TRƢỜNG ĐẠI HỌC QUẢNG BÌNH
KHOA SƢ PHẠM TIỂU HỌC - MẦM NON
----------
LÊ THỊ HƢƠNG
GIÁO DỤC TÌNH CẢM CHO TRẺ MẪU GIÁO
5 - 6 TUỔI THÔNG QUA CÁC TRÕ CHƠI
ĐÓNG VAI THEO CHỦ ĐỀ
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP
NGÀNH GIÁO DỤC MẦM NON
HỆ ĐÀO TẠO: CHÍNH QUY
KHÓA HỌC: 2012 - 2016
QUẢNG BÌNH, NĂM 2016
Lời Cảm Ơn
Để hoàn thành khóa luận này, em xin tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến
Cô giáo Ths. Nguyễn Thị Thùy Vân, đã tận tình hướng dẫn em trong
suốt quá trình thực hiện.
Em chân thành cảm ơn quý Thầy, Cô trong khoa sư phạm Tiểu
học – Mầm non, Trường Đại Học Quảng Bình đã tận tình truyền đạt
kiến thức trong những năm em học tập. Với vốn kiến thức được tiếp thu
trong quá trình học không chỉ là nền tảng cho quá trình nghiên cứu
khóa luận mà còn là hành trang quí báu để em bước vào nghề một cách
vững chắc và tự tin.
Kính chúc quý Thầy, Cô dồi dào sức khỏe và thành công trong sự
nghiệp của mình.
Đồng Hới, Tháng 5 năm 2016
1.2.1. Khái niệm chung về tình cảm ........................................................................6
1.2.2. Phân loại tình cảm ..........................................................................................6
1.2.3. Khái quát đặc điểm tâm lý của trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi .................................7
1.2.4. Sự phát triển xúc cảm, tình cảm của trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi .........................9
1.2.5. Trò chơi đóng vai theo chủ đề......................................................................11
1.2.6. Ý nghĩa của trò chơi ĐVTCĐ đối với sự phát triển của trẻ mẫu giáo .........18
1.2.7. Mục tiêu, nội dung và kết quả mong đợi về lĩnh vực phát triển tình cảm kỹ
năng xã hội đối với trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi ........................................................... 22
1.2.8. Cơ hội hình thành và bồi dƣỡng tình cảm cho trẻ Mẫu giáo 5 - 6 tuổi thông
qua các trò chơi ĐVTCĐ .......................................................................................23
TIỂU KẾT CHƢƠNG 1 .............................................................................................. 27
CHƢƠNG 2. THỰC TRẠNG GIÁO DỤC TÌNH CẢM CHO TRẺ MẪU GIÁO 5
- 6 TUỔI THÔNG QUA CÁC TRÕ CHƠI ĐÓNG VAI THEO CHỦ ĐỀ Ở
TRƢỜNG MẦM NON NAM LÝ ĐỒNG HỚI - QUẢNG BÌNH ........................... 28
2.1. VÀI NÉT VỀ KHÁCH THỂ VÀ ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU ............................ 28
2.2. THỰC TRẠNG GIÁO DỤC TÌNH CẢM CHO TRẺ MẪU GIÁO 5 6 TUỔI
THÔNG QUA CÁC TRÒ CHƠI ĐÓNG VAI THEO CHỦ ĐỀ Ở TRƢỜNG MẦM
NON NAM LÝ - ĐỒNG HỚI - QUẢNG BÌNH ....................................................30
2.2.1. Nhận thức của giáo viên về vai trò của giáo dục tình cảm đối với sự phát
triển nhân cách của trẻ............................................................................................ 30
2.2.2. Nhận thức của giáo viên về mức độ ảnh hƣởng của trò chơi đóng vai theo
chủ đề đến quá trình giáo dục tình cảm cho trẻ mẫu giáo ......................................31
2.2.3. Biểu hiện khả năng nhận biết và thể hiện xúc cảm, tình cảm của trẻ mẫu
giáo 5 - 6 tuổi qua các trò chơi ĐVTCĐ ................................................................ 33
2.2.4. Hình thức và biện pháp giáo dục tình cảm cho trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi thông
qua trò chơi ĐVTCĐ .............................................................................................. 38
2.2.5. Các yếu tố ảnh hƣởng đến quá trình giáo dục tình cảm cho trẻ mẫu giáo 5 –
6 tuổi qua các trò chơi ĐVTVCĐ ..........................................................................41
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
TT
Kí hiệu, chữ viết tắt
Nghĩa đầy đủ
1
GDMN
Giáo dục mầm non
2
ĐVTCĐ
Đóng vai theo chủ đề
3
MN
Mầm non
4
MG
2.1
2.2
2.1
Nhận thúc về vai trò của giáo dục tình cảm đối với hình
thành nhận thức của trẻ
Vai trò của trò chơi ĐVTCĐ đến quá trình giáo dục tình
cảm của trẻ
Vai trò của các chủ đề chơi đối với giáo dục tình cảm
cho trẻ
Trang
30
31
32
Khả năng nhận biết về xúc cảm, tình cảm của trẻ trong
2.2
MQH thực, MQH chơi khi tham gia các trò chơi đóng
34
vai theo chủ đề
Khả năng thể hiện xúc cảm, tình cảm của trẻ trong
BẢNG
2.3
MQH Thực, MQH chơi khi tham gia vào các trò chơi
mặt giáo dục khác. Tình cảm của trẻ có ảnh hƣởng đến cách nhìn nhận, thái độ của trẻ
với mọi ngƣời xung quanh và với chính bản thân trẻ. Hơn nữa đối với trẻ mà nói việc
hình thành những dấu ấn ban đầu có ý nghĩa hết sức quan trọng. Từ thực tế, nhiều
công trình nghiên cứu của các nhà tâm lý học, giáo dục học cho thấy trong những năm
đầu của cuộc dời đứa trẻ có hệ thần kinh mềm dẻo, non yếu và dễ uốn nắn. Do đó thời
gian này rất thuận lợi cho việc hình thành những nét cơ bản của cá tính và biểu hiện
cảm xúc nhất định, hình thành cho trẻ những phẩm chất tâm lý nhân cách con ngƣời.
Giáo dục tình cảm là một bộ phận của giáo dục đạo đức cho trẻ. Mục tiêu giáo
dục tình cảm cho trẻ lứa tuổi mầm non nhằm hƣớng tới hình thành và phát triển những
xúc cảm tình cảm tốt đẹp cho trẻ đối với mọi ngƣời xung quanh, nhằm hình thành
nhân cách con ngƣời ở trẻ nhỏ. Đối với trẻ mẫu giáo, vui chơi là hoạt động chủ đạo,
qua chơi trẻ đƣợc phát triển chức năng tâm lý và hình thành nhân cách. Khi chơi trẻ có
thêm nhiều cơ hội khám phá môi trƣờng xung quanh, qua đó kích thích tính tò mò, khả
năng quan sát, năng lực phán đoán, trí tƣởng tƣợng… của trẻ. Chính vì lẽ đó mà nhiều
nhà giáo dục đã gọi: “trò chơi là trƣờng học của cuộc sống”. Trẻ cần chơi nhƣ cần ăn
no, mặc êm, cần đƣợc yêu thƣơng. Trò chơi nuôi dƣỡng tâm hồn trẻ mà không có gì có
thể thay thế đƣợc.
Nhƣ vậy, trƣờng mầm non là môi trƣờng thuân lợi nhất để trẻ phát triển.ở đây
trẻ không những đƣợc chăm sóc đƣợc trò chuyện tiếp xúc với bạn bè,cô giáo mà còn
đƣợc vui chơi để thoả mãn ƣớc muốn làm ngƣời lớn với khả năng thực lực của mình.
Trong khi chơi đứa trẻ học cách sử dụng đồ vật, đồ chơi do con ngƣời sáng tạo ra. Học
những quy tắc ứng xử giữa ngƣời với ngƣời trong xã hội tức là trẻ học cách làm ngƣời.
Trẻ mẫu giáo có thể tham gia nhiều loại trò chơi nhƣ trò chơi đóng vai theo chủ
đề, trò chơi đóng kịch, các trò chơi có luật…Mỗi loại trò chơi đều có tác dụng phát
triển một mặt nhất định của trẻ. Nhƣng trung tâm của hoạt động vui chơi đối với trẻ
đóng vai theo chủ đề là loại trò chơi chủ yếu tạo ra nét đặc trƣng trong trò chơi,trong
đời sống tâm lý, tình cảm của trẻ mẫu giáo.
Tại sao trẻ mẫu giáo thích chơi trò chơi đóng vai theo chủ đề, bởi qua chơi trẻ
đƣợc hòa nhập vào các mối quan hệ trong xã hội, trẻ hiểu đƣợc bản thân mình và dầ
hát triển tình cảm tích cực giữa trẻ và bạn chơi. Từ những mối quan hệ yêu thƣơng gần
giáo 5 – 6 tuổi thì trò chơi ĐVTCĐ sẽ thực sự trở thành phƣơng tiện phát triển tình
cảm có hiệu quả đối với trẻ Mẫu giáo 5 - 6 tuổi.
5. NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
Đề tài tập trung giải quyết những nhiệm vụ sau:
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận về trò chơi ĐVTCĐ và việc giáo dục tình cảm cho
trẻ cho trẻ Mẫu giáo 5 - 6 tuổi thông qua trò chơi ĐVTCĐ.
- Khảo sát, phân tích thực trạng giáo dục tình cảm cho trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi ở
trƣờng Mầm non.
2
- Xây dựng một số biện pháp tổ chức trò chơi ĐVTCĐ nhằm phát giáo dục tình
cảm cho trẻ Mẫu giáo 5 – 6 tuổi ở trƣờng Mầm non.
6. PHẠM VI NGHIÊN CỨU
6.1. Giới hạn về khách thể nghiên cứu
- Thực hiện nghiên cứu trên 30 trẻ ở 2 lớp: MGL A 15 trẻ và ở lớp MGL B 15
trẻ. Trƣờng Mầm non Nam Lý - TP Đồng Hới - Quảng Bình.
- Khách thể điều tra: 20 Giáo viên ở Trƣờng Mầm non Nam Lý - Đồng Hới - Quảng
Bình (12 giáo viên lớp MGL, 4 giáo viên MGN, 4 giáo viên MGB)
6.2. Giới hạn về nội dung nghiên cứu
Nghiên cứu một số biện pháp tổ chức trò chơi ĐVTCĐ nhằm phát triển tình
cảm cho trẻ Mẫu giáo 5 - 6 tuổi ở Trƣờng Mầm non Nam Lý.
6.3. Thời gian nghiên cứu
Thực hiện nghiên cứu từ 16/01 đến tháng 5/2016
7. PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
7.1. Nhóm phƣơng pháp nghiên cứu lý luận
Sử dụng các phƣơng pháp phân tích, so sánh, tổng hợp, khái quát hoá, hệ thống
hoá những vấn đề lí luận liên quan đến nội dung nghiên cứu.
7.2. Nhóm phƣơng pháp nghiên cứu thực tiễn
Mở đầu
Chƣơng 1. Một số vấn đề lí luận về sự phát triển tình cảm của trẻ mẫu giáo 5 –
6 tuổi và trò chơi đóng vai theo chủ đề.
Chƣơng 2. Thực trạng giáo dục tình cảm cho trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi thông qua
các trò chơi đóng vai theo chủ đề ở trƣờng Mầm non Nam Lý – Đồng Hới – Quảng
Bình.
Chƣơng 3. Một số biện pháp nâng cao hiệu quả giáo dục tình cảm cho trẻ mẫu
giáo 5 – 6 tuổi thông qua các trò chơi đóng vai theo chủ đề.
Kết luận và kiến nghị.
4
NỘI DUNG
CHƢƠNG 1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÍ LUẬN VỀ SỰ PHÁT TRIỂN
TÌNH CẢM CỦA TRẺ MẪU GIÁO 5 - 6 TUỔI VÀ TRÕ CHƠI
ĐÓNG VAI THEO CHỦ ĐỀ
1.1. TỔNG QUAN VỀ LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ
1.1.1. Những nghiên cứu ở nƣớc ngoài
Tâm lý học trẻ em là một khoa học chuyên nghiên cứu về sự hình thành và phát
triển tâm lý trẻ em. Từ khi tâm lý học mầm non ra đời cho đến nay đã có rất nhiều
công trình nghiên cứu về nhân cách và chức năng tâm lý của trẻ trong độ tuổi mầm
non. Trong đó, lĩnh vực giáo dục tình cảm cho trẻ là một trong những lĩnh vực đƣợc
nhiều nhà tâm lý học trong nƣớc và ngoài nƣớc tiếp cận, tìm hiểu nghiên cứu, cụ thể
Ở nƣớc ngoài với quan điểm trò chơi là niềm vui sƣớng của tuổi thơ là phƣơng
tiện phát triển toàn diện cho trẻ. Theo J. A. Kômenxki “trò chơi là hoạt động cần thiết
là phƣơng tiện phát triển toàn diện cho trẻ”. Bên cạnh đó, vấn đề hình thành thói quen
về biểu hiện xúc cảm, tình cảm cho trẻ cũng đƣợc các nhà khao học quan tâm và đề
câp đến trong một số công trình nghiên cứu theo một số khía cạnh khác nhau nhƣ
Nghiên cứu về tiềm năng phát triển trí tuệ của trẻ mẫu giáo, về năng lực hoạt động và
và động cơ của họ. Tình cảm là sản phẩm cấp cao của sự phát triển các qúa
trình cảm xúc trong điều kiện xã hội.
Nó còn đƣợc phân thành hai dạng, tình cảm cấp thấp và tình cảm cấp cao. Tình
cảm cấp thấp: Là tình cảm liên quan đến sự thỏa mãn những nhu cầu sinh vật của cơ
thể (nhƣ nhu cầu về mặt sinh học)
Tình cảm cấp cao là tình cảm liên quan đến những thoã mãn những nhu cầu
mang tính chất xã hội và nó nói lên thái độ của con ngƣời đối với những mặt khác
nhau của đời sống xã hội.
1.2.2. Phân loại tình cảm
*Tình cảm trí tuệ
Là những tình cảm nảy sinh trong quá trình hoạt động trí óc, liên quan đến sự
thỏa mãn hay không thỏa mãn nhu cầu nhận thúc của con ngƣời nhƣ: ham học hỏi, tìm
hiểu, nhạy cảm với cái mới.
- Tình cảm trí tuệ của trẻ phát triển, mỗi nhận thức mới đều kích thích niềm vui,
hứng thú, sự say mê thích thú của trẻ; tính tò mò ham hiểu biết, làm nảy sinh nhiều xúc
cảm tích cực; trong vui chơi, học tập, lao động tự phục vụ nhiều thành công thất bại
củng cố sự phát triển tình cảm trí tuệ ở trẻ.
* Tình cảm đạo đức
Là loại tình cảm liên quan đến sự thỏa mãn hay không thỏa mãn nhu cầu đạo
đức của con ngƣời biểu hiện thái độ của con ngƣời đối với các yêu cầu đạo đức, hành
vi đạo đức (tình mẫu tử,tình bạn bè...)
Do lĩnh hội đƣợc ý nghĩa các chuẩn mực hành vi tốt, xấu. Qua vui chơi giao
tiếp với mọi ngƣời; do các thói quen nếp sống tốt đƣợc gia đình, các lớp mẫu giáo xây
dựng cho trẻ...Trẻ ý thức đƣợc nhiều hành vi tốt đẹp cần thực hiện để vui lòng mọi
ngƣời.
* Tình cảm thẩm mỹ
Là những tình cảm liên quan đến nhu cầu thẩm mỹ nhu cầu vế cái đẹp nó biểu
hiện thái độ thẩm mỹ của con ngƣời đối với hiện thực xung quanh. Trẻ biểu hiện rõ
nhƣ sau:
Để đáp ứng nhu cầu nhận thức đang phát triển mạnh ở trẻ mẫu giáo lớn cho nên
bên cạnh việc phát triển tƣ duy trực quan hình tƣợng vẫn cần phát triển một tƣ duy
trực quan hình tƣợng mới đó là tƣ duy trực quan – sơ đồ là yếu tố đầu tiên làm bậc
đệm để phát triển tƣ duy cao hơn.
*Tưởng tượng
Các hoạt động tƣởng tƣợng đã dần dần tách khỏi đồ vật hiện có, nội dung tƣởng
tƣợng phong phú hơn so với trẻ mẫu giáo nhỡ vì trẻ đã có sự tiếp xúc nhiều hơn với
thế giới bên ngoài. Chuyển từ tƣởng tƣợng tái tạo sang tƣởng sáng tạo đƣợc thể hiện rõ
nhất trong các hoạt động mang tính sáng tạo nhƣ: vẽ, nặn, chơi xây dựng…Trẻ có khả
năng hành động theo ý đồ, định hƣớng của mình.
7
Cuối tuổi mẫu giáo trí tƣởng tƣợng sáng tạo của trẻ đƣợc phát triển khá mạnh
với sự hỗ trợ đắc lực của tri giác. Nếu trẻ có khả năng quan sát tốt sự vật và hiện tƣợng
xung quanh thì quá trình tƣởng tƣợng nhất là tƣởng tƣợng sáng tạo sẽ phát triển thuận
lợi, bởi tri giác là nguồn cung cấp chất liệu cho hoạt động của trí tƣởng tƣợng sáng tạo.
*Chú ý
Chú ý không chủ định chiếm ƣu thế, chú ý có chủ định đang đƣợc phát triển do
trẻ đã xác định đối tƣợng cần chú ý, biết đặt ra mục đích cho sự chú ý của mình, biết
hƣớng ý thức của mình vào đối tƣợng để phục vụ cho mục đích của hoạt động. Khả
năng phân phối, sức tập trung, sự di chuyển của chú ý đều tăng lên đặc biệt là đối với
những đối tƣợng hấp dẫn, sinh động.
*Trí nhớ
Đặc trƣng trí nhớ của trẻ mẫu giáo là tính trực quan, máy móc và không chủ
định. Tuy nhiên, vào cuối tuổi mẫu giáo, trí nhớ của trẻ có một bƣớc biến đổi về chất
đó là trí nhớ có chủ định xuất hiện và phát triển. ngôn ngữ đóng một vai trò đặc biệt
quan trọng trong sự phát triển trí nhớ có chủ định của trẻ 5 - 6 tuổi, nhờ đó mà trẻ nắm
đƣợc tên và hiểu đƣợc ý nghĩa của sự vật, hiện tƣợng cần nhớ, đặt mục đích và tìm
phƣơng tiện giúp ghi nhớ và nhớ lại những điều cần nhớ.
thay đổi, dễ dao động và mang tính tình huống các loại tình cảm cấp cao (tình cảm trí
tuệ, tình cảm đạo đức, tình cảm thẩm mỹ…) đều phát triển.
1.2.4. Sự phát triển xúc cảm, tình cảm của trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi
Trong lứa tuổi ấu nhi cũng nhƣ lứa tuổi mẫu giáo thì tình cảm thống trị tất cả
các mặt trong các hoạt động tâm lý của đứa trẻ, đặc biệt ở lứa tuổi MGL thì đời sống
tình cảm của trẻ có bƣớc chuyển biến mạnh mẽ, vừa phong phú vừa sâu sắc hơn so với
các lứa tuổi trƣớc đó, sự phát triến xúc cảm, tình cảm của trẻ có các biểu hiện nhƣ sau:
Tính đồng cảm và tính dễ xúc cảm đối với con ngƣời và cảnh vật xung quanh.
Đây là thời điểm rất thuận lợi để giáo dục lòng nhân ái ở trẻ. Tuy nhiên, ở những đứa
trẻ sống trong một hoàn cảnh bất lợi, lại chịu ảnh hƣởng của lối giáo dục sai lầm thì
cũng dễ nãy sinh tính ích kỉ, tham lam, độc ác và những tình cảm tiêu cực khác cho dù
đó chỉ là những biểu hiện rất bột phát. Ở thời điểm mà nhân cách vừa mới bắt đầu
đƣợc hình thành thì những dấu ấn không đẹp vẫn có thể để lại di chứng cho các giai
đoạn phát triển sau này, vì vậy cần phải uốn nắn ngay.
Sự phát triển tình cảm của trẻ mẫu giáo còn đƣợc thể hiện ra ở nhiều mặt đời
sống tinh thần của trẻ (trí tuệ, đạo đức, thẩm mĩ). Các loại tình cảm này nếu đều ở một
thời điểm phát triển thuận lợi nhất, đặc biệt là tình cảm thẩm mĩ. Tình yêu cái đẹp
trong thiên nhiên, trong cuộc sống và nghệ thuật thực chất đó là tình cảm đƣợc khêu
gợi lên bởi những cảm xúc về cái đẹp của con ngƣời, của tình ngƣời. Trẻ MGL biết
rung cảm khá nhạy bén trƣớc những cái đẹp trong thế giới xung quanh. Có thể nói đây
là thời kì phát triển những xúc cảm thẩm mĩ, tức là những xúc cảm tích cực, đều này
sinh khi trẻ tiếp xúc trực tiếp với cái đẹp khiến trẻ thấy gắn bó tha thiết với con ngƣời
và cảnh vật xung quanh, kích thích trẻ làm những điều tốt lành đem lại niềm vui cho
mọi ngƣời.
Quan sát trong cuộc sống hằng ngày chúng ta dễ nhận thấy trẻ MG đặc biệt là
từ 4 tuổi trở đi, dễ vui sƣớng, ngỡ ngàng khi nhìn thấy những vẻ đẹp tƣởng chừng nhƣ
đơn giản của một bông hoa đang nở hay của một bản nhạc du dƣơng...Trẻ nhận thức
thế giới và tỏ thái độ với những sự vật xung quanh mình thƣờng là những xúc cảm
9
vật trong truyện mà còn đối với cả những con vật, sự vật, đồ vật và cả hiện tƣợng thiên
nhiên. Trẻ thƣờng gán cho chúng những sắc thái cúc cảm của con ngƣời, xót thƣơng
cho một cây hoa bị vặt trụi lá, thƣơng cho con chim nhỏ bị ƣớt mƣa...Dƣờng nhƣ ở đâu
trẻ cũng thấy tình ngƣời.
Từ những biểu hiện của sự phát triển tình của trẻ 5 – 6 tuổi nêu trên, chúng ta
có thể nhận định rằng: đời sống tình cảm của trẻ MGL phát triển khá mãnh liệt, nổi bật
lên là sự đồng cảm (dễ cảm thông và sẵn sàng chia sẽ niềm vui, nổi buồn với ngƣời
10
khác) và tính dễ xúc cảm (nhạy cảm với những rung động của ngƣời khác) đối với con
ngƣời cũng nhƣ cảnh vật xung quanh. Đây là một thời điểm giáo dục thuận lợi lòng
nhân ái cho trẻ MGL.
1.2.5. Trò chơi đóng vai theo chủ đề.
1.2.5.1. Khái niệm chung về trò chơi ĐVTCĐ cho trẻ
Trò chơi ĐVTCĐ hay còn gọi là trò chơi giả bộ, có tính tƣợng trƣng độc đáo,
mô tả lại những sự việc diễn ra trong cuộc sống sinh hoạt của trẻ. Đây là một hoạt
động chủ đạo vui chơi của trẻ em lứa tuổi mẫu giáo, giúp trẻ hình thành kỹ năng và
phát triển nhân cách.
Khi trẻ lên ba tuổi trẻ bắt đầu có ý thức về bản thân mình, biết phân biệt mình
với ngƣời khác trong cộng đồng nhỏ. Mối quan hệ giữa trẻ em với ngƣời lớn mang
tính chất mới (hoạt động cùng nhau đƣợc thay thế bằng việc thực hiện những nhiệm vụ
độc lập theo lời chỉ dẫn của ngƣời lớn). Quan hệ giữa trẻ và bạn bè cùng lứa tuổi đƣợc
hình thành. Trẻ bắt đầu để ý và bắt chƣớc ngƣời lớn về mọi mặt. Trẻ muốn tự khẳng
định mình bằng cách tập làm ngƣời lớn. Nhƣng trên thực tế, trẻ chƣa có đủ năng lực,
kỹ năng kỹ xảo, cần thiết với những công việc của ngƣời lớn. Mâu thuẫn diễn ra gay
gắt giữa một bên là nhu cầu một bên là khả năng của trẻ ba tuổi.
Trò chơi ĐVTCĐ ra đời thay thế cho hoạt động với đồ vật ở lứa tuổi vƣờn trẻ
giúp trẻ giải quyết mâu thuẫn này. Trò chơi giúp trẻ tái tạo lại đời sống lao động của
ngƣời lớn cùng với những mối quan hệ xã hội, làm trẻ thỏa mãn khát vọng đƣợc sống
dần và đƣợc mở rộng ra. Chẳng hạn cũng là trò chơi theo chủ đề sinh hoạt gia đình,
nhƣng ở trẻ MGB thƣờng chỉ thể hiện rất đơn giản nhƣ: Mẹ cho con ăn, mẹ bế con,
cho con ngủ, còn đến MGN – MGL không chỉ dừng ở quan hệ mẹ con mà còn mối
quan hệ với những nhân vật khác nữa: Mẹ đƣa con đi học gặp cô giáo, mẹ đƣa con đi
siêu thị, mẹ đƣa con đi khám bệnh, đi chơi công viên. Nhƣ vậy cùng một chủ đề chơi
nhƣng ở mỗi lứa tuổi trẻ lại tái tạo các mặt rất khác nhau của hiện thực cuộc sống, ở
lứa tuổi sau thì càng sâu sắc, phong phú hơn lứa tuổi trƣớc.
Chính vì thế bên cạnh các chủ đề chơi ta phải chú ý đến mặt nội dung chơi. Nội
dung của trò chơi là những hoạt động của ngƣời lớn mà đứa trẻ nhận thức đƣợc và
phản ánh vào trò chơi của mình. Đó là những hoạt động của ngƣời lớn với các đồ vật,
mối quan hệ giữa ngƣời với ngƣời, những yếu tố đạo đức thẩm mỹ.
Chẳng hạn, trò chơi: “Lái tàu hoả” ở các độ tuổi khác nhau thì diễn ra khác
nhau. Với MGB chỉ dừng lại ở chỗ bắt trƣớc hành động của ngƣời lái tàu, ngƣời đi tàu.
Nổi lên ở đây là hành động thực của ngƣời lớn với các đối tƣợng mà trẻ bắt trƣớc
đƣợc. Việc tái tạo lại những hành động ấy trở thành nội dung cơ bản trong trò chơi của
MGB. Cùng với trò chơi này ở MGL thì nổi bật lên hàng đầu là mối quan hệ xã hội,
giữa những ngƣời trên tàu hoả: ai là ngƣời lái tàu, ai là nhân viên trên tàu, ai là hành
khách và quan hệ của họ ra sao…Bên cạnh đó trẻ còn quan tâm đến những mối quan
hệ bên trong nhƣ về mặt tình cảm, đạo đức của những mối quan hệ đó.
Chính vì vậy với nội dung trò chơi ta cần phải xem xét khía cạnh tích cực hay
tiêu cực của mảng hiện thực mà trẻ em tái tạo bởi lẽ đời sống xã hội ngƣời lớn hết sức
phong phú và phức tạp. Bên cạnh những việc tốt, ngƣời tốt còn có bao yếu tố tiêu cực
xen lẫn vào. Điều này cũng đƣợc phản ánh nhạy bén vào trò chơi của trẻ em. Nếu
không quan tâm giáo dục thì trẻ có thể chơi những trò chơi tiêu cực nhƣ: say rƣợu, bố
mẹ cãi nhau hoặc cảnh đánh chửi nhau…
12
Vai trò của ngƣời giáo dục không những giúp trẻ có đƣợc những chủ đề chơi
ngày càng phong phú, rộng lớn mà còn giúp trẻ nắm đƣợc những hành động của ngƣời
hành trò chơi trong các điều kiện các đồ chơi khác nhau. Ví dụ: Khi làm đoàn tàu trẻ
có thể dùng ghế xếp thành dãy mà cũng có thể dùng nhiều khối gỗ xếp thành hàng…
*Những mối quan hệ qua lại của trẻ trong trò chơi
13
Trò chơi là một hoạt động chung đầu tiên và cơ bản của trẻ MG, trong đó có hai
mối quan hệ qua lại giữa những trẻ cùng tham gia trò chơi đó là quan hệ thực và quan
hệ chơi.
Những quan hệ chơi: Đó là những quan hệ qua lại của các vai trong trò chơi
theo một chủ đề nhất định mô phỏng lại mối quan hệ của ngƣời lớn trong xã hội nhƣ
quan hệ giữa mẹ và con trong trò chơi gia đình, quan hệ giữa ngƣời mua và ngƣời bán
trong trò chơi bán hàng…Đó là những quan hệ đƣợc trẻ quan tâm và trở thành đối
tƣợng hành động của chúng.
Những quan hệ thực: Đó là những quan hệ qua lại giữa những trẻ là những
ngƣời cùng tham gia vào trò chơi, những ngƣời bạn cùng thực hiện một cộng việc
chung, trẻ tập hợp nhau thành nhóm để bàn bạc với nhau về chủ đề chơi, về việc phân
vai, thoả thuận với nhau về quy tắc, hành vi của vai này, vai nọ và giải quyết các vấn
đề nảy sinh trong quá trình chơi.
Trò chơi đóng vai theo chủ đề là mô hình của những quan hệ xã hội của ngƣời
lớn và là phƣơng tiện định hƣớng cho trẻ em vào những mối quan hệ ấy. Trong đó trò
chơi đóng vai theo chủ đề, các quan hệ đƣợc hiện ra rõ rệt. Việc thực hiện hành động
của vai chơi là phải tạo ra các mối quan hệ với các vai khác nhau, sức sống của trò
chơi đóng vai theo chủ đề là ở chỗ nó tạo ra đƣợc những mối quan hệ giữa các vai. Đó
chính là bản chất xã hội của trò chơi đóng vai theo chủ đề.
Trò chơi của trẻ đó chính là cái xã hội ngƣời lớn thu nhỏ lại và cũng chứa đầy
những mối quan hệ phức tạp. Những mối quan hệ xã hội đƣợc mô phỏng vào trò chơi
có một đặc điểm đáng lƣu ý là nó làm nảy sinh luật lệ hành động của các vai, buộc trẻ
phải tuân theo nhƣ là những quy tắc xã hội (luật chơi), chơi nhƣ thế đứa trẻ tự nguyện
chấp nhận những chuẩn mực của cuộc sống xã hội, của những quan hệ giữa ngƣời lớn
đồ chơi là vật thay thế nên thao tác chơi của trẻ không trùng khớp với hành động chơi,
đó là lý do làm nảy sinh hoàn cảnh tƣởng tƣợng (tức là hoàn cảnh chơi). Từ đó cần
phải nhấn mạnh rằng hành động chơi không đƣợc sinh ra từ hoàn cảnh tƣởng tƣợng mà
ngƣợc lại, hoàn cảnh tƣởng tƣợng lại trùng khớp với hành động của vai. Nói cách khác
hoạt động chơi của trẻ đã tạo ra kết quả là hoàn cảnh tƣởng tƣợng (A.N.Lêonchiep) có
nghĩa là hoạt động chơi làm nảy sinh trí tƣởng tƣợng chứ không phải trí tƣởng tƣợng
có trƣớc khi chơi, mà nó là kết quả của hoạt động chơi. Điều đó đƣợc chứng minh
bằng nhiều thực nghiệm và quan sát. Ta dễ dàng nhận thấy khi trẻ không chơi thì
không tƣởng tƣợng ra hoàn cảnh chơi.
Nhƣ vậy là nếu trẻ không đƣợc chơi thì không nảy sinh ra hoàn cảnh chơi
tƣởng tƣợng.
1.2.5.3. Đặc điểm của trò chơi ĐVTCĐ
Trò chơi này đƣợc coi là trò chơi đóng vai theo chủ đề trƣớc hết là vì trò chơi
này bao giờ cũng có chủ đề. Chủ đề của trò chơi muôn màu muôn vẻ, trẻ tái hiện lại
những sinh hoạt của ngƣời lớn. Chẳng hạn chủ đề “Gia đình”, “Bán hàng”, “Bác
sĩ”…Trong khi chơi phản ánh cuộc sống xung quanh rất đa dạng với các mảng hiện
thực hết sức phong phú. Các mảng hiện thực đƣợc phản ánh vai trò chơi đƣợc gọi là
chủ đề chơi. Phạm vi hiện thực mà trẻ tiếp xúc càng rộng bao nhiêu thì các chủ đề của
trò chơi càng phong phú bấy nhiêu. Trong khi chơi, mọi hoạt động của trẻ đều xoay
quanh chủ đề của trò chơi dựa vào những biểu tƣợng sinh động của chính các cháu về
cuộc sống đang diễn ra hàng ngày. Trẻ càng lớn thì chủ đề chơi càng trở nên sâu rộng.
15
Để trò chơi đóng vai theo chủ đề đƣợc thực hiện trẻ cần phải đóng vai tức là
ƣớm mình vào vị trí của một ngƣời lớn nào đó và bắt trƣớc hành động của họ nhƣ là để
thực hiện các chức năng xã hội. Vui chơi là yếu tố quan trọng để tạo nên trò chơi,
trong vui chơi, trẻ thƣờng thực hiện một công việc nào đó mang tính chất nghề nghiệp
nhƣ lái xe, bán hàng, dạy học, chữa bệnh…
Đóng vai là con đƣờng để trẻ thâm nhập vào cuộc sống của ngƣời lớn xung
16
yếu là nhằm vào “ý” tức là nhằm vào hình thành động cơ của trẻ em đƣợc biểu hiện
trong những mối quan hệ xã hội (dù chỉ mô phỏng). Tất nhiên nó bao gồm cả mặt kỹ
thuật, những thao tác đối với đồ vật, nhƣng mặt này chỉ hỗ trợ cho mặt thứ nhất.
Điều quan trọng trong trò chơi đóng vai theo chủ đề là ý nghĩa xã hội của nó
đƣợc thể hiện trong các quy tắc mà ai cũng phải tuân theo (những quy tắc này đƣợc trẻ
em mô phỏng vào trò chơi nhƣ mua hàng phải trả tiền, đi đƣờng bên phải…) chơi nhƣ
thế trẻ tự chấp nhận những chuẩn mực của đời sống xã hội, của những quan hệ ngƣời
lơn với nhau, giữa trẻ em với ngƣời lớn… từng tí một, trẻ chuyển những quan hệ xã
hội khách quan vào trong nhân cách của mình, tạo ra đời sống nội tâm, tạo ra sự trải
nghiệm. Kết quả là tạo ra một cách nhìn nhận bản thân mình tức là sự hình thành ý
thức cá nhân, cốt lõi trong nhân cách mỗi ngƣời
Trò chơi đóng vai theo chủ đề mang tính biểu tƣợng cao, đó là chức năng ký
hiệu tƣợng trƣng, Trong khi chơi mỗi đứa trẻ đều tự nhận cho mình một vai trò nào đó
và thực hiện những hành động của vai. Nhƣng đấy chỉ là hành động nhụ ý “giả vờ” mà
thôi, từ vai chơi, hành động chơi, đến những đồ chơi đều là giả vờ, đều mang tính
tƣợng trƣng, nhƣng lại rất thực đối với trẻ em, vì nó đã phản ánh thực tế cuộc sống, sự
kiện này đã cho ra đời một chức năng mới của ý thức. Đó là chức năng ký hiệu, tƣợng
trƣng nhờ đó trẻ có thể bƣớc sang một loại hình mới của việc nhận thức thế giới hiện
thực, một loại hình đặc trƣng của con ngƣời, đó là sự nhận thức hiện tƣợng thông qua
một hệ thống ký hiệu. Chức năng ký hiệu tƣợng trƣng cho phép trẻ tách hành động
khỏi đồ vật thật mà hành động với những vật thay thế. Ví dụ: trẻ phi ngựa bằng chiếc
gậy, thì hành động đó mất đi ý nghĩa thực tiễn của nó mà biến thành một ký hiệu đánh
dấu việc cƣới ngựa và chiếc gây ở đây chỉ đồ vật thay thế cho con ngựa. Khi bắt đầu
biết dùng đồ vật thay thế cũng là lúc trẻ biết dùng những ký hiệu tƣợng trƣng để nhận
thức thế giới. Nhờ đó các chức năng tâm lý bậc cao (nhƣ tƣ duy, tƣởng tƣợng, tình
cảm…) đều đƣợc phát triển tốt.
Trẻ mẫu giáo đã có kỹ năng tổ chức trò chơi và chơi một cách độc lập sáng tạo