Quản lý nhà nước của bộ giao thông vận tải về trật tự an toàn giao thông đường bộ - Pdf 42

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ NỘI VỤ

................./................

.........../.........

HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA

NGUYỄN HUỲNH THÚY HẰNG

QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC CỦA BỘ GIAO THÔNG VẬN TẢI VỀ
TRẬT TỰ AN TOÀN GIAO THÔNG ĐƢỜNG BỘ

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ CÔNG

HÀ NỘI – NĂM 2016


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ NỘI VỤ

................./................

.........../.........

HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA

NGUYỄN HUỲNH THÚY HẰNG

GTVT và các nguồn tài liệu sát với thực tế, hướng dẫn phương pháp nghiên cứu và
động viên tôi vượt qua những khó khăn để hoàn thành luận văn này.
Tôi xin trân trọng cảm ơn các Thầy, Cô giáo giảng dạy chương trình cao học
chuyên ngành “Quản lý công” đã truyền dạy cho tôi những kiến thức quý báu, hữu
ích giúp tôi nâng cao kiến thức bổ ích áp dụng trong công việc, cuộc sống và quá
trình nghiên cứu hiện nay cũng như trong tương lai của mình.
Xin cảm ơn các đồng chí Lãnh đạo của Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam
và các phòng ban liên quan đã tạo điều kiện để tôi nghiên cứu, phục vụ hữu ích cho
quá trình viết luận văn.
Xin cảm ơn các bạn lớp Thạc sỹ Quản lý công – Học viện Hành chính quốc
gia đã giúp đỡ tôi hoàn thành công trình nghiên cứu quan trọng này. Đây là những
bước đi quan trọng đầu tiên trong quá trình nghiên cứu khoa học của bản thân để tôi
có thể tiếp tục thực hiện trong tương lai./.


DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

TNGT

: Tai nạn giao thông

KT-XH

: Kinh tế - xã hội

GTVT

: Giao thông vận tải

TS


ETI

: Enabling Trade Index

HTGT

: Hạ tầng giao thông

GPLX

: Giấy phép lái xe

WTO

: Tổ chức thương mại thế giới

UTGT

: Ùn tắc giao thông

ĐKV

: Đăng kiểm viên

TTĐK

: Trung tâm đăng kiểm

KHCN

LỜI CẢM ƠN
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
DANH MỤC BẢNG, BIỂU ĐỒ, HÌNH VẼ
MỤC LỤC ..................................................................................................................1
MỞ ĐẦU ....................................................................................................................1
CHƢƠNG 1: CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC VỀ TRẬT TỰ
AN TOÀN GIAO THÔNG ĐƢỜNG BỘ ................................................................8
1.1. Giao thông đƣờng bộ và trật tự an toàn giao thông đƣờng bộ ..................8
1.1.1. Khái niệm giao thông đường bộ ...............................................................8
1.1.2. Khái niệm và đặc điểm trật tự an toàn giao thông đường bộ ...................9
1.1.3. Ý nghĩa của việc đảm bảo trật tự an toàn giao thông đường bộ .............10
1.2. Quản lý nhà nƣớc về trật tự an toàn giao thông đƣờng bộ ......................12
1.2.1. Khái niệm ...............................................................................................12
1.2.2. Đặc điểm quản lý nhà nước về trật tự, an toàn giao thông đường bộ ....17
1.2.3. Vai trò của quản lý nhà nước về trật tự, an toàn giao thông đường bộ .21
1.2.4. Nguyên tắc quản lý nhà nước về trật tự, an toàn giao thông đường bộ .27
1.3. Nội dung quản lý nhà nƣớc về trật tự, an toàn giao thông đƣờng bộ .....29
1.3.1. Xây dựng quy hoạch, kế hoạch và chính sách phát triển giao thông
đường bộ; xây dựng và chỉ đạo thực hiện chương trình quốc gia về an toàn
giao thông đường bộ. ........................................................................................30
1.3.2. Xây dựng và hoàn thiện pháp luật giao thông đường bộ và các lĩnh vực
khác của pháp luật có liên quan ........................................................................30
1.3.3. Tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về giao thông đường bộ ....31
1.3.4. Tổ chức quản lý, bảo trì, bảo vệ kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ ..32
1.3.5. Công tác đăng kiểm phương tiện ............................................................32
1.3.6. Công tác đào tạo và cấp giấy phép lái xe ...............................................33
1.3.7. Tổ chức nghiên cứu, ứng dụng khoa học và công nghệ về giao thông
đường bộ; đào tạo cán bộ và công nhân kỹ thuật giao thông đường bộ ...........33
1.3.8. Hoạt động Thanh tra giao thông .............................................................34
1.3.9. Hợp tác quốc tế về quản lý trật tự, an toàn giao thông đường bộ ..........34

đường bộ; đào tạo cán bộ và công nhân kỹ thuật giao thông đường bộ. ..........65
2.2.8. Hoạt động Thanh tra giao thông .............................................................66
2.2.9. Hợp tác quốc tế về quản lý trật tự, an toàn giao thông đường bộ ..........68
2.3. Đánh giá chung thực trạng quản lý nhà nƣớc của Bộ Giao thông vận tải
về trật tự an toàn giao thông đƣờng bộ ............................................................71
2.3.1. Những kết quả đạt được .........................................................................71
2.3.2. Những hạn chế ........................................................................................72
2.3.3. Nguyên nhân của những hạn chế................................................................
..........................................................................................................................75
KẾT LUẬN CHƢƠNG 2 ........................................................................................77


CHƢƠNG 3: QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU NHẰM TĂNG
CƢỜNG QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC CỦA BỘ GIAO THÔNG VẬN TẢI VỀ
TRẬT TỰ AN TOÀN GIAO THÔNG ĐƢỜNG BỘ ...........................................78
3.1. Quan điểm hoàn thiện quản lý nhà nƣớc của Bộ giao thông vận tải về
trật tự an toàn giao thông đƣờng bộ .................................................................78
3.1.1. Quan điểm...............................................................................................78
3.1.2. Mục tiêu ..................................................................................................78
3.1.3. Định hướng chiến lược ...........................................................................81
3.2. Giải pháp chủ yếu nhằm tăng cƣờng công tác quản lý nhà nƣớc của Bộ
Giao thông vận tải về trật tự an toàn giao thông đƣờng bộ ............................82
3.2.1. Xây dựng chiến lược, quy hoạch, đề án, thể chế về lĩnh vực đảm bảo trật
tự an toàn giao thông đường bộ ........................................................................83
3.2.2. Tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật để nâng
cao ý thức bộ máy nhà nước, cộng đồng về an toàn giao thông đường bộ ......84
3.2.3. Hoàn thiện tổ chức bộ máy thực hiện quản lý nhà nước về bảo đảm trật
tự an toàn giao thông đường bộ (sắp xếp, kiện toàn tổ chức; bồi dưỡng đào tạo
cán bộ; luân chuyển, bổ nhiệm, tăng cường cán bộ quản lý nhà nước ...) .......87
3.2.4. Ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật trong quản lý nhà nước về bảo đảm

vào cuộc quyết liệt của các Bộ ngành chức năng từ Trung ương tới địa phương, các
tổ chức chính trị xã hội, mọi tầng lớp nhân dân trong việc tuyên truyền, nghiêm túc
triển khai các quy định pháp luật về đảm bảo trật tự an toàn giao thông đã đóng góp
phần quan trọng vào hiệu quả công tác này trong nhiều năm qua. Tình hình trật tự,
an toàn giao thông có chuyển biến, tai nạn giao thông được kiềm chế, giảm về số
vụ, số người chết và số người bị thương.
Tuy nhiên, kết quả kiềm chế và giảm tai nạn giao thông chưa bền vững, số
người chết, bị thương do TNGT vẫn ở mức cao và còn tiềm ẩn nguy cơ gia tăng, tai
nạn giao thông, đặc biệt là những tai nạn nghiêm trọng trên đường bộ vẫn diễn biến
phức tạp. Xuất hiện nhiều bất cập cản trở sự phát triển hạ tầng giao thông như: hệ
thống quốc lộ chưa được kết nối thông suốt, còn nhiều tuyến quốc lộ chưa được đầu
tư nâng cấp, đã xuất hiện nhiều nút thắt trên các tuyến giao thông huyết mạch; giao
thông đô thị còn nhiều yếu kém, ùn tắc giao thông tại các thành phố lớn thường

1


xuyên xảy ra; tình trạng chở quá tải trọng gây hư hỏng kết cấu hạ tầng vẫn diễn ra
nhức nhối là nguy cơ gia tăng tai nạn giao thông; quản lý nhà nước về giao thông,
trong đó có quản lý vận tải hành khách, hàng hóa còn yếu kém và chưa quyết liệt;
tình trạng nhũng nhiễu, tiêu cực trong bộ phận cán bộ thực thi chức năng như cán
bộ thực hiện tuần tra, kiểm soát, cán bộ đăng kiểm diễn ra ngày càng tinh vi, khó
kiểm soát; điều kiện đảm bảo an toàn giao thông còn chưa được quan tâm đầu tư,
kiểm tra, giám sát thường xuyên cũng khiến tình hình an toàn giao thông trở nên
phức tạp. Những tồn tại yếu kém nêu trên làm cho tình hình đảm bảo trật tự an toàn
giao thông đường bộ mặc dù đã được kiềm chế nhưng vẫn còn tiềm ẩn nhiều rủi ro
gia tăng tai nạn giao thông trên 3 tiêu chí và ùn tắc giao thông, ảnh hưởng tới đời
sống của người dân và phần nào cản trở tốc độ phát triển KT-XH đất nước.
Để giải quyết các tồn tại, hạn chế nêu trên, Bộ GTVT đã chủ động, tích cực
phối hợp với các ban ngành Trung ương và địa phương đưa ra nhiều giải pháp đồng

Nhận thức cơ bản về triển khai và sử dụng hệ thống giám sát, xử lý vi phạm
TTATGT đường bộ của lực lượng CSGT, các yêu cầu cơ bản của việc triển khai và
sử dụng hệ thống giám sát, xử lý vi phạm trật tự an toàn GTĐB của lực lượng
CSGT; quy định pháp lý về việc triển khai và sử dụng hệ thống giám sát, xử lý vi
phạm trật tự an toàn GTĐB của lực lượng CSGT đường bộ. Thực trạng triển khai và
sử dụng hệ thống giám sát, xử lý vi phạm trật tự an toàn GTĐB của lực lượng
CSGT. Đề xuất giải pháp triển khai và sử dụng hệ thống giám sát, xử lý vi phạm
trật tự an toàn GTĐB của lực lượng CSGT.
- Cuốn sách “Trật tự, an toàn giao thông đường bộ trên địa bàn 5 thành phố
trực thuộc Trung ương - Thực trạng và giải pháp”, Nhà xuất bản Công an nhân dân,
Hà Nội năm 2014 của tập thể tác giả: Đại tá, PGS,TS. Phạm Đình Xinh; Thượng tá,
ThS. Phùng Xuân Hào; Thiếu tá, TS. Lê Huy Trí; Đại úy, TS. Nguyễn Thành
Trung; Đại úy, ThS. Đặng Đức Minh; Trung úy, ThS. Nguyễn Đức Khiêm; Trung
úy, ThS. Nguyễn Thế Anh và cán bộ Trung tâm Nghiên cứu ATGT, Học viện Cảnh
sát nhân dân đã tập trung phân tích, làm rõ những nội dung sau:
Tình hình trật tự an toàn GTĐB và công tác đảm bảo trật tự an toàn GTĐB
trên địa bàn 5 thành phố trực thuộc Trung ương trong giai đoạn 2011-2013, gồm:
tình hình đặc điểm liên quan đến trật tự an toàn GTĐB; hoạt động triển khai các
biện pháp đảm bảo trật tự an toàn GTĐB và rút ra những nhận xét, đánh giá về tình
hình trật tự an toàn GTĐB và công tác đảm bảo trật tự an toàn GTĐB trên địa bàn 5

3


thành phố trực thuộc Trung ương. Dự báo tình hình và giải pháp góp phần đảm bảo
trật tự an toàn GTĐB trên địa bàn 5 thành phố trực thuộc Trung ương trong thời
gian tới và đề xuất các giải pháp công tác bảo đảm trật tự an toàn GTĐB trên địa
bàn 5 thành phố trực thuộc Trung ương
- Luận án tiến sĩ của Nguyễn Thị Thanh Thủy về đề tài: “Đổi mới quản lý nhà
nước về giao thông đô thị tại thành phố Hà Nội trong thời kỳ hội nhập và phát

- Nguyễn Huy Bằng: “Tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa trong lĩnh vực
giao thông đường bộ ở nước ta hiện nay”, Luận văn thạc sĩ Luật học, năm 2001.
Luận văn đã làm rõ lịch sử phát triển tư tưởng pháp chế, khái niệm pháp chế, quan
niệm pháp chế trong lĩnh vực GTĐB, tính tất yếu phải tăng cường pháp chế xã hội
chủ nghĩa trong lĩnh vực GTĐB, thực trạng, phương hướng và giải pháp tăng cường
pháp chế trong lĩnh vực GTĐB. Như vậy, luận văn đã không đề ra mục tiêu nghiên
cứu về QLNN về trật tự an toàn GTĐB.
- Nguyễn Hữu Trí: “Nghiên cứu định tính và đề xuất biện pháp nâng cao
ATGT cho người đi xe máy”, Luận văn thạc sĩ năm 2015. Luận văn chủ yếu tập trung
vào việc tìm hiểu những yếu tố ảnh hưởng đến hành vi của người tham gia giao
thong, giải thích tại sao yếu tố con người lại là nguyên nhân chính trong các vụ
TNGT. Nhiều biện pháp có thể được thực hiện nếu hiểu được rõ ràng hành vi của
người tham gia giao thông. Mục tiêu cuối cùng là tạo ra một môi trường giao thông,
thuận tiện và an toàn hơn cho người tham gia giao thông. Tuy nhiên, luận văn không
đi sâu tìm hiểu về những hoạt động quản lý nhà nước có liên quan đến vấn đề này.
Tình hình nghiên cứu trên cho thấy, các đề tài, luận văn và bài báo trong
chừng mực nhất định đã góp phần làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận và thực tiễn
quan trọng về QLNN trong bảo đảm trật tự an toàn GTĐB ở Việt Nam.
Tuy vậy, cho đến nay, chưa có công trình nào nghiên cứu một cách toàn
diện, chuyên biệt về QLNN đứng trên góc nhìn của Bộ giao thông vận tải về trật tự
an toàn GTĐB ở Việt Nam hiện nay. Luận văn là công trình khoa học đầu tiên
nghiên cứu một cách toàn diện và chuyên biệt về: “Quản lý nhà nước của Bộ giao
thông vận tải về trật tự an toàn giao thông đường bộ” dưới góc độ Quản lý hành
chính công. Với kết quả nghiên cứu của luận văn, hy vọng sẽ góp phần khắc phục
những tình trạng nêu trên.
3. Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
- Mục đích: Luận văn hướng tới làm sáng tỏ cơ sở lý luận và thực trạng QLNN
của Bộ giao thông vận tải về trật tự an toàn GTĐB ở Việt Nam hiện nay để đưa ra

5

- Phương pháp nghiên cứu:
+ Phương pháp nghiên cứu tài liệu thứ cấp (desk study): Sử dụng trong
nghiên cứu tại chỗ để rà soát các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về

6


bảo đảm trật tự an toàn GTĐB, các văn bản chính thức và báo cáo của các bộ ngành
ở Trung ương và của các địa phương về lĩnh vực này; các tài liệu đã nghiên cứu về
đề tài này.
+ Phương pháp khảo sát trường hợp điển hình: Sử dụng trong chọn lựa một
số địa phương điển hình nghiên cứu sâu, mô tả, nhận xét và tìm hiểu nguyên nhân
+ Ngoài ra, luận văn còn sử dụng các phương pháp nghiên cứu khác như thống
kê, phân tích, tổng hợp, so sánh và dự báo để chọn lọc những tri thức khoa học cũng
như kinh nghiệm thực tiễn QLNN của Bộ giao thông vận tải về trật tự an toàn GTĐB.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Thông qua việc làm rõ thực trạng QLNN của Bộ giao thông vận tải về trật tự
an toàn GTĐB ở Việt Nam hiện nay – những thành tựu, hạn chế và nguyên nhân,
Luận văn góp phần khẳng định nhu cầu thực tiễn phải nâng cao hiệu quả, hiệu lực
QLNN của Bộ Giao thông vận tải về trật tự an toàn GTĐB ở Việt Nam hiện nay và
những năm tiếp theo.
Kết quả nghiên cứu của luận văn góp phần làm sáng tỏ thêm một số vấn đề lý
luận về QLNN về trật tự an toàn GTĐB ở Việt Nam. Do đó, làm phong phú thêm lý
luận về Quản lý hành chính công. Luận văn là tài liệu tham khảo cho các cơ quan nhà
nước có thẩm quyền QLNN về trật tự an toàn GTĐB, cho cán bộ, công chức có thẩm
quyền xử lý vi phạm trong lĩnh vực GTĐB. Ngoài ra, luận văn có thể là nguồn tài liệu
tham khảo cho việc nghiên cứu, giảng dạy và phổ biến giáo dục pháp luật về GTĐB.
7. Kết cấu của luận văn
Kết cấu của luận văn thành 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý nhà nước về trật tự an toàn giao thông

đường, cầu đường bộ, hầm đường bộ, bến phà qua sông, suối nối đường bộ. GTĐB
và phát triển GTĐB đang được xem xét ở nhiều góc độ kinh tế - xã hội, chính trị
dưới sự tác động của sự phát triển khoa học - kỹ thuật tiên tiến. GTĐB là một hiện
tượng xã hội có xu hướng biến động mạnh mẽ ở hầu hết các quốc gia. Bởi vì:
GTĐB là một nhu cầu tự nhiên của xã hội loài người. Có thể nhận thấy, hoạt động
đi lại, đặc biệt là đi lại bằng đường bộ hay gọi là GTĐB đóng vai trò thiết yếu, quan
trọng của loài người và ngày nay đang không ngừng phát triển từ phương tiện, hình
thức đến xây dựng kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ.

8


1.1.2. Khái niệm và đặc điểm trật tự an toàn giao thông đường bộ
Từng cá thể con người, tổ chức người nhất định không thể tự lo để thỏa mãn
nhu cầu của mình. Đặc biệt, để đáp ứng nhu cầu của nền kinh tế thị trường, chỉ có
Nhà nước mới có thể xây dựng kết cấu HTGT đường bộ. Mặc dù, ở mức độ nào đó,
Nhà nước phải huy động sức dân, nhưng trách nhiệm thuộc về Nhà nước. Trách
nhiệm này mang tính pháp lý được quy định trong chức năng, nhiệm vụ của Nhà
nước. Các quan hệ xã hội diễn ra trong lĩnh vực GTĐB là đối tượng quản lý của Nhà
nước. Nhà nước kiểm soát, hướng dẫn, điều chỉnh các quan hệ xã hội để các quan hệ
này diễn ra “trong vòng trật tự”. Các quan hệ xã hội phát sinh trong GTĐB diễn ra
bởi nhiều chủ thể với những mục đích kinh tế, xã hội, quốc phòng, an ninh khác nhau
và cần được định chế hóa, quy phạm hóa và tiến tới pháp điển hóa. Các quan hệ xã
hội trong lĩnh vực GTĐB cũng như vậy, kết quả của quá trình định chế hóa, quy
phạm hóa, pháp điển hóa là Luật giao thông đường bộ năm 2001 được ban hành.
Tóm lại, từ vai trò tất yếu của GTĐB và những vấn đề QLNN nêu trên là cơ sở, có
tính điều kiện để nghiên cứu khái niệm về trật tự an toàn GTĐB và QLNN về trật tự
an toàn GTĐB. Trên thực tế, tồn tại nhiều quan niệm khác nhau về trật tự an toàn
GTĐB. Có ý kiến cho rằng: “Trật tự an toàn GTĐB là sự bảo đảm cho mọi hoạt động
giao thông được trật tự, an toàn, nhanh chóng, tiện lợi, thông suốt và mỹ quan môi

toàn vệ sinh môi trường, mỹ quan đô thị. Trật tự an toàn GTĐB là vấn đề xã hội gắn
liền với cuộc sống con người, bảo đảm sự tồn tại và phát triển của con người. Xã
hội càng hiện đại, văn minh, yêu cầu về trật tự an toàn GTĐB càng cao. Nhất là
trong điều kiện kinh tế thị trường, khi mà độ an toàn, chi phí trong lưu thông vận
chuyển đã kết tinh thành giá cả hàng hóa thì trật tự an toàn GTĐB còn được xem là
tiêu chí quan trọng để xem xét việc có quyết định đầu tư kinh doanh và mở rộng sản
xuất hay không. Trật tự an toàn GTĐB là một nội dung của trật tự ATGT nói chung
và một mặt cấu thành của trật tự, an toàn xã hội. Nếu trật tự an toàn GTĐB được
đảm bảo sẽ góp phần giữ gìn trật tự ATGT một cách ổn định và theo đó mọi hoạt
động của xã hội nói chung cũng như của từng người dân nói riêng đều đạt được
mục đích nhất định.
1.1.3. Ý nghĩa của việc đảm bảo trật tự an toàn giao thông đường bộ
Từ những khái niệm nêu trên, ta nhận thấy công tác đảm bảo, giữ gìn trật tự
an toàn GTĐB giữ vai trò hết sức quan trọng trong đời sống của chúng ta. Xuất phát
từ công tác đảm bảo trật tự an toàn GTĐB và thực tế công tác quản lý nhà nước,

10


tình hình thực tiễn của hoạt động này, có thể nhận thấy chúng có một số ý nghĩa hết
sức quan trọng sau:
Thứ nhất, giúp giảm thiểu thiệt hại cho xã hội, cho người dân và giữ gìn duy
trì trật tự khi tham gia vào một trong những hoạt động thiết yếu của con người là ăn
ở, mặc đi lại. Thực tế ta thấy, theo báo cáo của Cục Cảnh sát Đường bộ, đường sắt –
Bộ Công an, trong năm 2016 cả nước xảy ra 22.827 vụ tai nạn giao thông làm 8.727
người chết, 21.069 người bị thương. Mặc dù số liệu có giảm 3 tiêu chí so với năm
2014 nhưng trung bình mỗi ngày vẫn có 24 người bị chết khi tham gia giao thông.
Thiệt hại vật chất của người dân và xã hội là rất lớn, hàng nghìn tỷ đồng. Đó là những
con số vô cùng nhức nhối đòi hỏi các cấp, các ngành và cả hệ thống chính trị phải vào
cuộc để góp phần giảm thiểu thiệt hại xảy ra. Xuất phát từ đó, công tác đảm bảo trật

đảm bảo trật tự ATGT nhằm tạo hành lang, cơ chế nhằm phát triển bền vững, có
định hướng cụ thể, có sự nối tiếp trong quá trình hoàn thiện từ tổ chức bộ máy, điều
kiện đảm bảo đến công tác dự báo, đề xuất giải pháp, phương hướng trong giai đoạn
5 năm, 10 năm và lâu dài hơn nữa.
1.2. Quản lý nhà nƣớc về trật tự an toàn giao thông đƣờng bộ
1.2.1. Khái niệm
Muốn có được tình trạng trật tự an toàn GTĐB tốt, trước hết các cơ quan có
thẩm quyền việc thực hiện chức năng QLNN về trật tự an toàn GTĐB phải được tổ
chức và hoạt động thực sự phát huy được vai trò của chức năng QLNN về lĩnh vực
này. Mặc dù quản lý là một vấn đề đã được nghiên cứu từ lâu nhưng cho đến nay
vẫn còn cách hiểu khác nhau về quản lý. Theo Từ điển Tiếng Việt: “Quản lý được
hiểu dưới hai khía cạnh: một là, tổ chức và điều khiển theo những yêu cầu nhất
định; hai là, trông coi và giữ gìn” [34, tr.653]. Xuất phát từ tính kế hoạch của người
quản lý nên sự tác động được xác định mục đích rõ ràng là nhằm trật tự hóa một hệ
thống bất kỳ nào đó. Do vậy có thể nhận thấy, trước khi có tác động quản lý thì các
yếu tố, các đơn vị của một hệ thống đang ở trạng thái tự nhiên, tự phát, chưa được
sắp đặt thứ bậc. Nhưng dưới tác động của người quản lý thì các yếu tố, đơn vị được
đặt vào một vòng trật tự theo ý chí của người quản lý. Trong quản lý xã hội nói
chung và quản lý quá trình lao động sản xuất, các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác
- Lênin đã chỉ rõ, quản lý là một dạng hoạt động - một hiện tượng tất yếu trong xã
hội loài người. C.Mác đã nói về vai trò của quản lý như người chỉ huy dàn nhạc:
“Tất cả mọi lao động xã hội trực tiếp hay lao động chung nào tiến hành trên quy mô

12


tương đối lớn, thì ít nhiều cũng cần đến một sự chỉ đạo để điều hòa những hoạt
động cá nhân và thực hiện những chức năng chung phát sinh từ sự vận động của
toàn bộ cơ thể sản xuất khác với sự vận động của những khí quan độc lập của nó.
Một người độc tấu vĩ cầm tự mình điều khiển lấy mình, còn một dàn nhạc thì cần

hoạt động lập quy và hành chính. Hoạt động lập quy thể hiện ở việc cụ thể hóa luật,
pháp lệnh, nghị quyết của Quốc hội. Hành chính là hoạt động chỉ đạo, quản lý của
chủ thể quản lý đối với đối tượng quản lý. Trong hoạt động này, chủ thể quản lý áp
dụng các biện pháp tổ chức - pháp lý bằng việc ban hành các văn bản pháp quy và
văn bản cá biệt. Hoạt động lập quy và hành chính xuất phát từ đặc thù của hoạt
động quản lý hành pháp nhằm thực hiện quyền lực nhà nước trong quản lý xã hội.
Mỗi nhà nước luôn gắn với một thiết chế xã hội nhất định theo phạm vi không gian
và thời gian, do vậy đặc tính QLNN sẽ thay đổi tùy theo bản chất của chế độ chính
trị và trình độ phát triển kinh tế - xã hội ở mỗi quốc gia trong từng thời kỳ.
So với hoạt động của các chủ thể khác trong xã hội, QLNN có những điểm
khác biệt cơ bản sau đây: Chủ thể QLNN là các cơ quan nhà nước và cán bộ, công
chức có thẩm quyền trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ được giao. Những chủ thể
này tham gia vào quá trình tổ chức thực hiện quyền lực nhà nước về lập pháp và
hành pháp theo luật định. Đối tượng của QLNN bao gồm tất cả các tổ chức, cá nhân
sinh sống và hoạt động sản xuất kinh tế, văn hóa, xã hội trong phạm vi lãnh thổ
quốc gia; các nguồn tài nguyên thiên nhiên và xã hội được khai thác sử dụng vào
quá trình cung cấp các sản phẩm theo nhu cầu xã hội. QLNN có tính toàn diện, bao
gồm các lĩnh vực chủ yếu của đời sống xã hội như chính trị, kinh tế, văn hóa, xã
hội, an ninh, quốc phòng và ngoại giao, v.v… QLNN mang tính quyền lực nhà
nước, sử dụng công cụ pháp luật, chính sách, kế hoạch để quản lý xã hội. Mục tiêu
QLNN là bảo đảm, bảo vệ sự ổn định và phát triển xã hội bền vững, thực hiện công
bằng xã hội, mọi người có cuộc sống ấm no, tự do hạnh phúc, có điều kiện phát
triển toàn diện. Từ những trình bày trên, có thể nêu khái niệm: quản lý nhà nước là
một dạng quản lý xã hội đặc biệt và chủ yếu nhất, là hoạt động mang tính quyền lực
nhà nước, được Nhà nước sử dụng để điều chỉnh các quan hệ xã hội, các hành vi
của cá nhân, tổ chức, có sức mạnh và hiệu lực do các cơ quan nhà nước, công chức
trong bộ máy nhà nước thực hiện, nhằm phục vụ công, duy trì sự ổn định và phát
triển bền vững xã hội.
Hoạt động QLNN nói chung và QLNN trong một lĩnh vực cụ thể nào đó có
thể bằng nhiều phương pháp, cách thức khác nhau. Phổ biến là quản lý bằng phương

an toàn GTĐB cũng hết sức đa dạng và phong phú, song như trên đã phân tích, về
thực chất, đối tượng của quản lý ở đây cũng chính là con người trong việc thực hiện
các nguyên tắc nhằm bảo đảm trật tự an toàn GTĐB, các hành vi nghiêm cấm, cụ

15


thể: Về phương tiện tham gia GTĐB: điều kiện tham gia giao thông của xe cơ giới;
cấp, thu hồi đăng ký và biển số xe cơ giới; bảo đảm tiêu chuẩn chất lượng an toàn
kỹ thuật và bảo vệ môi trường của xe cơ giới tham gia GTĐB; điều kiện tham gia
giao thông của xe thô sơ; điều kiện tham gia giao thông của xe máy chuyên dùng.
Về người điều khiển phương tiện tham gia GTĐB: điều kiện của người lái xe cơ
giới tham gia giao thông; GPLX; tuổi và sức khỏe của người lái xe; đào tạo lái xe,
sát hạch để cấp GPLX; điều kiện của người điều khiển xe máy chuyên dùng tham
gia giao thông; điều kiện của người điều khiển xe thô sơ tham gia giao thông. Về
quy tắc GTĐB: gồm các quy tắc chung, hệ thống báo hiệu đường bộ, chấp hành báo
hiệu đường bộ, tốc độ và khoảng cách giữa các xe, sử dụng làn đường, quy định
vượt xe; chuyển hướng xe; lùi xe; tránh vượt xe; dừng xe; đỗ xe trên đường trong và
ngoài đô thị; quyền ưu tiên của một số xe; qua phà; qua cầu phao; nhường đường tại
những nơi giao nhau; đi trên đoạn đường giao với đường sắt; giao thông trên đường
cao tốc; giao thông trong hầm đường bộ; bảo đảm tải trọng và khổ giới hạn của
đường bộ; xe kéo và xe kéo rơ moóc; người điều khiển người ngồi trên xe mô tô, xe
gắn máy; người điều khiển và người ngồi trên xe đạp, người điều khiển xe thô sơ
khác, người đi bộ; người tàn tật, người già yếu tham gia giao thông; người điều
khiển, dẫn dắt súc vật đi trên đường bộ; các hoạt động khác trên đường bộ; sử dụng
đường phố đô thị; tổ chức giao thông và điều khiển giao thông; trách nhiệm của cá
nhân, cơ quan, tổ chức khi xảy ra TNGT. Khách thể của QLNN về trật tự an toàn
GTĐB ở đây chính là “cái” mà chủ thể quản lý dự định trước và hướng toàn bộ quá
trình quản lý vào đó. Có thể thấy, khách thể của QLNN về trật tự an toàn GTĐB
chính là trật tự quản lý được thiết lập trên lĩnh vực đó, nhằm mục đích đảm bảo


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status