BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI
TỐNG THỊ HUYỀN TRÂM
SỬ DỤNG TRÒ CHƠI ĐÓNG VAI THEO
CHỦ ĐỀ PHÁT TRIỂN KHẢ NĂNG GIAO
TIẾP NGÔN NGỮ CHO TRẺ
MẪU GIÁO 4-5 TUỔI
Chuyên ngành: Giáo dục Mầm non
Mã số: 60140101
LUẬN VĂN THẠC SĨ: GIÁO DỤC MẦM NON
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Thị Nhƣ Mai
1
MỤC LỤC
Mục
Số trang
LỜI MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài ………………………………………...............Trang 4
2. Mục đích nghiên cứu....................................................................Trang 4
3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu............................................ .Trang 5
4. Giả thuyết khoa học.....................................................................Trang 5
5. Nhiệm vụ nghiên cứu...................................................................Trang 5
3.1. Nguyên tắc đề xuất biện pháp...............................................Trang 54
3.2. Đề xuất một số biện pháp sử dụng trò chơi đóng vai theo chủ đề phát
triển khả năng giao tiếp ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo 4-5 tuổi..................Trang 57
3.3. Kết quả thực nghiệm sư phạm biện pháp sử dụng trò chơi đóng vai
theo chủ đề phát triển khả năng giao tiếp ngôn ngữ cho trẻ 4-5 tuổi........Trang 69
Kết luận chương III........................................................................Trang 70
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ SƢ PHẠM
I. Kết luận.......................................................................................Trang 91
II. Kiến nghị sư phạm.....................................................................Trang 93
TÀI LIỆU THAM KHẢO.......................................................................Trang 94
PHỤ LỤC ...............................................................................................Trang 97
GIÁO ÁN THỰC HIỆN Ở TRƯỜNG MẦM NON...............................Trang 100
PHIẾU TRƯNG CẦU Ý KIẾN (Dành cho giáo viên)...........................Trang 106
3
LỜI MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Đối với sự phát triển tâm lý và nhân cách của con người nói chung, phát
triển hoạt động giao tiếp được coi là một trong những nhiệm vụ vô cùng quan
trọng, là tiền đề, là điều kiện để con người có thể thực hiện được những suy nghĩ
của mình.
Đối với trẻ em lứa tuổi mầm non nói riêng, phát triển hoạt động giao tiếp
cho trẻ là nhiệm vụ quan trọng của gia đình và nhà trường, có ý nghĩa đặc biệt
đối với sự phát triển của trẻ. Từ khi mới sinh ra đứa trẻ dần dần lĩnh hội kinh
nghiệm xã hội thông qua hoạt động giao tiếp với người lớn, qua đồ chơi, đồ vật
xung quanh. Các nhà khoa học đã chứng minh đặc điểm giao tiếp của trẻ với
người lớn và bạn cùng chơi được thay đổi và phức tạp dần trong suốt thời kì ấu
thơ. Sự phát triển giao tiếp, sự phức tạp hóa và làm giàu hình thức giao tiếp tạo
Có thể sử dụng trò chơi đóng vai theo chủ đề để phát triển khả năng giao
tiếp ngôn ngữ cho trẻ 4-5 tuổi ở trường mầm non. Khả năng giao tiếp ngôn ngữ
của phần lớn trẻ 4-5 tuổi được nghiên cứu còn chưa tốt.
Nếu lựa chọn và thực hiện được biện pháp tổ chức trò chơi đóng vai theo
chủ đề phù hợp với đặc điểm phát triển của trẻ 4-5 tuổi thì sẽ phát triển được khả
năng giao tiếp ngôn ngữ của các em, góp phần hình thành nhân cách tốt đẹp sau
này.
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1. Hệ thống hóa một số vấn đề lý luận về sử dụng trò chơi đóng vai theo
chủ đề phát triển khả năng giao tiếp ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo 4-5 tuổi.
5.2. Khảo sát thực trạng sử dụng trò chơi đóng vai theo chủ đề phát triển
khả năng giao tiếp ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo 4-5 tuổi.
5.3. Đề xuất biện pháp sử dụng trò chơi đóng vai theo chủ đề phát triển
khả năng giao tiếp ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo 4-5 tuổi và thực nghiệm sư phạm.
6. Phạm vi nghiên cứu
6.1. Nội dung nghiên cứu
Nghiên cứu các biện pháp lựa chọn và sử dụng trò chơi đóng vai theo chủ
đề phát triển khả năng giao tiếp ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo 4-5 tuổi.
6.2. Địa bàn nghiên cứu
5
Trường mầm non Ea Tung, huyện Krông Ana, Tỉnh Đắk Lăk.
Trường mầm non Ea Na, huyện Krông Ana, Tỉnh Đắk Lăk.
7. Phƣơng pháp nghiên cứu
7.1. Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận
Thu thập, phân tích, tổng hợp, hệ thống hóa, khái quát hóa các vấn đề liên
quan đến đề tài.
7.2. Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
Phương pháp quan sát: Sử dụng phiếu quan sát để quan sát tự nhiên
Chương 2: Thực trạng biện pháp sử dụng trò chơi đóng vai theo chủ đề
phát triển khả năng giao tiếp ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo 4-5 tuổi.
Chương 3: Biện pháp sử dụng trò chơi đóng vai theo chủ đề phát triển
khả năng giao tiếp ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo 4-5 tuổi.
- Phần kết luận chung và kiến nghị sư phạm.
7
CHƢƠNG I: LÝ LUẬN VỀ SỬ DỤNG TRÒ CHƠI ĐÓNG VAI THEO
CHỦ ĐỀ PHÁT TRIỂN KHẢ NĂNG GIAO TIẾP NGÔN NGỮ CHO TRẺ
MẪU GIÁO 4-5 TUỔI
1.1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Ở nước ngoài
Phát triển khả năng giao tiếp cho trẻ thông qua trò chơi đóng vai theo chủ
đề là một hoạt động giúp trẻ phát triển giao tiếp ngôn ngữ một cách nhanh chóng
và hiệu quả nhất, vì qua hoạt động vui chơi trẻ được tự mình giao lưu, trao đổi
với bạn cùng chơi, trẻ tự giải quyết tình huống chơi và mâu thuẫn trong khi chơi.
Từ đó vốn ngôn ngữ của trẻ được tăng lên đáng kể.
Đối với các nước trên thế giới việc dạy học theo xu hướng giao tiếp
không phải là một vấn đề quá mới, bởi lẽ từ lâu họ đã xem việc dạy học giao
tiếp ngôn ngữ cho trẻ là kim chỉ nam của quá trình dạy học.
Ngôn ngữ có vai trò quan trọng trong cuộc sống của con người. Cho nên ngôn
ngữ là tài sản quý báu của nhân loại. Nó là cả kho tàng trí tuệ của con người. Nó tồn
tại phát triển cùng với sự thay đổi và phát triển của con người. Cũng chính vì lẽ đó mà
có biết bao công trình nghiên cứu được tỏa sáng nhờ có ngôn ngữ. Và ngôn ngữ cũng
chính là vấn đề mà có rất nhiều các nhà khoa học từ các lĩnh vực khác nhau như: Tâm
lí học, triết học, xã hội học, ngôn ngữ học, giáo dục học,… đi sâu, tìm tòi, nghiên cứu
và đã đạt được nhiều thành tựu to lớn đáng kể.
Đã có nhiều công trình nghiên cứu về sự phát triển của trẻ, tiêu biểu là công
Thanh Hồng với: Tiếng việt và phương pháp phát triển lời nói cho trẻ, đề cập tới
tiếng Việt. Dựa vào đó các tác giả xây dựng các phương pháp nhằm phát triển và
hoàn thiện lời nói cho trẻ.
Tác giả Nguyễn Xuân Khoa với: Phương pháp phát triển ngôn ngữ cho
trẻ mẫu giáo dưới 6 tuổi, đã đưa ra các phương pháp cụ thể giúp trẻ phát triển
ngôn ngữ, vốn từ của mình.
Tác giả Hoàng Kim Oanh, Phạm Thị Việt, Nguyễn Kim Đức với Phương
pháp phát triển ngôn ngữ. Tác giả đã đưa ra các phương pháp để giúp trẻ tăng
vốn từ.
9
Tác giả Nguyễn Ánh Tuyết, Phạm Hoàng Gia, Đoàn thị Tâm với “Tâm lí
trẻ em lứa tuổi mầm non” đã tiến hành nghiên cứu sự phát triển tâm lí của trẻ
mầm non qua các giai đoạn lứa tuổi.
Hiện nay các nghiên cứu thực nghiệm và ứng dụng chủ yếu giải quyết vấn
đề dạy học, giáo dục trong nhà trường. PGS.TS Nguyễn Ánh Tuyết đã nhận định
rằng: “Chơi với bạn bè là nhu cầu bức thiết của trẻ mẫu giáo, giao tiếp có vai
trò quan trọng trong sự phát triển của trẻ những năm đầu và trong suốt cuộc
đời”, với những tác phẩm: Giáo dục trẻ mẫu giáo chơi trong nhóm bạn
bè,(1987); Sự hình thành xã hội trẻ em trước tuổi học,(1988 ); và một số luận án
tiến sĩ đã xem xét vấn đề đặc điểm giao tiếp, hình thành nhu cầu và khả năng
giao tiếp ở trẻ, được phản ánh trong các công trình nghiên cứu như: Nguyễn Ánh
Tuyết, (1988), Chuẩn bị cho trẻ 5 tuổi vào trường phổ thông; Lê Xuân Hồng,
(1996), Đặc điểm giao tiếp của trẻ trong nhóm chơi không cùng độ tuổi;
Nguyễn Xuân Thức(1997), Nghiên cứu tính tích cực giao tiếp của trẻ mẫu giáo
5-6 tuổi trong hoạt động vui chơi ... Luận án Phó tiến sĩ của Lưu Thị Lan:
“Những bước phát triển ngôn ngữ của trẻ từ 1 đến 6 tuổi”, nội dung luận án nói
về các bước, giai đoạn hình thành phát triển ngôn ngữ cho trẻ trong độ tuổi từ 1
đến 6 tuổi. Nghiên cứu của Nguyễn Xuân Khoa về: “Phương pháp phát triển
những quan điểm nhằm phát triển năng lực nói cho trẻ. Hầu hết các tác giả quan
tâm đến các chức năng khác nhau của ngôn ngữ trong giao tiếp của trẻ, làm cơ
sở để đưa ra một biện pháp cụ thể kích thích trẻ mẫu giáo phát triển ngôn ngữ
giao tiếp trong chính hoạt động chủ đạo của mình là hoạt động vui chơi.
Đề tài này tiếp tục tìm hiểu và xây dựng một số biện pháp nhằm phát triển
ngôn ngữ giao tiếp cho trẻ, mà cụ thể hơn là sử dụng trò chơi đóng vai theo chủ
đề nhằm phát triển giao tiếp ngôn ngữ cho trẻ 4-5 tuổi.
1.2. Một số khái niệm cơ bản:
1.2.1. Khả năng giao tiếp ngôn ngữ của trẻ 4-5 tuổi.
1.2.1.1. Giao tiếp ngôn ngữ
a. Khái niệm ngôn ngữ
Ngôn ngữ là một hệ thống các kí hiệu có cấu trúc quy tắc và ý nghĩa được
con người sử dụng trong giao tiếp. Các kí hiệu có thể được kết hợp được tổ chức
11
để thay thế và sử dụng để truyền đạt một khối lượng thông điệp vô cùng đa dạng
và phức tạp.
Ngôn ngữ được coi là một hệ thống tín hiệu đặc biệt với những quy tắc
hoạt động chung, là phương tiện giao tiếp của con người trong xã hội loài người,
nó không chỉ thể hiện ý thức xã hội hiện tại mà còn luôn phát triển cùng với sự
tồn tại và phát triển của xã hội.
Như vậy, ngôn ngữ xuất hiện là do nhu cầu giao tiếp và thỏa mãn nhu cầu
giao lưu của con người khi họ sống trong cộng đồng xã hội. Tất cả các hoạt
động của con người trong mọi lĩnh vực diễn ra hàng ngày, hàng giờ như: Lao
động, học tập, vui chơi, giải trí...đều cần có ngôn ngữ. Nhờ có ngôn ngữ mà con
người có thể trao đổi nguyện vọng, tâm tư, tình cảm, kinh nghiệm cho nhau.
Cũng nhờ ngôn ngữ mà con người hiểu nhau hơn và cùng nhau tổ chức công tác
trên mọi lĩnh vực hoạt động đang vận hành trong xã hội.
b. Ngôn ngữ - hoạt động lời nói
Giao tiếp ngôn ngữ là hình thức giao tiếp cơ bản và quan trọng nhất của
xã hội loài người.
Khi nghiên cứu về sự phát triển tâm lý và các yếu tố ảnh hưởng tới sự
phát triển tâm lý, các nhà tâm lý cũng rất quan tâm đến sự phát triển giao tiếp
ngôn ngữ và ảnh hưởng của nó tới sự phát trieenrr nhân cách con người.
Tác giả Ngô Công Hoàn- Hoàng Anh trong giáo trình “Giao tiếp sư
phạm” định nghĩa về giao tiếp ngôn ngữ như sau: “Giao tiếp ngôn ngữ là một
hoạt động có mục đích của người nói (người viết) nhằm tác động đến nhận thức,
tình cảm, hoạt động của người nghe (người đọc)”. Do vậy, hiểu biết về người
tiếp nhận ngôn bản là điều không thể thiếu đối với người phát tin. Hiểu biết càng
phong phú thì hiệu quả giao tiếp càng cao.
Nhìn chung khái niệm giao tiếp ngôn ngữ được hiểu như sau: Giao tiếp
ngôn ngữ là một hoạt động, giao tiếp ngôn ngữ xuất hiện như một dạng hoạt
động xác lập và vận hành mối quan hệ người- người bằng các tín hiệu từ ngữ.
d. Đặc điểm khả năng giao tiếp ngôn ngữ của trẻ 4-5 tuổi.
Giai đoạn đầu lứa tuổi 4-5 tuổi, khi tham gia trò chơi đóng vai theo chủ
đề, sự phối hợp vai chơi còn rời rạc, việc sử dụng ngôn ngữ nhiều khi chưa có
tính chủ định, sử dụng câu còn lộn xộn gây khó khăn cho việc diễn đạt. Dần dần,
khả năng nghe của trẻ tăng lên rõ rệt, trẻ có thể nghe mọi người nói chuyện được
13
lâu hơn, bên cạnh đó do muốn được thỏa mãn nhu cầu vui chơi cùng bạn và nhu
cầu nhận thức về thế giới xung quanh mà vốn từ tăng nhanh, kết cấu ngữ pháp
phát triển rõ rệt hơn, câu biểu đạt có tính linh hoạt hơn.
Nhìn chung, ở giai đoạn 4-5 tuổi, do phạm vi giao lưu của trẻ được mở
rộng mà giao tiếp ngôn ngữ cũng có nhiều bước phát triển cả về vốn từ, cấu trúc
ngữ pháp, sử dụng câu trong lời nói, đặc biệt là khả năng biểu đạt bằng nhiều
cách khác nhau. Do vậy, ở giai đoạn này nhà giáo dục cần hướng trẻ đến việc
liên kết thành nhóm trong vui chơi, giúp trẻ mở rộng chủ đề và nội dung những
cần phải được thực hiện ở trường mầm non.Trẻ phải được học được luyện tập về
giao tiếp ngôn ngữ trong những tình huống giao tiếp cụ thể. Chúng ta biết rằng,
mặc dù trước khi đến trường, trẻ đã biết nghe và nói tiếng việt, đã biết dùng
tiếng việt dạng nói để giao tiếp trong gia đình, nhà trường, trên đường phố, trong
siêu thị,… Lớn dần lên, trẻ không học cũng có thể dung tiếng Việt ở dạng nói để
trao đổi, bàn luận, thảo luận, để trình bày ý nghĩ, cảm xúc, tình cảm…của mình.
Điều đó có nghĩa là kĩ năng giao tiếp ngôn ngữ của trẻ đã được hình thành một
cách tự phát theo con đường tự rút kinh nghiệm qua hoạt động giao tiếp hàng
ngày. Tuy nhiên thực tiễn lại cho thấy rằng nếu nhà trường không dạy phát triển
khả năng giao tiếp ngôn ngữ cho trẻ, tức là nếu giáo viên không biết cách sử
dụng các hình thức, phương tiện dạy học cũng như các biện pháp đa dạng khác
nhau để tiếp tục phát triển khả năng giao tiếp ngôn ngữ cho trẻ một cách tự phát
thông qua các hoạt động trao đổi giữa cô và trẻ, giữa trẻ và trẻ sẽ làm hạn chế rất
nhiều năng lực sử dụng ngôn ngữ để giao tiếp của trẻ, hạn chế tính chủ động,
sáng tạo của trẻ khi tham gia các hoạt động giao tiếp.
Như vậy, thông qua việc phát triển khả năng giao tiếp ngôn ngữ cho trẻ,
các kĩ năng giao tiếp ngôn ngữ của trẻ đã được hình thành một cách tự phát theo
con đường tự rút kinh nghiệm qua hoạt động giao tiếp hàng ngày sẽ được tiếp
tục phát triển một cách khoa học, hợp lý và mang tính thực tiễn cao.Thông qua
con đường học tập trẻ mới thực sự học được cách sử dụng tiếng nói phong phú,
đa dạng gắn với cuộc sống sôi động hàng ngày, học tiếng nói trong giao tiếp và
để giao tiếp. Qua giao tiếp ngôn ngữ trẻ sẽ hiểu được cách xác định chủ đề chơi
cũng như mục đích của việc tham gia đối thoại, phân biệt được vai trò các đối
tượng tham gia đối thoại, luyện tập các kĩ năng trao lời và đáp lời,…Giúp trẻ
15
ngày càng chủ động, tự tin, sáng tạo khi tham gia các hoạt động giao lưu trong
xã hội.
Hoạt động giao tiếp ngôn ngữ là hoạt động giao tiếp gắn chặt với các quy
các qua trình tâm lý như cảm giác, tri giác, trí nhớ, tư duy phát triển tốt bởi trong
quá trình luyện tập, giáo viên sử dụng hệ thống các phương pháp tác động khác
nhau, tác động lên quá trình nhận thức của trẻ yêu cầu trẻ phải tư duy tích cực để
ghi nhớ và nhớ lại cách thức thực hiện các chuẩn mực trong hoạt động giao tiếp.
Bằng những kiến thức, kinh nghiệm mà trẻ có được thông qua việc tìm
hiểu, khám phá những biểu tượng phong phú về thế giới xung quanh qua trò
chơi, lao động, học tập, giải trí, lễ hội...sẽ làm phong phú tâm hồn trẻ thơ bằng
những tri thức thẩm mỹ và tình cảm thẩm mỹ. Từ đó hướng trẻ tới việc ý thức
cái đẹp, thừa nhận cái đẹp chân chính, chối bỏ loại trừ cái xấu, cái tiêu cực, giáo
dục cho các em quan niệm đúng về cái đẹp, tự hoàn thiện nó trong đời sống sinh
hoạt, trong giao tiếp với mọi người xung quanh, ứng xử với cái đẹp trong thiên
nhiên. Những tác động của hoạt động giáo dục nhằm phát triển khả năng giao
tiếp ngôn ngữ đã góp phần tạo nên con người văn hóa, con người có những hành
vi đẹp.
1.2.2. Trò chơi đóng vai theo chủ đề.
1.2.2.1. Khái niệm trò chơi
Hoạt động chủ đạo của trẻ mẫu giáo là vui chơi, qua vui chơi trẻ em thỏa
mãn nhu cầu được chơi, được học, được sống, được giống như người lớn. Do
vậy, những điều người lớn muốn dạy trẻ và những điều trẻ muốn được học cần
được tổ chức dưới hình thức vui chơi “học mà chơi chơi mà học”.
Trong vui chơi con người sử dụng rất nhiều trò chơi, tùy vào góc độ tiếp
cận mà có rất nhiều cách định nghĩa khác nhau về trò chơi:
- Theo từ điển tiếng Việt, chữ “trò” được hiểu là một hình thức mua vui,
được bầy ra trước mắt mọi người, chữ “chơi” để chỉ những hoạt động lúc nhàn
rỗi, ngoài giờ làm việc, có mục đích giải trí. Từ đó “trò chơi” được hiểu là
những hình thức hoạt động nhằm thỏa mãn những nhu cầu giải trí của con
người.
- G.V Plekhanốp cho rằng: Trò chơi là một hình thức hoạt động, gắn liền
với lao động của xã hội loài người, ông đã lý giải mối quan hệ giữa vui chơi của
trẻ em và lao động của người lớn như là nguồn gốc xã hội nảy sinh trò chơi.
Trò chơi có những đặc điểm :
- Trò chơi luôn đem đến cho tác nhân sự thích thú, thỏa mãn
18
- Sự thỏa mãn mục đích giải trí nằm trong hành động chơi. Người chơi
quan tâm đến hành động chơi hơn là quan tâm đến kết quả chơi, hành động chơi
mang mục đích tự nó.
- Trò chơi có thể diễn tả một mình hoặc dưới hình thức nhóm.
Những dấu hiệu đặc trưng để nhận diện trò chơi của trẻ, góp phần giúp giáo
viên phát hiện năng lực của trẻ trong tiến trình tác động sư phạm đến với trẻ.
Theo J.Piaget và Henriot vui chơi gắn liền với đời sống xã hội của trẻ,
trong khi chơi trẻ em lĩnh hội cái mới, thông qua đó mà phát triển nhận thức,
tình cảm và thể chất...J.Piaget đã mô tả trò chơi của trẻ như là sự đồng hóa và
thích nghi là hai quá trình kiến tạo trí tuệ. Sự phát triển trí tuệ, tình cảm của trẻ
em diễn ra trong khi chơi đó là sự đồng hóa những thông tin mới làm cho nó phù
hợp với những vốn thông tin đã có, J.Piaget khẳng định “vui chơi là thước đo
trình độ phát triển của trẻ”
Như vậy, trò chơi là hình thức hoạt động đặc thù, đọc đáo của trẻ thực
hiện tác động tương hỗ giữa chủ thể với môi trường. Trò chơi của trẻ mô phỏng
lại cuộc sống của người lớn, tái tạo ác hành động, các mối quan hệ, qua đó trẻ
bộc lộ thái độ, cảm xúc của mình. Khi chơi, trẻ sống một cuộc sống thực chính
trong hoạt động chơi, trẻ thực sự là một chủ thể tích cực hoạt động, giao tiếp và
chủ động vận dụng các kinh nghiệm đã có để củng cố, khái quát thành kiến thức
để hình thành nhân cách.Vì vậy, trò chơi là một hoạt động tự lực và sáng tạo của
trẻ cần được người lớn tổ chức hướng dẫn.
1.2.2.2. Khái niệm trò chơi đóng vai theo chủ đề
Bước vào tuổi mẫu giáo, trẻ có thể tham gia vào nhiều trò chơi khác nhau
như: Trò chơi dân gian, trò chơi vận động,trò chơi học tập, trò chơi đóng vai...,
trong đó trò chơi đóng vai theo chủ đề (TCĐVTCĐ) giữ vị trí trung tâm.
cầu của trẻ với một bên là khả năng còn hạn chế. Để giải quyết mâu thuẫn đó trẻ
tìm đến một hoạt động mới đó là TCĐVTCĐ, ở đây trẻ đóng những vai người
lớn mà trẻ thích, trong khi chơi trẻ thỏa thích làm những công việc của người
lớn bằng cách trẻ đặt mình vào vị trí của người lớn “người mẹ”, “bác sĩ”, “người
bán hàng”...
Khi chơi trẻ hòa mình vào vai chơi, thể hiện vai chơi - phản ánh một
mảng cuộc sống thực của người lớn, đồng thời thiết lập mối quan hệ giữa các vai
20
chơi, từ đó hình thành một “xã hội trẻ em”. Qua đây ta thấy TCĐVTCĐ giữ vị
trí trung tâm tạo ra những biến đổi trong đời sống tâm lý của trẻ mẫu giáo.
Tóm lại, TCĐVTCĐ là một loại trò chơi trong đó trẻ em hóa thân vào các
nhân vật, tái tạo lại những hành động và cảm xúc của nhân vật để thỏa mãn nhu
cầu vui chơi của mình.
1.2.3. Sử dụng trò chơi đóng vai theo chủ đề phát triển khả năng giao
tiếp ngôn ngữ của trẻ 4-5 tuổi.
Sử dụng trò chơi đóng vai theo chủ đề có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối
với việc phát triển khả năng giao tiếp ngôn ngữ cho trẻ bởi nó sẽ góp phần tạo
nên mối quan hệ gắn kết giữa nội dung giáo dục với thực tiễn cuộc sống của trẻ.
Nó là hình thức kiểm tra, đánh giá kết quả hoạt động ngôn ngữ của trẻ ngay
trong chính hoạt động chủ đạo của trẻ ở trường mầm non, tạo cơ hội cho trẻ
được tự học, tự trải nghiệm những vốn kinh nghiệm, vốn sống và vốn ngôn ngữ
của bản thân vào các hoạt động giao tiếp cụ thể, Sử dụng trò chơi đóng vai theo
chủ đề còn góp phần nâng cao tính tích cực, chủ động, hứng thú và tích cực với
hoạt động giao tiếp của trẻ, Tạo điều kiện giúp phát triển ở trẻ các năng lực
chung như năng lực giải quyết vấn đề, khả năng giao tiếp và hợp tác làm
việc,...Nó cũng góp phần làm giảm những rủi ro sau này cho trẻ khi tham gia
vào thực tiễn cuộc sống nhờ việc trẻ đã học được cách giải quyết tình huống từ
mô hình tương tự ở nhà trường mầm non.
Biện pháp tổ chức trò chơi đóng vai theo chủ đề phát triển khả năng giao
tiếp ngôn ngữ cho trẻ 4-5 tuổi là cách làm cụ thể mà giáo viên đưa ra để trẻ hoạt
động tự trải ngiệm trong trò chơi giúp trẻ đạt được mục đích giáo dục là phát
triển khả năng giao tiếp bằng ngôn ngữ cho trẻ.
1.3. Đặc điểm khả năng giao tiếp ngôn ngữ của trẻ 4-5 tuổi
Từ khi mới sinh ra đứa trẻ dần dần lĩnh hội kinh nghiệm xã hội thông qua
giao tiếp xúc cảm với người lớn, qua đồ chơi và đồ vật xung quanh nó, qua ngôn
ngữ...
Nghiên cứu của M.I.Lixinna và các nhà khoa học khác đã chứng minh
rằng, đặc điểm giao tiếp của trẻ với người lớn và bạn cùng tuổi được thay đổi và
phức tạp dần trong suốt thời kì thơ ấu. Sự phát triển giao tiếp, sự phức tạp hóa
và làm giàu hình thức giao tiếp tạo nên những khả năng mới cho đứa trẻ tiếp thu
22
kiến thức và kĩ năng từ môi trường xung quanh. Điều này có ý nghĩa quan trọng
nhất đối với sự phát triển tâm lí và hình thành nhân cách của đứa trẻ.
C.Mác đã viết: “Người ta lúc đầu phải nhìn vào người khác mới soi thấy
bóng mình và nhận ra được mình”. Giao tiếp là cầu nối giúp trẻ hình thành mối
quan hệ, nhận ra chính bản thân mình, là phương tiện giúp trẻ tự do thể hiện bản
thân hình thành kĩ năng tự khẳng định. Một đứa trẻ khi mới sinh ra chí có “tiềm
năng” để trở thành con người. Muốn trở thành con người thật sự thì phải có quá
trình tiếp thu kinh nghiệm xã hội lịch sử đã được loài người tích lũy qua nhiều
thế hệ. Quá trình này chỉ có thể thực hiện trong hoạt động, bắt đầu từ giao tiếp
với người lớn xung quanh.
Ngay từ khi mới sinh ra, trẻ em đã có nhu cầu được giao tiếp đó là nhu
cầu được tiếp xúc trực tiếp, gắn bó với người mẹ. Sự yêu thương trong giao tiếp
với người lớn bắt đầu xuất hiện ở trẻ 2 tháng tuổi. Sự tác động và giúp đỡ của
người lớn làm cho nhu cầu giao tiếp của đứa trẻ được hình thành với bốn dấu
hiệu đặc trưng: Sự quan tâm đến người lớn, mối quan hệ xúc cảm với người lớn,
Lúc này, giao tiếp tham gia vào hoạt động thực hành của đứa trẻ và dường như
phục vụ cho “những nhu cầu công việc” của nó. Tất cả những gì mà trẻ chưa
làm được như lấy đồ vật, hoạt động với đồ vật...trẻ rất muốn người lớn cùng
tham gia và rất nhiều sự viện trợ của họ. Hành động với đồ vật của đứa trẻ trở
thành hành động cùng nhau với người lớn, trong đó yếu tố hỗ trợ của người lớn
giữ vai trò chủ đạo.
Nội dung cũng như nhu cầu hợp tác với người lớn trong phạm vi giao tếp
công việc tình huống bị thay đổi. Từ 1 tuổi đến 1,5 tuổi là giai đoạn tiền ngôn
ngữ, đứa trẻ có nhu cầu giúp đỡ trong hành động với đồ vật. Sau đó là giai đoạn
ngôn ngữ, đứa trẻ hướng đến sự cộng tác với người lớn. Nó không chỉ chờ đợi
sự giúp đỡ của người lớn mà nó muốn hành động như người lớn, nó để ý và làm
theo người lớn. Lúc đầu người lớn đóng vai trò giúp đỡ, người trợ lý của trẻ, sau
đó có vai trò là người làm mẫu, là người đánh giá những hành động làm theo của
trẻ. Nhờ đó, trẻ mới có thể nắm vững được những hành động chuyên biệt với các
đồ dùng, đồng thời nhờ sự hợp tác công việc với người lớn trẻ nắm được ngôn
ngữ và giúp cho sự hiểu biết của trẻ cũng được phát triển.
Bước vào tuổi mẫu giáo, ở trẻ xuất hiện hình thức giao tiếp mới với người
lớn. Nó mang tính dán tiếp và được lồng vào hoạt động nhận thức của trẻ.
24
M.I.Lixinna gọi là giao tiếp “hợp tác trí tuệ.”. Bởi dạng giao tiếp này có đặc
điểm hợp tác trong hoạt động nhận thức của người lớn. Giai đoạn này ngôn ngữ
đã xuất hiện và trở thành phương tiện giao tiếp chính thức. Xuất hiện đồng thời
với ngôn ngữ là sự ham hiểu biết, tính tò mò với rất nhiều câu hỏi được đặt ra
cần sự giải đáp của người lớn xung quanh các hiện tượng, sự vật và các mối
quan hệ của nó trong thế giới tự nhiên. Sự giải đáp của giáo viên trở thành động
lực giúp trẻ tích cực, chủ động trong quá trình giao tiếp nhận thức với người lớn.
Nhờ đó mà cuộc sống của trẻ được bổ sung thường xuyên và trở nên phong phú.
Song song với dạng giao tiếp nhận thức cùng người lớn là dạng giao tiếp