LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn: “Huy động các nguồn lực từ cộng đồng cho
các hoạt động giáo dục ở trường tiểu học Long An B” là công trình nghiên cứu
của chính cá nhân tôi dưới sự hướng dẫn tận tình của PGS.TS. Phó Đức Hòa. Số
liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn hoàn toàn trung thực, khách quan và chưa
từng được sử dụng để bảo vệ một học vị nào.
Tôi xin cam đoan các trích dẫn trong luận văn đều đã được chỉ rõ nguồn gốc và
xin chân thành cảm ơn tất cả sự giúp đỡ, hỗ trợ để luận văn này được hoàn thành.
Hà Nội, tháng 3 năm 2017
Tác giả,
Đinh Trần Kim Ngân
LỜI CẢM ƠN
Tôi xin bày tỏ lòng tri ân sâu sắc đến thầy giáo PGS. TS Trịnh Văn
Minh đã tận tình hướng dẫn cho tôi trong suốt quá trình hoàn thành luận văn.
Tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn đến quý thầy cô trong Khoa Tâm lý – Giáo dục
học trường Đại học sư phạm Hà Nội đã đào tạo, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình
học tập và nghiên cứu.
Tôi xin trân trọng cám ơn các thầy cô Phòng giáo dục và đào tạo huyện
Long Hồ, trường tiểu học Long An B; các quý mạnh thường quân, phụ huynh
học sinh; các cán bộ chính quyền địa phương đã giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn.
Tôi xin chân thành cảm ơn gia đình, bạn bè đã giúp đỡ, động viên trong
quá trình làm luận văn.
Trong quá trình thực hiện, do thời gian có hạn và năng lực cá nhân còn
hạn chế nên không tránh khỏi những thiếu sót, rất mong nhận được sự quan tâm
đóng góp của quý thầy cô và bạn bè để luận văn được hoàn thiện hơn.
Xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, tháng 3 năm 2017
Tác giả,
PGD&ĐT
Phòng giáo dục và đào tạo
PHHS
Phụ huynh học sinh
XHHGD
Xã hội hóa giáo dục
3
DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1 Quy mô phát triển của Trường tiểu học Long An B
năm học 2015 – 2016 ................................................................................... 55
Bảng 2.2 Chất lượng của HS Trường tiểu học Long An B ............................ 57
Bảng 2.3 Nhận thức về tầm quan trọng của công tác XHHGD ..................... 60
Bảng 2.4 Nhận thức về lợi ích của công tác XHHGD ................................... 60
Bảng 2.5 Nhận thức về tầm quan trọng của công tác quản lý trong việc thực hiện
công tác XHHGD ở trường tiểu học Long An B ............................................. 62
Bảng 2.6 Đánh giá việc thực hiện công tác XHHGD ở trường tiểu học Long An
B thời gian qua ................................................................................................. 63
Bảng 3.1 Khảo sát tính cần thiết của các giải pháp ..........................................91
Bảng 3.2 Khảo sát tính khả thi của các giải pháp .............................................92
4
1.2.3. Nội dung XHHGD .......................................................................... 25
1.2.4. Ý nghĩa của XHHGD ...................................................................... 29
1.2.5. Mục tiêu của XHHGD .................................................................... 30
1.3. Huy động các nguồn lực từ cộng đồng cho các hoạt động giáo dục ......30
1.3.1. Công tác phối hợp giáo dục nhà trường, gia đình và xã hội ........... 30
1.3.2. XHHGD tiểu học trên địa bàn xã, phường ..................................... 33
1.3.3. Quản lý Nhà nước trong việc thực hiện XHHGD .......................... 36
6
1.3.4. Quản lý Nhà nước các cấp trong việc thực hiện XHHGD ............. 39
1.3.5. XHHGD ở địa bàn nông thôn ......................................................... 39
1.3.6. Các lực lượng tham gia công tác XHHGD ..................................... 41
1.4. Các yếu tố ảnh hưởng đến huy động các nguồn lực từ cộng đồng cho các
hoạt động giáo dục trong nhà trường .............................................................48
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 ........................................................................ 51
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC XHHGD Ở TRƯỜNG TIỂU
HỌC LONG AN B ................................................................................... 54
2.1. Vài nét khái quát về địa bàn nghiên cứu ................................................. 54
2.2. Thực trạng các nguồn lực từ cộng đồng cho các hoạt động giáo dục ở
trường tiểu học Long An B ...............................................................................57
2.3. Thực trạng các yếu tố ảnh hưởng đến huy động các nguồn lực từ cộng
đồng cho các hoạt động giáo dục ở trường tiểu học Long An B....................65
2.4. Đánh giá chung về thực trạng....................................................................65
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 .................................................................................72
CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP HUY ĐỘNG CÁC NGUỒN LỰC TỪ CỘNG
ĐỒNG CHO CÁC HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC Ở TRƯỜNG TIỂU HỌC
LONG AN B ………………………………………………………………...73
3.1. Các nguyên tắc đề xuất giải pháp ........................................................... 73
PHỤ LỤC 7 ............................................................................................ 115
8
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
1.1. XHHGD chính là việc tăng cường tính xã hội của giáo dục, gắn nhà
trường với cộng đồng xã hội để phát huy tối đa vai trò của giáo dục, tạo điều
kiện cho giáo dục khẳng định vai trò thúc đẩy phát triển xã hội, huy động mọi
tiềm lực trong xã hội tham gia xây dựng và phát triển giáo dục.
XHHGD không phải là một hiện tượng mới. Bản thân nó đã tồn tại trong
thực tế làm giáo dục ngay từ xa xưa, ngay từ những năm diệt giặc dốt, những
năm chiến tranh, ... XHHGD không chỉ là những đóng góp vật chất mà còn là
những ý kiến đóng góp của xã hội cho quá trình đổi mới giáo dục, góp phần nâng
cao chất lượng giáo dục. Đẩy mạnh XHHGD đem lại nguồn sức mạnh tổng hợp
giúp nhà trường đào tạo cho xã hội nguồn nhân lực phát triển toàn diện, làm nên
sức mạnh nội sinh ở dân tộc, đáp ứng nhu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất
nước.
Văn kiện Hội nghị lần hai Ban chấp hành trung ương Đảng khóa VIII đã
nêu rõ: “ Xã hội hóa trong công tác giáo dục là huy động toàn xã hội làm giáo
dục động viên các tầng lớp nhân dân góp sức xây dựng nền giáo dục quốc dân
dưới sự quản lý của Nhà nước”[4]. Đảng đã coi XHHGD là giải pháp chiến lược
đưa giáo dục đào tạo lên tầm cao mới. Đây đã là động lực giúp công tác
XHHGD ngày càng phát triển rộng khắp, trở thành sự nghiệp của toàn xã hội,
ngày càng chứng minh XHHGD là một giải pháp thực hiện hiệu quả trong sự
nghiệp giáo dục đào tạo. Trong khi nguồn lực của Nhà nước đầu tư cho giáo dục
vẫn còn hạn hẹp thì việc đẩy mạnh XHHGD là rất cần thiết. Các cấp ủy và tổ
chức Đảng, các cấp chính quyền, đoàn thể nhân dân, các tổ chức chính trị- xã
hội- kinh tế, các gia đình và cá nhân đều có trách nhiệm tích cực góp phần phát
10
giáo dục của người dân, Vì vậy có nơi công tác XHHGD chỉ đơn thuần về mặt
huy động tài chính, huy động cơ sở vật chất hoặc chỉ trông chờ vào sự bao cấp
của Nhà nước hay chỉ dừng lại ở việc hô hào, vận động mà chưa quan tâm tới đổi
mới công tác XHHGD dẫn tới kết quả và hiệu quả của công tác này còn thấp.
Trở lại với Trường tiểu học Long An B, một ngôi trường nhỏ ở vùng nông
thôn còn thiếu thốn nhiều thứ thì việc thực hiện tốt công tác XHHGD đóng vai
trò vô cùng quan trọng và cấp thiết.
1.3. Xuất phát từ những lý do trên tôi đã chọn đề tài: “Huy động các
nguồn lực từ cộng đồng cho các hoạt động giáo dục ở Trường tiểu học Long
An B” để làm đề tài nghiên cứu của mình nhằm nâng cao hiệu quả của công tác
này ở đơn vị góp phần đưa ngôi trường ngày càng thêm phát triển.
2. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn, đề xuất giải pháp huy động các
nguồn lực từ cộng đồng cho các hoạt động giáo dục ở Trường tiểu học Long An
B.
3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1. Khách thể nghiên cứu
Công tác XHHGD trong các loại hình nhà trường.
3.2. Đối tượng nghiên cứu
Giải pháp huy động các nguồn lực từ cộng đồng cho các hoạt động giáo
dục ở Trường tiểu học Long An B.
4. Giả thuyết khoa học
Công tác XHHGD ở Trường tiểu học Long An B dù đã đem lại những kết
quả khả quan; tuy nhiên, những thành tích đó chỉ mới là bước đầu và cách thức
tiến hành, các giải pháp còn chưa được hệ thống và đồng bộ cũng như chưa có sự
11
7.2.1. Phương pháp quan sát
Quan sát quá trình thực hiện công tác XHHGD tại Trường tiểu học Long
An B.
7.2.2. Phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi
Điều tra bằng phiếu hỏi nhằm thu thập thông tin về nhận thức của đối
tượng được điều tra về công tác XHHGD và thực trạng thực hiện công tác này ở
Trường tiểu học Long An B.
7.2.3. Phương pháp phỏng vấn
Nhằm thu thập các ý kiến để khẳng định tính cần thiết, tính phù hợp, tính
khả thi của các giải pháp.
7.2.4. Phương pháp tổng kết kinh nghiệm
Tổng kết kinh nghiệm về công tác XHHGD đã được thực hiện ở Trường
tiểu học Long An B.
7.3. Phương pháp thống kê toán học trong khoa học giáo dục
Sử dụng thống kê toán học nhằm tính toán các tham số đặc trưng, xử lý
các số liệu từ điều tra.
8. Cấu trúc của luận văn
Ngoài mở đầu, kết luận và khuyến nghị, danh mục tài liệu tham khảo,
danh mục các từ viết tắt và phần phụ lục, luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận của công tác xã hội hóa giáo dục
Chương 2: Thực trạng thực hiện công tác xã hội hóa giáo dục ở Trường
tiểu học Long An B
Chương 3: Giải pháp huy động các nguồn lực từ cộng đồng cho các hoạt
động giáo dục ở Trường tiểu học Long An B
13
CHƯƠNG 1
hoạt động câu lạc bộ, nhà hát, thể dục thể thao, ... thu hút phụ huynh học sinh,
các tập thể lao động sản xuất hỗ trợ giáo dục về mọi mặt.
Ở Nhật Bản, Hàn Quốc và các nước khác cũng đều quan tâm xây dựng và
củng cố các tổ chức phục vụ trực tiếp cho giáo dục ( các tổ chức cha mẹ học sinh
và thầy giáo – PTA) góp phần nâng cao chất lượng giáo dục đào tạo.
Nhận thức rõ tầm quan trọng của XHHGD, Trung Quốc đã xác định: “ Kế
hoạch lớn trăm năm, giáo dục là gốc”, “cần phải đặt giáo dục lên vị trí chiến
lược ưu tiên phát triển”, “lấy ngân sách Nhà nước là chính, là rất quan trọng,
đồng thời phải lôi cuốn toàn xã hội tham gia phát triển giáo dục, đoàn thể xã hội
và cá nhân, theo nguyên tắc tự nguyện, lượng theo sức mình để quyên góp vốn,
chung vốn làm giáo dục không thu thuế. Hoan nghênh sự quyên góp, trợ giúp
của đồng bào Hương Cảng, Áo Môn, Đài Loan và các nhân sĩ hữu nghị các
đoàn thể có quốc tịch nước ngoài” (Theo Nhân dân nhật báo Bắc Kinh
4/1/1994). Trung Quốc đã thực hiện nhiều giải pháp: tăng nhịp độ đầu tư tài
chính của Nhà nước, cho các địa phương quyên thu các khoản đóng góp cho giáo
dục để mua sắm thiết bị dạy học. Tăng đầu tư và thu nhập cho giáo dục, góp vốn
xác định giáo dục, đa dạng hóa các loại hình giáo dục, liên kết giáo dục, ...
Ấn Độ đã gắn vấn đề XHHGD với vấn đề phát triển nông thôn, tập trung
giáo dục phổ cập tiểu học thông qua liên kết đào tạo nghề, giới thiệu việc làm,
nâng cao trình độ văn hóa phổ thông bằng việc huy động cộng đồng phát triển
giáo dục phi chính quy, linh hoạt chương trình đào tạo, ...
Chính phủ vương quốc Thái Lan đã và đang thực hiện chính sách đa dạng
hóa các loại hình đào tạo, đào tạo nghề nghiệp – kỹ thuật, tổ chức nhiều loại hình
nghề nghiệp chính quy và phi chính quy để thích ứng nhu cầu nhân lực của thị
trường lao động trong quá trình công nghiệp hóa đất nước.
15
Indonesia đặc biệt quan tâm đến việc huy động xã hội tham gia phát triển
đưa ra triết lý 4 trụ cột, dựa trên nền tảng: học suốt đời và hướng về “xã hội học
tập”. Điều này cũng đã được Đảng và Nhà nước ta khẳng định cụ thể trong Nghị
quyết Trung ương lần thứ 8 khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục đào
tạo. Mô hình này giúp cho các cá nhân tiếp cận với các cơ hội học tập liên tục
ngay cả sau khi tốt nghiệp và trong quá trình công tác. Việc học diễn ra dưới
nhiều hình thức chính quy và phi chính quy. Chính phủ quan tâm đến việc tạo ra
các khuyến khích tài chính và văn hóa để các cá nhân có thể tham gia vào quá
trình này.
Chính phủ Anh đã thành lập Ban chiến lược cung cấp các kỹ năng cơ bản
cho người lớn nhằm hỗ trợ những người thiếu hụt các kỹ năng học tập, cập nhật
hóa trình độ, ... Chính sách giáo dục ở Australia nhằm trang bị cho người dân
khả năng nắm bắt cơ hội học tập. Ở Trung Quốc chiến lược giáo dục được đặt ra
nhằm tạo lập một thể chế giáo dục mà trong đó ai cũng là người giáo dục và
người được giáo dục. Các nhà giáo dục ở Thái lan thì lại chú trọng đến xây dựng
mạng lưới học tập và giáo dục cho mọi người bằng việc: mở các dịch vụ cho trẻ
em trước tuổi đến trường, phát triển các dịch vụ giáo dục cơ sở dưới nhiều hình
thức khác nhau, tăng cường quản lý giáo dục tiểu học và trung học, dùng các
biện pháp khác nhau để phát huy sự phối hợp các nỗ lực và nguồn lực của các tổ
chức giáo dục, sử dụng công nghệ thông tin và các phương tiện hiện đại để cung
cấp tri thức cho cộng đồng, ...
17
- Đa dạng hóa các loại hình đào tạo:
Được thực hiện thông qua việc mở các trường ngoài công lập ở tất cả các
bậc học, cho phép học sinh đi du học tự túc, ... Các nước Indonesia, Malaysia,
Đài Loan và một số nước Châu Mỹ La Tinh có loại hình trường tiểu học cộng
đồng do người dân địa phương đóng góp và xây dựng. Ở Philippin có trường
trung học ở xã đóng vai trò như một Trung tâm học tập cộng đồng chăm lo giáo
được thành lập cho các con em quan lại, địa chủ và các nhà tư sản, việc học của
con em nhân dân lao động hầu như ít được quan tâm. Nhưng với truyền thống
hiếu học từ ngàn đời, nhân dân ta luôn quan tâm chăm lo đến cái “sự học” của
con em mình.
Chính quyền phong kiến chỉ quan tâm đến việc mở các trường công từ
Trung ương đến phụ lộ, đa phần các trường ở làng, xã đều do dân đứng ra tổ
chức và mời thầy về dạy (dân lập) hoặc do thầy đồ tự mở (trường tư). Trường,
lớp có thể tại các đình, chùa, nhà địa chủ hoặc nhà riêng của thầy. Thầy giáo có
thể là một nhà nho từ quan, một bậc tri thức không đam mê chốn quan trường, ...
Học trò có khi rất đông hoặc có khi chỉ dăm bảy học trò. Việc đóng góp cho việc
học hành của học trò ngoài chi phí thi cử, nghi thức cộng đồng đối với người đỗ
đạt được địa phương quy định thì đều do tự nguyện lòng dân, tùy theo gia đình.
Những học trò nào đỗ đạt đều được tôn vinh, được dành những sự hỗ trợ về vật
chất lẫn tinh thần thể hiện sự quan tâm của xã hội đối với giáo dục.
Dưới thời Pháp thuộc, mặc dù nền giáo dục của nhà nước không phát triển
nhưng với sự quan tâm của nhân dân, của các nho sĩ yêu nước và các nhà cách
mạng thì dòng giáo dục phi chính thống có điều kiện sinh sôi nảy nở. Đó là các
nhà giáo yêu nước Phan Văn Trị, Nguyễn Trường Tộ, Nguyễn Đình Chiểu, ...
19
hay các trường học trong phong trào Duy Tân với Phan Chu Trinh, Huỳnh Thúc
Kháng mà đỉnh cao là Đông kinh nghĩa thục, Hội truyền bá Quốc ngữ cùng với
sự ra đời các trường tư thục bất chấp chính sách nô dịch của thực dân Pháp – thể
hiện ý thức tự học và tinh thần tham gia vào quá trình giáo dục của xã hội.
Thắng lợi của cách mạng tháng 8 lịch sử đã tạo tiền đề cho Đảng, Nhà
nước ta bắt tay vào xây dựng nền giáo dục với quan điểm “giáo dục là sự nghiệp
của quần chúng”. Bằng nhiều hình thức mở trường, mở lớp, phát triển các hình
thức học tập, nêu khẩu hiệu: “Diệt giặc dốt”, ra sắc lệnh về bình dân học vụ, Nha
quan điểm để hoạch định hệ thống chính sách xã hội: “ Các vấn đề chính sách xã
hội đều giải quyết theo tinh thần xã hội hóa. Nhà nước giữ vai trò nòng cốt,
đồng thời động viên mỗi người dân, các doanh nghiệp, các tổ chức trong xã hội,
các cá nhân và các tổ chức nước ngoài cùng tham gia giải quyết những vấn đề
xã hội”. Hội nghị lần thứ hai Ban chấp hành Trung ương khóa VII đã cụ thể hóa:
“ Phát triển giáo dục là sự nghiệp của toàn xã hội, của Nhà nước và của mỗi
cộng đồng, của từng gia đình và mỗi công dân. Kết hợp tốt giáo dục học đường
với giáo dục gia đình, giáo dục xã hội, xây dựng môi trường giáo dục lành
mạnh, người lớn làm gương cho trẻ con noi theo. Phát động phong trào rộng
khắp toàn dân học tập, người người đi học, học ở trường, lớp và đi học suốt đời,
người biết dạy người chưa biết, người biết nhiều dạy người biết ít, mỗi người
phải không ngừng tự nâng cao trình độ học vấn, chuyên môn, nghiệp vụ. Tiếp
tục đa dạng hóa các hình thức giáo dục và các loại hình trường lớp phù hợp với
đòi hỏi của tình hình mới, với nhu cầu học tập của tuổi trẻ và của toàn xã hội”
[11]. Đến Nghị quyết TW 6 khóa IX, Đảng ta khẳng định: “Đẩy mạnh xã hội hóa
sự nghiệp giáo dục, xây dựng xã hội học tập, coi giáo dục là sự nghiệp của toàn
21
dân, là giải pháp quan trọng để tiếp tục phát triển giáo dục” [12]. Đặc biệt, Đại
hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng đã chỉ rõ: “ Thực hiện XHHGD. Huy
động nguồn lực vật chất và trí tuệ của xã hội tham gia chăm lo sự nghiệp giáo
dục. Phối hợp chặt chẽ giữa ngành giáo dục với các ban, ngành, các tổ chức
chính trị - xã hội, xã hội - nghề nghiệp, ... để mở mang giáo dục, tạo điều kiện
học tập cho mọi thành viên trong xã hội” [13].
Để thể hiện sự quản lý của Nhà nước và thực hiện chủ trương xã hội hóa,
năm 1997 Chính phủ đã ra Nghị quyết 90/CP về phương hướng và chủ trương xã
hội hóa của hoạt động giáo dục, y tế, văn hóa và sau đó là Nghị định số
73/1999/NĐ-CP về chính sách khuyến khích xã hội hóa đối với các hoạt động
từ thực tiễn thực hiện XHHGD sẽ giải quyết kịp thời những vấn đề đặt ra của sự
nghiệp phát triển giáo dục và đào tạo.
1.2.
Các khái niệm cơ bản
1.2.1. Khái niệm xã hội hóa
Xã hội hóa là một thuật ngữ được các nhà kinh tế học, xã hội học, giáo
dục học từ những năm cuối thế kỷ XIX và những năm đầu thế kỷ XX sử dụng,
nhằm biểu đạt một số vấn đề thuộc các lĩnh vực nghiên cứu của mình. Khái niệm
“xã hội hóa” được xuất hiện lần đầu tiên trong những bài giảng về “giáo dục,
đạo đức và xã hội” của Emile Durkheim (1858 – 1917) tại Sorbonne, Paris.
Xã hội hóa là một khái niệm của xã hội học và nhân loại học, được hiểu
theo hai nghĩa:
- Là sự tham gia rộng rãi của cộng đồng xã hội vào một số hoạt động mà
trước đó chỉ có một ngành, một đơn vị chức năng nhất định thực hiện.
23
Ở nghĩa này Côlin Fasen đã chỉ rõ: Xã hội hóa là một quá trình động viên
mọi tầng lớp nhân dân tham gia tích cực và chủ động vào một lĩnh vực xã hội
nào đó, huy động hợp lý và sử dụng có hiệu quả mọi nguồn lực của Nhà nước và
của nhân dân nhằm đạt được mục tiêu phát triển xã hội.
- Xã hội hóa dùng để chỉ quá trình chuyển biến con người sinh vật sang
con người xã hội. G.En Daweit đã cho rằng: Xã hội hóa được hiểu chung như là
một quá trình biện chứng, trong đó mỗi con người với tư cách là một thành viên
của xã hội trở nên có năng lực hành động trong xã hội và mặt khác, thông qua
quá trình này duy trì và tái sản xuất xã hội.
1.2.2. Khái niệm XHHGD
Nội dung XHHGD thực chất là nội dung của việc huy động các lực lượng
xã hội tham gia vào công tác giáo dục. Các lực lượng xã hội có thể tham gia vào
nhiều nội dung và lĩnh vực khác nhau của công tác giáo dục.
- Toàn xã hội, toàn dân tham gia vào các hoạt động phát triển giáo dục:
Các lực lượng xã hội có thể tham gia trực tiếp hay gián tiếp vào quá trình
giáo dục. Họ có thể tham gia vào việc xây dựng kế hoạch giáo dục các cấp; đóng
góp ý kiến của mình về nội dung và phương pháp giáo dục; quản lý, đánh giá kết
quả giáo dục; giúp đỡ nhà trường trong việc tổ chức các hoạt động giáo dục nội
ngoại khóa; sưu tầm tài liệu giảng dạy; làm đồ dùng dạy học hay có thể trực tiếp
giảng dạy một số môn học, giờ học,... Đây chính là nhiệm vụ quan trọng đặt ra
cho công tác XHHGD, đòi hỏi phải có sự phối hợp chặt chẽ giữa nhà trường, các
cơ quan quản lý giáo dục và các tổ chức kinh tế, chính trị, xã hội.
25