.
Nhìn chung giáo dục môi trường thường được tiến hành dựa trên những
điểm cơ bản sau đây:
+ Tiếp cận và trải nghiệm các vấn đề môi trường trong thực tế.
+ Tăng cường những hiểu biết về môi trường.
+ Khuyến khích tham gia các hoạt động vì môi trường.
+ Hình thành và phát triển kĩ năng BVMT.
+ Hình thành thái độ và trách nhiệm đối với môi trường.
Ở nhiều quốc gia, giáo dục môi trường được đưa vào giảng dạy như một
môn học chính khóa nhưng cũng có nhiều nước lại đưa vào giảng dạy như một
môn học tự chọn. Các quốc gia này đều thấy được nếu chỉ học trên lớp vẫn chưa
đủ mà cần phải có kinh nghiệm của cuộc sống thực tế, giáo dục nhận thức và
hành động phải được tiến hành đồng thời, có hiệu quả.
Sau khi nghiên cứu vấn đề giáo dục ở một số quốc gia trên thế giới, chúng
tôi thấy có 2 xu hướng cơ bản: Thứ nhất, giáo dục môi trường bằng cách tiếp cận
như những môn học, những chuyên đề nhỏ, một khóa học với những nội dung rất
gần gũi, địa điểm học thú vị. Thứ hai, giáo dục môi trường được lồng ghép, tích
hợp vào các lĩnh vực, các hoạt động giáo dục khác nhau.

ở cả chiều dọc và chiều ngang. Tích hợp theo chiều dọc là sự liên thông logic các
kiến thức giáo dục môi trường và các kĩ năng qua các bậc học và năm học. Tích

11


hợp theo chiều ngang là sự lồng ghép giáo dục môi trường vào các môn học ở
bậc học đó.
Ở Nhật Bản, giáo dục môi trường được gắn liền với nhiệm vụ giáo dục
đạo đức, phát triển các kĩ năng xã hội, cụ thể là “Ý thức nhóm”. Khuynh hướng
giáo dục này đã đạt được những thành tựu đáng kể trong giáo dục sinh thái và
môi trường cho thế hệ trẻ.
Qua các công trình nghiên cứu về giáo dục môi trường ở các quốc gia trên
thế giới thì giáo dục môi trường trong gia đình, nhà trường và cộng đồng là 3
phạm vi cơ bản. Các quốc gia cũng đã nhận ra vai trò quan trọng của GV trong
việc giáo dục bảo vệ môi trường ở tất cả các bậc học. Vì vậy việc trang bị kiến
thức về môi trường cho GV là điều mà nhiều quốc gia quan tâm đặc biệt.
1.1.2. Ở Việt Nam
Ở Việt Nam, vấn đề giáo dục môi trường được coi là một bộ phận không thể
tách rời của sự nghiệp giáo dục và là nhiệm vụ của toàn dân. Công tác giáo dục môi
trường đã được đặt ra trong các văn bản của Nhà nước, Bộ giáo dục và đào tạo; là cơ
sở triển khai công tác giáo dục môi trường trong thực tiễn.
Từ năm 1991, Đảng và Nhà nước ta đã quan tâm và chú trọng nhiều đến
việc tổ chức quản lí, đưa công tác bảo vệ môi trường vào cuộc sống, xây dựng hệ
thống luật pháp, nâng cao nhận thức của nhân dân, tăng cường đầu tư cho công
tác bảo vệ môi trường.
Năm 1993, Quốc hội đã thông qua Luật bảo vệ môi trường [22]. Trong điều 4
của Luật đã xác định rõ giáo dục và đào tạo là một trong những nhiệm vụ bảo vệ môi
trường: “Nhà nước có trách nhiệm tổ chức việc thực hiện giáo dục và đào tạo,
nghiên cứu khoa học và công nghệ, phổ biến kiến thức về khoa học và pháp luật bảo

cộng đồng và mọi người dân, BVMT mang tính quốc gia, khu vực và toàn cầu
cho nên phải kết hợp giữa phát huy nội lực với tăng cường hợp tác quốc tế.

13


- BVMT phải trên cơ sở tăng cường quản lý nhà nước, thể chế và pháp
luật đi đôi với việc nâng cao nhận thức và ý thức trách nhiệm của mọi người dân,
của toàn xã hội về BVMT.
- BVMT là việc làm thường xuyên, lâu dài, coi phòng ngừa là chính, kết
hợp với xử lý và kiểm soát ô nhiễm, khắc phục suy thoái, cải thiện chất lượng
môi trường, tiến hành có trọng tâm, trọng điểm, coi khoa học và công nghệ là
công cụ hữu hiệu trong BVMT.
Ngày 15/11/2004, Bộ Chính trị đã ra Nghị quyết 41/NQ/TW về “ BVMT
trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước” với phương châm “Lấy phòng
ngừa và hạn chế tác động xấu đối với môi trường là chính”, Nghị quyết tuyên
truyền, giáo dục nâng cao nhận thức và trách nhiệm BVMT là giải pháp số 1
trong 7 giải pháp BVMTvà xác định “Đưa nội dung giáo dục BVMT vào hệ
thống giáo dục quốc dân, tăng cường thời lượng và tiến tới hình thành môn học
chính khóa đối với các lớp học phổ thông”.
Xuất phát từ những chủ chương, chính sách của Đảng và Nhà nước trong
các văn bản vừa kể trên, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ban hành chính sách và
chiến lược giáo dục BVMT, tổ chức triển khai các nhiệm vụ về giáo dục BVMT
và thực hiện tốt các hoạt động giáo dục BVMT trong nhà trường, chủ trương xây
dựng các trường học xanh - sạch - đẹp, phong trào xanh hóa nhà trường.
Ngày 31/01/2005, Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ra chỉ thị số
02/2005/CT/BGD&ĐT về “Tăng cường công tác giáo dục BVMTtrong hệ thống
giáo dục quốc dân”. Chỉ thị đã xác định rõ mục tiêu, nội dung của công tác giáo
dục BVMT.
Ngày 21/04/2006, Vụ giáo dục Mầm non, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã có


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status