MỞ ĐẦU
Palađi là kim loại thuộc họ platin – một trong số những kim loại quý, có
nhiều ứng dụng trong thực tế, như làm xúc tác trong các phản ứng hữu cơ, sử
dụng trong nha khoa, chế tạo đồng hồ, các que thử đường trong máu, trong bu
gi máy bay và để sản xuất các dụng cụ phẫu thuật, các tiếp điểm điện...[5].
Năm 1969, nhà hóa học Mỹ B. Rosenberg đã phát hiện ra Cis-platin
(muối Payron) có hoạt tính sinh học kìm hãm sự phát triển của khối u và
sau đó người ta đã sử dụng nó làm thuốc chữa trị bệnh ung thư, nhưng do
một loạt các tác dụng phụ đã giới hạn lâm sàng của nó. Trong những năm
gần đây, rất nhiều cuộc điều tra đã được diễn ra để tìm kiếm các hợp chất
của kim loại chuyển tiếp có tính kháng u và tính năng phòng bệnh tốt hơn
cis-điclorođiamminplatin(II) (cis-platin). Vì lý do này nghiên cứu đã được
mở rộng sang phức palađi. Trên cơ sở có sự tương tự về cấu trúc giữa phức
Pd(II) và phức Pt(II).
Một loạt các nghiên cứu về phức palađi(II) đã được thực hiện. Các
nghiên cứu tập trung chủ yếu vào việc tổng hợp các phức chất mới của Pd,
nghiên cứu cấu tạo của các phức chất bằng các phương pháp khác nhau và
khảo sát hoạt tính sinh học của chúng. Ngoài hoạt tính sinh học, người ta còn
nghiên cứu một số ứng dụng khác của phức Pd như hoạt tính xúc tác...
Mục tiêu của việc khảo sát hoạt tính sinh học là tìm kiếm được các hợp
chất có hoạt tính cao đồng thời đáp ứng tốt nhất các yêu cầu sinh – y học khác
như không độc, không gây hiệu ứng phụ, không gây hại cho tế bào lành để
dùng làm thuốc chữa bệnh cho người và vật nuôi v.v...
Xuất phát từ những lí do trên, chúng tôi chọn đề tài: “Tổng hợp, xác
định cấu tạo và nghiên cứu tính chấ
phối tử chứ ni ơ” .
1
ột số phức chất palađi(II) với
104
Pd :27,30%
108
Pd :10,97%
Pd :26,93%
105
110
Pd :22,21%
Pd :11,83%
1.1.2. Khả năng tạo phức.
Ion Pd2+ có cấu hình electron 1s 22s22p63s23p63d104s24p64d8, bền trong
môi trường nước, dung dịch loãng có màu vàng, dung dịch đặc hơn có màu
vàng sẫm, đến nâu. Cũng như các ion kim loại nhóm d khác, nó có khả
năng tạo phức với hầu hết các phối tử như Cl-, I-, CN-, SCN-... Các phức
chất này phổ biến có số phối trí bằng 4 với cấu hình vuông phẳng như
[PdCl4]2-, [PdI4]2-...
Cấu hình vuông phẳng còn phổ biến trong các hợp chất của Pd dưới
dạng rắn như PdCl2. Song trong một số phức chất ion Pd2+ cũng thể hiện số
phối trí 5, 6 có nghĩa là có sự tương tác yếu giữa ion trung tâm với các phối tử
phía trên và phía dưới mặt phẳng vuông phẳng. Ví dụ như ion phức
[Pd(ĐMG)2OH]- (ĐMG: đimetylglioxim) có số phối trí 5 với cấu trúc tháp
đáy vuông hình thành khi palađi đimetylglioximat tan trong môi trường kiềm.
Tháng 7 năm 2004, Justyn Ochocki và các cộng sự đã tổng hợp phức
chất của đietylpiriđinylmetylphotphat với Pd(II) [29].
Với phối tử là đietyl(piriđin-2-, -3-,-4-ylmetyl)photphat (2-pmOpe, 3pmOpe, 4-pmOpe) phản ứng với K2[PdCl4] tạo thành trans-[PdCl2L2] (L = 2pmOpe, 3-pmOpe,4-pmOpe).
Hình 1.2: Công thức cấu tạo các phối tử 2-pmOpe, 3-pmOpe, 4-pmOpe.
Đietylpiriđinylmetylphotphat đã được tổng hợp thông qua phản ứng của
đietylclophotphat và một piriđinylmetanol thích hợp với xúc tác trietylamin.
Hình 1.3: Sơ đồ tổng hợp các phối tử 2-pmOpe, 3-pmOpe,4-pmOpe.
Phức chất được tổng hợp theo hai phương pháp như sau:
Phương pháp A: Hòa tan bão hòa 0,25 mmol K2[PdCl4] (81,5 mg) trong
nước (≈ 3 ml), ta được dung dịch 1. Dung dịch 2 thu được bằng cách hòa tan
0,5 mmol (123mg) phối tử (2-, 3-, 4- pmOpe) vào nước (≈ 1ml). Nhỏ từ từ
từng giọt dung dịch 1 vào dung dịch 2 và khuấy đều. Từ dung dịch xuất hiện
kết tủa màu vàng. Tiếp tục đun và khuấy hỗn hợp trong 30 phút. Lọc sản
phẩm. Rửa sản phẩm bằng nước lạnh, đietyl ete và làm khô.
Phương pháp B: Hòa tan bão hòa 0,25 mmol [Pd(C6H5CN)2Cl2] (95,75
mg) trong điclometan (≈ 10 ml), ta được dung dịch 1. Dung dịch 2 thu được
bằng cách hòa tan 0,5 mmol (123mg) phối tử (2-, 3-, 4- pmOpe) vào
điclometan (≈ 5 ml). Nhỏ từ từ từng giọt dung dịch 1 vào dung dịch 2 và
5
khuấy đều. Đun hỗn hợp với ống sinh hàn hồi lưu và khuấy trong 3 giờ. Thêm
vào từng giọt đietyl ete, từ dung dịch tách ra các tinh thể màu da cam. Lọc sản
phẩm. Rửa sản phẩm bằng nước lạnh, đietyl ete và làm khô. Kết tinh lại sản
phẩm trong etanol.
Hình 1.4: Sơ đồ tổng hợp phức chất trans-Pd(II) với 2-pmOpe, 3pmOpe,4-pmOpe.
phức chất của NHC đã được áp dụng làm chất xúc tác trong một loạt các phản
ứng. Đáng chú ý hơn, một số Phức Pd(II)-NHC đã nổi lên như là chất xúc tác
hiệu quả cho nhiều phản ứng ghép mạch.
Tháng 7 năm 2005, Min Shi và các cộng sự đã tổng hợp phức chất
Pd(II)-NHC và nghiên cứu các ứng dụng xúc tác của chúng cho phản ứng
Suzuki và Heck [26].
Phức vòng càng cis-Pd(II)-NHC được tổng hợp theo sơ đồ (hình 1.6).
Bằng phản ứng của đibenzimiđazoliiotđua (tiền thân của NHC) với Pd(OAC)2
đun hồi lưu trong THF hoặc kali tert-butoxit trong THF cho hiệu suất khá cao
tương ứng là 77% và 70%.
Hình 1.6: Sơ đồ tổng hợp phức chất Pd(II)-NHC.
Cấu trúc tinh thể của phức chất được xác định bằng phương pháp nhiễu
xạ tia X.
7
Hình 1.7: Cấu trúc tinh thể phức Pd(II)-NHC.
Năm 2008, Andrade-López đã nghiên cứu và tổng hợp thành công phức
chất palađi (II) với phối tử đi-2-piriđyl-2-piriđylsunfanylmetan [25]. Cấu trúc
tinh thể của phức chất [Pd{(C5H4N)2CH(2-C5H4NS)}Cl2] trong DMSO biểu
thị sự hình thành của một phức chất đơn nhân. Phối tử đi-2-piriđyl-2piriđylsunfanylmetan (2) đã được tổng hợp từ phản ứng của đi-2-piriđyl
clorometan và 2-mecaptolpiriđin với tỷ lệ tương đương về số mol.
Hình 1.8: Sơ đồ tổng hợp phối tử.
8
Tổng hợp phức chất của palađi (II) với đi-2-piriđyl-2-piriđylsunfanylmetan
Tỉ lệ của SPd0(TFP)2 cao hơn so với [Pd(PPh3)(OAc)]-.
SPd0(TFP)2 phản ứng với PhI tốt hơn [Pd(PPh3)(OAc)]-.
Sự oxi hóa tạo thành trans-PhPdI(TFP)2 chứ không phải là
trans-PhPd(OAc)(TFP)2.
Christian Amatore đã nghiên cứu và khẳng định các nhận xét trên là
đúng. So với phương pháp tổng hợp của Farina, phương pháp này hiệu
quả hơn.
10
Hóa học về phức đa nhân của palađi(II) cũng đang được quan tâm.
Trước đây người ta tổng hợp phức [Pd2Cl2(µ-Cl)2(CO)2] bằng cách oxi hóa
PdCl2 trong metanol-nước với CO ở 20oC. Với phức chất của Brom được tổng
hợp bằng cách dẫn khí CO vào PdBr2 rắn ở 180oC. Còn với iot thì không thể
tổng hợp theo phương pháp này. Sự ổn định của các phức chất halogencacbonyl giảm trong trình tự Cl> Br> I. Sau đó, Dellamico và Labella đã tổng
hợp phức chất [Pd2Cl2(µ-Cl)2(CO)2] với hiệu suất cao hơn bằng cách đi từ Pd
lấy từ Pd(dba)2 và CO trong toluen hoặc trong sunfuclorua (SO2Cl2) [30]. Các
báo cáo trước đó cho rằng CO là cầu nối trong phức chất Pd (1). Tuy nhiên,
Dellamico và các cộng sự của ông đã khẳng định cầu nối trong phức chất là
halogen (2).
Hình 1.12: Cấu tạo phân tử phức [Pd2Cl2(µ-Cl)2(CO)2] trước đây (1) và theo
Dellamico (2).
Phức cacbonyl của Pd bị phân hủy trong nước tạo thành Pd và CO2.
Phức [Pd2Cl2(µ-Cl)2(CO)2] trong metanol có màu tím đỏ của phức Pd(I)
[PdCl(CO)]n. Hiệu suất tổng hợp phức lên đến 88% trong anhiđrit axetic.
Hình 1.13: Sơ đồ tổng hợp phức [Pd2Cl2(µ-Cl)2(CO)2].
Năm 2011, nhóm nghiên cứu của đại học Chiết Giang, Trung Quốc đã
Hình 1.14: Các phối tử ancol (imino) pyridyl.
Tổng hợp phức chất palađi.
Tổng hợp {[2-(2,6-i-Pr2C6H3N≡CMe)-6-{(HO)CMe2}C5H3N]PdCl}2[PdCl4]
(1d). Thêm từ từ PdCl2 (0.0364 g, 0.20 mmol) vào dung dịch L1 (0.0684 g,
0.20 mmol) trong etanol khan (20 ml), phản ứng được khuấy ở nhiệt độ phòng
qua đêm, tuy nhiên PdCl2 không phản ứng. Khi tăng nhiệt độ phản ứng lên
60oC và khuấy trong 3h thì thu được dung dịch đồng nhất màu nâu. Thêm 2ml
12
đietyl ete vào dung dịch trên thấy sản phẩm tách ra. Lọc chất rắn màu nâu, rửa
bằng đietyl ete và sấy trong chân không (hiệu suất 55,7%).
Tổng hợp {[2-(2,6-Et2C6H3N≡CMe)-6-{(HO)CMe2}C5H3N]PdCl}2[PdCl4]
(2d). Với cách làm tương tự phức chất 1d, phức 2d được tổng hợp, là bột màu
nâu với hiệu suất 84,9%.
Hình 1.15: Tổng hợp phức palađi 1d và 2d.
Tất cả các phức chất đều có đặc điểm tốt trên phổ hồng ngoại và phân
tích nguyên tố. Trên phổ hồng ngoại, các dao động của liên kết đôi C=N của
các phức niken và palađi (1616-1620 cm-1) dường như chuyển sang số sóng
thấp và cường độ vân giảm đáng kể, so với các phối tử tương ứng (1642-1645
cm-1), cho thấy sự tương tác phối trí giữa các nguyên tử nitơ imino và các kim
loại trung tâm. Phổ 1H của phức palađi 1d và 2d thể hiện hai bộ proton với
dịch chuyển hóa học hơi khác nhau. Các cấu trúc phân tử của phức chất 1a, 1c
và 2d được khẳng định thêm bởi nhiễu xạ tia X đơn tinh thể.
Hình 1.16: Cấu trúc phân tử của phức 2d.
Hình 1.17: Cấu trúc phân tử của phức 1a.
một loạt cách tạo liên kết với kim loại thông qua (NNO) 2 -, (NO) - và (NO).
14
Cách liên kết và độ kiềm của phối tử phụ thuộc chủ yếu vào loại cation kim
loại và anion cặp của cation kim loại đó. Tất cả các phức Pd(II) thu được đều
có cấu trúc vuông phẳng (D4h-đối xứng) và phụ thuộc chủ yếu vào tỷ lệ mol
(M: L).
Hình 1.18: Đề xuất cấu trúc của các phức isatinic.
Hình 1.19: Ảnh hưởng của tỉ lệ mol trong phức Pd(II)-istainic.
Năm 2004, Frankline Kiplangat Keter, Đại học Western Cape tổng hợp
và đánh giá các tác động của phức palađi(II) và platin(II) với phối tử pyrazol
và purazolyl như chất chống ung thư.
15
Phối
tử
pyrazol
(L1-L3)
được
parafomanđehit (0.67 g, 11.35 mmol) và KOH (0.9 g, 16 mmol) vào bình cầu
có nhánh, hòa tan trong 50ml nước và khuấy trong 2 phút, sau đó thêm
isopropylamin (1.88 ml, 43.24 mmol); đun hồi lưu trong 4 ngày, sản phẩm
được tách ra như phối tử L1. Hiệu suất phản ứng 71%.
3,5-dimetyl-4-(isopropylamino)metylpyrazol
(L3):
Hòa
tan
3,5-
đimetylpyrazol (1,00 g, 10,4 mmol), parafomanđehit (0,48 g, 16 mmol), KOH
(0,9 g, 16 mmol) và isopropylamin (1,3 g, 20 mmol) trong 50 ml nước và đun
hồi lưu trong 48 giờ. Hiệu suất phản ứng (87%).
Tổng hợp phức chất palađi(II) và platin(II) được tổng hợp từ
[PdCl2(NCMe)2] hoặc [K2PtCl4] với các phối tử L1-L3.
16
Tổng hợp bis-(3,5-dimetyl-4-(etylamino)metylpyrazol)palađi(II) (C1):
L1 (0.12 g, 0.77 mmol) trong 3ml CH2Cl2 vào bình cầu có nhánh. Sau đó
thêm 0.1 g (0.385 mmol) [PdCl2(NCMe)2] trong 20ml CH2Cl2 vào bình cầu
trên. Hỗn hợp phản ứng đã được khử khí và khuấy ở nhiệt độ phòng trong 6
giờ, tạo ra sản phẩm là chất kết tủa không tan trong CH2Cl2.
Ngoài ra, tác giả còn tổng hợp phức chất palađi và platin với các phối tử
pyrazol và pyrazolyl có sẵn (phức 1-5, hình 1.21). Phức palađi, 1, 2, 5, thu
Hình 1.23: Cấu trúc tinh thể của phức 1 và 2.
18
Cấu trúc của các phức chất được đặc trưng đầy đủ bởi nhiễu xạ tia X.
Trong phức chất 1, palađi đã phối trí với hai nguyên tử N và một nguyên tử S
của L1, cùng với một anion clorua như nhóm rời, trong khi đó trong phức chất
2 palađi được phối trí bởi ba nguyên tử N từ L2 với một anion clorua nhóm
rời.
Sự tương tác giữa phức chất 1 và huyết thanh anbumin của con người
(HSA) đã được nghiên cứu sử dụng huỳnh quang và ròn lưỡng sắc quang
phổ scopies. Phức chất dường như phản ứng với HSA chủ yếu thông qua
tương tác kỵ nước và tĩnh điện và nó không làm thay đổi bản chất dạng xoắn
ốc α của HSA.
1.3. ỨNG DỤNG CỦA MỘT SỐ PHỨC CHẤT PALAĐI.
Các phức chất Pd được quan tâm nhiều không chỉ bởi ý nghĩa khoa học
mà ở các phức chất này còn tiềm ẩn nhiều khả năng ứng dụng trong thực tiễn.
Phức Pd(II)-NHC (2) được sử dụng làm chất xúc tác cho phản ứng ghép
mạch Suzuki và Heck. Các phản ứng được nghiên cứu dưới sự ảnh hưởng
của cả dung môi và chất xúc tác. Sau đây là kết quả nghiên cứu của Min Shi
và các cộng sự với một số phản ứng cụ thể [26]:
Kết quả được tổng hợp ở bảng 1.1 và 1.2 cho thấy rằng việc sử dụng
Cs2CO3 trong N,N-đimetylaxetanđehit (DMA) hoặc THF ở 80oC cho các sản
phẩm đạt hiệu suất tương ứng là 66% và 70% (Bảng 1.1, mục 6 và 8). Tăng
nhiệt độ phản ứng đến 100oC trong DMA. Với bazơ là Cs2CO3 cho hiệu suất
đạt 98% sau 24 giờ (Bảng 1.2,mục 1). Vì vậy, Cs2CO3 trong DMA là dung
môi hiệu quả cho phản ứng này. Sử dụng những điều kiện phản ứng tối ưu,
các phản ứng ghép mạch Suzuki cho hiệu suất khá cao (bảng 1.3).
19
3
DMF
24
36
4
CH2ClCH2Cl
24
22
5
DME
24
65
6
DMA
24
Dung môi
CS2CO3
Na2CO3
K2CO3
KF
K3PO4.3H2O
KOBu
Thời gian (giờ)
24
24
24
24
24
24
20
Hiệu suất (%)
98
56
67
85
77
6
Bảng 1.3: Phức chất Pd(II)-NHC 2 xúc tác phản ứng Suzuki ghép mạch
giữa axit phenylboronic (1,2 mmol) và aren halogenua (1.0 mmol) trong điều
kiện tối ưu.
p-Me
p-COMe
p-OMe
o-Cl
3,5-Me,Me
H
p-COMe
H
24
24
24
24
24
24
24
24
24
Hiệu suất
(%)
95
75
90
86
95
89
40
45
99
Hiệu suất (%)
38
40
53 (98)b
31
9
Nhỏ
48
Phản ứng ghép mạch Heck cũng đã được nghiên cứu trong DMA bởi
phản ứng của brombenzen với butylacrylat trong các bazơ khác nhau (Bảng
1.4, mục 1-7). Thực nghiệm cho thấy rằng KF là bazơ tốt nhất cho phản ứng
21
này và cho sản phẩm đạt hiệu suất 53% trong không khí (Bảng 1.4). Sử dụng
bầu khí quyển agon, hiệu suất được cải thiện lên đến 98% (Bảng 1.4).
Sử dụng các điều kiện phản ứng, tác giả [26] tiếp tục nghiên cứu phản
ứng của một loạt các aren halogenua với butyl và metylacrylat. Các kết quả
được tóm tắt trong bảng 1.5 cho thấy rằng phản ứng Heck đạt hiệu suất cao
trong bầu khí quyển agon.
Bảng 1.5: Phức chất Pd(II)-NHC 2 xúc tác phản ứng Heck ghép mạch
aren halogenua với butylacrylat trong khí agon.
STT
1
2
3
p-CHO
R’
n-Bu
n-Bu
n-Bu
n-Bu
n-Bu
n-Bu
n-Bu
n-Bu
Me
Me
Thời gian (giờ)
30
30
30
30
30
30
30
30
30
30
Hiệu suất (%)
86
84
99
(2-isopropylphenyl)đixiclohexylasen
và
(2-
metoxylphenyl)đixiclohexylasen và thử nghệm trên các dòng tế bào ung thư. Kết
quả cho thấy phức chất có khả năng chống lại các dòng tế bào ung thư gan HepG2 và tế bào ung thư biểu mô KB.
Các tác giả [19], [22] đã nghiên cứu và đưa ra kết luận cả phối tử và
phức chất Pd(II) với 2-benzoylpyriđin 4-phenyl thiosemicacbazon và
Pd(II) với pyriđin-2- cacbalđehit thiosemicacbazone đều có khả năng
chống lại các tế bào ung thư như MCF – 7, TK – 10,UACC – 60, trong
đó phức chất của Pd(II) với 2-benzoylpyriđin 4-phenyl thiosemicacbazon
có giá trị GI50 (nồng độ ức chế tế bào phát triển một nửa) thấp nhất trong
3 dòng được chọn nghiên cứu.
1.4. CÁC PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU PHỨC CHẤT.
1.4.1. Phương pháp phổ hấp thụ hồng ngoại và Raman.
Phổ Raman và phổ IR đều liên quan đến chuyển động dao động của
phân tử, tuy nhiên từ trước đến nay phổ IR vẫn được sử dụng nhiều hơn. Do
sự phát triển của kĩ thuật Laser và computer, ngày nay việc đo phổ Raman đã
trở nên đơn giản và thuận tiện. Hơn thế phổ IR thông thường không đo được
vùng tần số thấp (100 ÷ 500cm-1) mà phổ Raman đo được. Vùng tần số thấp
này chứa các thông tin về liên kết kim loại - phối tử, vì thế rất có ích khi
nghiên cứu cấu trúc các phức chất.
Do vậy cần kết hợp cả hai phương pháp phổ này để chúng hỗ trợ cho
nhau nhằm góp phần xác định cấu tạo của các phức chất.
23
1.4.4. Phương pháp phổ EDX.
Khi bắn một chùm electron vào mẫu đo, các electron này sẽ va chạm với
electron của nguyên tử cần phân tích và truyền năng lượng cho chúng. Electron
bị kích thích nhảy lên các mức năng lượng cao hơn hoặc bật ra khỏi nguyên tử.
Các electron ở các lớp bên ngoài sẽ nhảy vào chiếm chỗ của electron vừa bị bật
ra. Quá trình này phát ra tia bức xạ (tia X) đặc trưng cho nguyên tử. Mỗi nguyên
tố thường phát ra một vài tia bức xạ, có năng lượng xác định, đặc trưng riêng cho
nguyên tố, nên chúng được gọi là tia đặc trưng. Từ giá trị năng lượng của tia đặc
trưng trên phổ, so sánh với ngân hàng phổ chuẩn đã được xây dựng sẵn, người ta
xác định các nguyên tố có trong mẫu đo.
Để định lượng các nguyên tố trong mẫu đo, người ta so sánh cường độ
tương đối của tia đặc trưng của các nguyên tố cần phân tích. Tuy nhiên, máy
chỉ xác định được phổ tia X của các nguyên tố có Z 6. Các nguyên tố càng
có Z lớn thì độ chính xác của phép đo càng cao và năng lượng của tia đặc
trưng càng lớn, ít bị lẫn với tia đặc trưng của nguyên tố khác.
1.4.5. Phương pháp phổ khối lượng (ESI-MS).
Trong phương pháp ESI-MS, ion được tạo ra do các phản ứng hóa học ở
dung dịch và pha khí sau khi làm bay hơi dung môi. Vì vậy có nhiều cation và
anion được hình thành do:
- Quá trình phân li của các chất điện li trong dung dịch.
- Phản ứng cộng hợp:
M + NH 4 [M + NH4]+; M + Na+ [M + Na]+
M + K+ [M + K]+;
M + H+ [M + H]+
M + H+ + H2O = [M+H3O]+
- Phản ứng axit-bazơ: chất có tính bazơ sẽ kết hợp với proton của dung môi
hoặc của các chất khác tạo ra cation [M+H]+, chất có tính axit sẽ nhường proton