MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ..................................................................................................................... 1
CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN
DOANH NGHIỆP TƢ NHÂN
.................................................................................. 7 1.1. Lý luận chung về doanh
nghiệp tư nhân (DNTN) ................................................... 7 1.2. Nội dung về phát triển
Doanh nghiệp tư nhân ....................................................... 16 1.3. Kinh nghiệm phát
triển DNTN ở một số địa phương ............................................ 25 CHƢƠNG 2:
THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN DOANH NGHIỆP TƢ NHÂN TRÊN ĐỊA
BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI GIAI ĐOẠN 2011-2015 ................... 35 2.1. Đặc
điểm kinh tế-xã hội thành phố Hà Nội tác động tới phát triển DNTN .......... 35 2.2.
Thực trạng phát triển của các doanh nghiệp tư nhân trên địa bàn thành phố
Hà Nội giai đoạn 20112015 .......................................................................................... 40 2.3. Thực trạng công
tác hỗ trợ, phát triển doanh nghiệp trên địa bàn thành phố
Hà Nội............................................................................................................................. 54
2.4. Đánh giá
chung........................................................................................................ 56 CHƢƠNG
3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP THÚC ĐẨY PHÁT TRIỂN DOANH NGHIỆP
TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI GIAI ĐOẠN 2016-2020.... 65 3.1. Quan
điểm, định hướng, mục tiêu phát triển DNTN trên địa bàn thành phố
Hà Nội đến năm
2020..................................................................................................... 65 3.2. Một số giải
pháp thúc đẩy phát triển DNTN trên địa bàn thành phố Hà Nội
đến năm 2020.................................................................................................................. 63
3.3.
Kiến
nghị
................................................................................................................. 78 KẾT LUẬN
Tổng sản phẩm trong nước
GDP
Tổng sản phẩm quốc dân
GRPD
Tổng sản phẩm quốc nội của tỉnh
GTGT
Giá trị gia tăng
HĐND
Hội đồng nhân dân
HTX
Hợp tác xã
SXKD
Sản xuất kinh doanh
TLSX
Tư liệu sản xuất
Bảng 2.3: Cơ cấu các loại hình doanh nghiệp phân chia theo quy mô
46
vốn
Bảng 2.4: Giá trị tài sản cố định của doanh nghiệp theo loại hình
48
Bảng 2.5: Phân bổ lao động theo loại hình doanh nghiệp của Hà Nội
48
(2010 - 2014)
Bảng 2.6: Cơ cấu doanh nghiệp tư nhân theo quy mô lao động
49
Bảng 2.7. Thu nhập của người lao động trong doanh nghiệp theo loại
50
hình
Bảng 2.8. Doanh thu thuần sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp theo
51
loại hình
Bảng 2.9: Hiệu quả sử dụng lao động tại các DNTN năm 2010-2014
Hình 2.4: Số lượng doanh nghiệp thành lập mới phân theo loại hình từ
2008- 2015
40
Hình 2.5: Giá trị tài sản cố định của doanh nghiệp tư nhân theo loại hình
47
37
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Sau hơn 30 năm thực hiện đường lối đổi mới do Đảng Cộng sản Việt Nam
khởi xướng và lãnh đạo, kinh tế tư nhân, trong đó bộ phận quan trọng là doanh
nghiệp tư nhân đã phát triển nhanh chóng và rộng khắp trong cả nước. Nhất là từ
khi thực hiện Luật doanh nghiệp (năm 1999) đến nay, số lượng doanh nghiệp tư
nhân đã tăng rất nhanh. Trong quá trình phát triển kinh tế – xã hội 5 năm (20112015) và hội nhập kinh tế, các DN Việt Nam, trong đó, số lượng lớn là DN tư nhân
và kinh tế tư nhân đã có những đóng góp lớp vào thành tựu phát triển kinh tế đất
nước. Khu vực DN tư nhân giữ vai trò quan trọng trong việc phát triển sức sản xuất,
phát huy nội lực trong phát triển kinh tế – xã hội, góp phần tăng kim ngạch xuất
khẩu, phát huy nội lực trong phát triển kinh tế – xã hội, tăng thu ngân sách, đồng
thời tham gia giải quyết có hiệu quả các vấn đề xã hội như tạo việc làm, xóa đói,
giảm nghèo. DN tư nhân thu hút khoảng 51% lực lượng lao động cả nước và tạo
khoảng 1,2 triệu việc làm mỗi năm…”.
Tuy vậy, doanh nghiệp tư nhân hiện nay còn gặp nhiều hạn chế, yếu kém.
Phần lớn doanh nghiệp tư nhân có quy mô nhỏ, vốn ít, công nghệ sản xuất lạc hậu,
trình độ tay nghề của lao động thấp, sức cạnh tranh của doanh nghiệp tư nhân yếu.
Nhiều doanh nghiệp tư nhân gặp khó khăn về cơ chế chính sách, trong việc vay
- Ngoài ra, có một số luận văn, luận án nghiên cứu về DN tư nhân ở các địa
phương...
Các tham luận được đề cập đến doanh nghiệp tư nhân trong các hội thảo:
- Hội thảo “Thủ đô Hà Nội trong thời kỳ suy thoái kinh tế thế giới”, Viện Nghiên
cứu phát triển kinh tế- xã hội Hà Nội tổ chức năm 2013;
3
- Hội thảo “Động lực phát triển kinh tế tư nhân” nằm trong chuỗi chương trình
Lễ trao giải thưởng Sao Vàng đất Việt 2015 do Trung ương Hội Doanh nhân trẻ
Việt Nam phối hợp với Thời báo Kinh tế Việt Nam tổ chức;
- Khuôn khổ đối thoại Đức - Việt lần thứ 5 về chủ đề doanh nghiệp tư nhân năm
2016…
Các bài nghiên cứu trên các tạp chí khoa học:
- "Con đường nào cho kinh tế tư nhân Việt Nam hội nhập kinh tế quốc tế?'' của
TS. Vũ Thị Bạch Tuyết (Tạp chí Tài chính, số tháng 4/2003);
- "Doanh nghiệp tư nhân và khả năng giải quyết việc làm qua một cuộc điều tra''
của Đào Quang Vinh (Tạp chí Lao động và xã hội, số 190, năm 2002);
- "Doanh nghiệp ngoài quốc doanh ở Quảng Bình: Thực trạng và một số đề xuất
về công tác quản lý" của Đoàn Xuân Triếm (Tạp chí Tài chính, tháng 6/2002);
- "Giải pháp nào để huy động có hiệu quả vốn của các doanh nghiệp tư nhân và
dân cư" của thạc sĩ Trần Đức Lộc (Tạp chí Tài chính, tháng 2/2004);
- "Giải thể, phá sản và tạm ngừng hoạt động của doanh nghiệp tư nhân'' của
Nguyễn Trí Tuệ (Tạp chí Nhà nước và pháp luật, số 10/2002);
- "Khu vực kinh tế tư nhân Trung Quốc: Chính sách, quá trình phát triển và
những trở ngại trước mắt'' của Hạ Tiểu Lâm (Tạp chí Những vấn đề kinh tế thế
giới, số 2, năm 2002);
- "Một số vấn đề về xây dựng tổ chức đảng, đoàn thể trong doanh nghiệp tư nhân
ở Thành phố Hồ Chí Minh" của Phạm Bá Nhiễu (Tạp chí Khoa học chính trị, số
-
Đề xuất một số quan điểm và giải pháp để nâng cao hiệu quả phát triển của
doanh nghiệp tư nhân trên địa bàn Hà Nội giai đoạn tới.
4.
-
Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng: Sự phát triển doanh nghiệp tư nhân (doanh nghiệp trong nước sở
hữu vốn tư nhân gồm: Sự phát triển của Doanh nghiệp tư nhân, công ty hợp danh,
công ty TNHH, Công ty cổ phần không có vốn nhà nước) trên địa bàn Hà Nội.
-
Phạm vi thời gian: Luận văn tập trung nghiên cứu doanh nghiệp tư nhân trên địa
bàn Hà Nội giai đoạn 2011-2015.
-
Phạm vi không gian: Luận văn nghiên cứu doanh nghiệp tư nhân trên địa bàn Hà
Nội.
5. Phƣơng pháp luận và phƣơng pháp nghiên cứu
Để đạt được các mục đích nghiên cứu với đối tượng và phạm vi như trên, tác
giả sử dụng các phương pháp:
5
kết cấu với 3 chương.
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về phát triển doanh nghiệp tư nhân.
Chương 2: Thực trạng phát triển của các doanh nghiệp tư nhân trên địa bàn
thành phố Hà Nội giai đoạn 2011-2015.
Chương 3: Một số giải pháp thúc đẩy phát doanh nghiệp tư nhân trên địa bàn
thành phố Hà Nội giai đoạn 2016-2020.
6
CHƢƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN
DOANH NGHIỆP TƢ NHÂN
1.1. Lý luận chung về doanh nghiệp tƣ nhân (DNTN)
1.1.1. Khái niệm về doanh nghiệp
Hiện nay trên phương diện lý thuyết có khá nhiều định nghĩa thế nào là một
doanh nghiệp, mỗi định nghĩa đều mang trong nó một nội dung nhất định với
một giá trị nhất định, ở các cách tiếp cận khác nhau sẽ có quan niệm, định nghĩa
khác nhau về doanh nghiệp.
Doanh nghiệp là thuật ngữ có nguồn gốc từ lĩnh vực kinh tế học. Theo đó,
doanh nghiệp như một phương tiện để thực hiện ý tưởng kinh doanh. Muốn kinh
doanh, thương nhân phải chọn cho mình một trong số những loại hình doanh
nghiệp mà pháp luật quy định.
Về góc độ pháp lý: Luật Doanh nghiệp 2014 quy định “Doanh nghiệp là
tổ chức có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch, được đăng ký thành lập theo
quy định của pháp luật nhằm mục đích kinh doanh.”
Theo quan điểm của nhà tổ chức: doanh nghiệp là một tổng thể các phương
tiện, máy móc thiết bị và con người được tổ chức lại nhằm đạt một mục đích [18,
tr12].
tế, giải quyết việc làm, xóa đói, giảm nghèo và nâng cao đời sống nhân dân. Tuy
nhiên, việc nhìn nhận DNTN cũng còn có những quan niệm khác nhau.
Có quan điểm cho rằng, các DNTN trong nước trong đó có cả các HTX nông
nghiệp và các doanh nghiệp phi nông nghiệp. Quan điểm này hiểu DNTN theo
nghĩa rộng, bao quát cả khu vực HTX nông nghiệp và phi nông nghiệp. Điều
này phản ánh tiềm năng to lớn của khu vực kinh tế tư nhân. Tuy nhiên, cơ cấu tổ
chức và nguyên tắc hoạt động của DNTN khác hẳn với HTX. Trên thực tế mức
đóng góp của kinh tế HTX hiện nay còn thấp hơn nhiều so với các DNTN. Do đó
việc đánh giá vai trò của DNTN còn khó khăn.
Quan điểm khác cho rằng, DNTN là những doanh nghiệp thuộc khu
vực ngoài quốc doanh. Quan điểm này xem xét DNTN bao gồm những doanh
nghiệp không thuộc sở hữu vốn nhà nước. Đó là những doanh nghiệp thuộc khu
vực kinh tế tư nhân và khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài. Quan điểm
này hiểu DNTN bao gồm các loại hình doanh nghiệp ngoài doanh nghiệp thuộc
khu vực nhà nước.
Theo quan điểm của Luật Doanh nghiệp thì doanh nghiệp tư nhân được quy
định ở Chương VII Luật Doanh nghiệp số 68/2014/QH13 như sau:
a. Doanh nghiệp tư nhân là doanh nghiệp do một cá nhân làm chủ và tự chịu trách
nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động của doanh nghiệp
b. Doanh nghiệp tư nhân không được phát hành bất kỳ loại chứng khoán nào
c. Mỗi cá nhân chỉ được quyền thành lập một doanh nghiệp tư nhân. Chủ
doanh nghiệp tư nhân không được đồng thời là chủ hộ kinh doanh, thành viên công
ty hợp danh
8
d. Doanh nghiệp tư nhân không được quyền góp vốn thành lập hoặc mua cổ
phần, phần vốn góp trong công ty hợp danh, công ty trách nhiệm hữu hạn hoặc
công ty cổ phần.
công ty hợp danh, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần không có vốn nhà
nước
9
1.1.3. Các loại hình doanh nghiệp tư nhân
Các doanh nghiệp tư nhân trong phạm vi nghiên cứu của đề tài gồm: Doanh
nghiệp tư nhân, công ty TNHH, công ty cổ phần, cụ thể:
a. Doanh nghiệp tư nhân: là doanh nghiệp do một cá nhân làm chủ và tự chịu
trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động của doanh
nghiệp. Chủ sở hữu duy nhất của doanh nghiệp tư nhân là một cá nhân.
Chủ doanh nghiệp tư nhân là đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp.
Chủ doanh nghiệp tư nhân có toàn quyền quyết định việc sử dụng thu nhập thuần
(sau khi nộp thuế thu nhập doanh nghiệp).
Chủ Công ty tư nhân có thể trực tiếp hoặc thuê người khác quản lý, điều
hành hoạt động kinh doanh. Trường hợp thuê người khác làm giám đốc quản lý
doanh nghiêp, chủ doanh nghiệp tư nhân vẫn phải chịu trách nhiệm về mọi
hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp (Luật doanh nghiệp, 2014). Do là chủ
sở hữu duy nhất của doanh nghiệp nên doanh nghiệp tư nhân hoàn toàn chủ
động trong việc quyết định các vấn đề liên quan đến hoạt động kinh doanh của
Doanh nghiệp. Chế độ trách nhiệm vô hạn của chủ doanh nghiệp tư nhân tạo
sự tin tưởng cho đối tác, khách hàng và giúp cho doanh nghiệp ít chịu sự ràng
buộc chặt chẽ bỡi pháp luật như loại hình doanh nghiệp khác.
b. Công ty trách nhiệm hữu hạn (Công ty TNHH): là doanh nghiệp
trong đó các khoản nợ và các nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong
phạm vi số vốn đã cam kết góp vào doanh nghiệp. Thành viên của công
ty TNHH có thể là tổ chức, cá nhân; số lượng thành viên tối thiểu là một (hai)
và tối đa không vượt quá năm mươi. Công ty TNHH có tư cách pháp nhân kể từ
ngày được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh. Tuy nhiên, công ty
Doanh nghiệp số 68/2014/QH13.
1.1.4. Đặc điểm của doanh nghiệp tư nhân
Với quan điểm tạo mọi điều kiện thuận lợi cho các thành phần kinh tế phát
triển nhằm giải phóng sức sản xuất, khai thác các tiềm năng, thế mạnh, do đó việc
thành lập DNTN ở nước ta hiện nay khá dễ dàng. Từ ý tưởng thành lập doanh
nghiệp đến khi DNTN ra đời chỉ trong thời gian ngắn. Điều này có thể tiết kiệm
được những khoản chi phí không cần thiết cho doanh nghiệp và sự ra đời của
DNTN xuất phát từ thực tế cuộc sống theo nguyên tắc "ở đâu có cầu thì ở đó có
cung". Vì vậy, nếu có một cơ chế chính sách phù hợp, đầy đủ, mềm dẻo từ phía cơ
quan quản lý nhà nước sẽ tạo điều kiện để DNTN phát triển nhanh chóng. Đồng
thời, sự hình thành DNTN một cách dễ dàng, nhanh chóng cũng cho thấy các cơ
quan quản lý nhà nước không thể dùng mệnh lệnh hành chính để ngăn ngừa, cấm
đoán hoặc dùng các biện pháp khác để hạn chế sự phát triển của DNTN. Tuy nhiên,
nếu không quản lý tốt sẽ dẫn tới sự hình thành bừa bãi của các DNTN gây lãng phí
cho nhà nước, xã hội và các mặt trái của nó như buôn bán hóa đơn, làm hàng giả,
lừa đảo người lao động. Hiện nay ở nước ta các DNTN được thành lập phần nhiều
là các doanh nghiệp thương mại và dịch vụ, các doanh nghiệp sản xuất ít, điều đó
11
phản ánh năng lực sản xuất còn hạn chế của khu vực này.
DNTN ra đời, phát triển hoàn toàn phù hợp với quy luật khách quan trong thời
kỳ quá độ lên CHXH. Trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, DNTN ra
đời vận động và phát triển chịu sự chi phối của các quy luật của nền kinh tế thị
trường. Sự quản lý, điều tiết của cơ quan quản lý nhà nước cũng phải dựa trên sự
vận động khách quan của kinh tế thị trường. Nghĩa là nhà nước không can thiệp
trực tiếp vào các hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Doanh nghiệp tư
nhân là doanh nghiệp do một cá nhân làm chủ, do đó so với doanh nghiệp quốc
doanh, DNTN dễ dàng thích ứng với những biến động của thị trường. Chủ DNTN
1.1.5. Vai trò của doanh nghiệp tư nhân
Việc phát triển DNTN ở nước ta là vấn đề chiến lược trong phát triển nền
kinh tế nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Bộ phận kinh tế này
được Đảng, Nhà nước coi trọng và chỉ đạo để phát triển đúng hướng, góp
phần vào việc phát triển kinh tế, xã hội trong thời kỳ đổi mới, thực hiện công
nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Có một thời kỳ dài người ta đánh giá không
đúng vai trò của khu vực DNTN. Do e ngại DNTN dựa trên chế độ sở hữu tư
nhân về tư liệu sản xuất hàng ngày hàng giờ đẻ ra chủ nghĩa tư bản, nên đã tìm
mọi cách để triệt tiêu khu vực này và chỉ tạo điều kiện để kinh tế quốc doanh,
kinh tế tập thể phát triển. Hậu quả là nền kinh tế trì trệ, chậm phát triển, đời
sống nhân dân vô cùng khó khăn. Hiện nay ở hầu hết các nước, DNTN đóng
góp vai trò rất quan trọng chi phối rất lớn đến công cuộc phát triển kinh tế xã hội. Vai trò của khu vực KTTN được thể hiện ở những điểm sau:
Một là, khu vực DNTN góp phần khơi dậy một bộ phận quan trọng tiềm năng
của đất nước, tăng nguồn nội lực, tham gia phát triển nền kinh tế quốc dân.
Vai trò này của khu vực KTTN được thể hiện thông qua một số điểm:
-
DNTN đã góp phần xây dựng quan hệ sản xuất phù hợp thúc đẩy LLSX
phát triển. DNTN phát triển làm cho các quan hệ sở hữu của nền kinh tế nước ta
trở nên đa dạng hơn. Sự biến đổi của quan hệ sản xuất đã kéo theo sự biến đổi của
quan hệ quản lý và phân phối làm cho quan hệ sản xuất trở nên linh hoạt, phù
hợp với trình độ phát triển của LLSX vốn còn thấp và phát triển không đều giữa
các vùng, các ngành trong cả nước. Nhờ vậy đã khơi dậy và phát huy tiềm năng
về vốn, đất đai, lao động, kinh nghiệm sản xuất của các tầng lớp nhân dân, các dân
tộc vào công cuộc CNH, HĐH. Thông qua việc phát triển DNTN mà quyền làm
chủ của nhân dân, trước hết là quyền làm chủ về kinh tế được phát huy, đó là cơ
sở để mở rộng quyền làm chủ của nhân dân về chính trị, văn hóa, xã hội.
- Nhìn chung tốc độ tăng trưởng GDP của DNTN đều đặn và xấp xỉ với
tốc độ tăng GDP của toàn bộ nền kinh tế, trong đó riêng kinh tế tư bản tư nhân
bao giờ cũng thuộc bộ phận có tốc độ tăng trưởng cao nhất. Sự phát triển nhanh
của DNTN đã góp phần không nhỏ vào việc thúc đẩy tăng trưởng nền kinh tế
của cả nước.
- Trên thế giới cũng như ở Việt Nam, các doanh nghiệp nhà
nước thường được ưu tiên xây dựng thành các khu cụm công nghiệp, dịch vụ
tổng hợp và các vùng đô thị, nơi có cơ sở hạ tầng phát triển. Điều đó sẽ
dẫn đến tình trạng mất cân đối nghiêm trọng về trình độ phát triển kinh tế, văn
hóa, xã hội giữa thành thị và nông thôn, giữa các vùng của một quốc gia. Chính
sự phát triển của DNTN góp phần quan trọng trong việc tạo lập sự cân đối trong
phát triển giữa các vùng. Nó sẽ giúp cho vùng sâu, vùng xa, các vùng nông thôn
có thể khai thác được tiềm năng, thế mạnh của mình để phát triển nhanh các
ngành sản xuất và dịch vụ tạo ra sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế và rút ngắn
khoảng cách chênh lệch về trình độ kinh tế, văn hóa giữa các vùng, miền.
Ba là, DNTN phát triển góp phần thu hút một bộ phận lớn lực lượng lao
động và đào tạo nguồn nhân lực mới cho thị trường lao động.
Hiện nay ở nước ta, DNTN chỉ giải quyết việc làm được cho khoảng trên 3
triệu lao động, trong khi đó chỉ tính riêng các loại hình doanh nghiệp tư nhân và
hộ kinh doanh cá thể phi nông nghiệp đã tạo việc làm cho khoảng 6 triệu lao
động. DNTN có ưu thế hơn hẳn về khả năng tạo việc làm.
14
Nhìn chung lợi thế nổi bật của DNTN là có thể thu hút một lực lượng
lao động đông đảo, đa dạng, phong phú cả về mặt số lượng cũng như chất
lượng từ lao động thủ công đến lao động chất lượng cao ở tất cả mọi vùng,
nước can thiệp một mặt là để ngăn chặn, hạn chế các tác hại do các hoạt động
của doanh nghiệp
15
gây ra, mặt khác can thiệp để giúp đỡ các doanh nghiệp, doanh nhân thành đạt
trong doanh nghiệp của họ, nhờ đó mà quốc gia cũng hùng mạnh theo tinh thần
“dân giàu, nước mạnh”.
- Vai trò quan trọng của Nhà nước đối với doanh nghiệp trong bối cảnh hội
nhập WTO. Trong bối cảnh cạnh tranh toàn cầu gay gắt như hiện nay, thì vai trò
của Nhà nước đối với doanh nghiệp nói chung và đối với các doanh nghiệp có ý
nghĩa quan trọng hơn bao giờ hết, do đó Nhà nước cần có chính sách hỗ trợ, tạo
mọi điều kiện thuận lợi để các doanh nghiệp phát triển, từ việc tạo môi trường
kinh doanh thuận lợi bao gồm xây dựng và ban hành các luật về doanh nghiệp, tạo
thuận lợi trong cấp giấy phép, tiếp cận mặt bằng sản xuất, kinh doanh đến cung
cấp thông tin, hỗ trợ công nghệ, hỗ trợ về tín dụng và đào tạo nguồn nhân lực quản
lý cho doanh nghiệp.
Hơn nữa, doanh nghiệp là chủ thể, là nhân vật trung tâm trong cuộc gia
nhập WTO, bởi lẽ doanh nghiệp là nơi sản xuất ra sản phẩm, cung ứng cho thị
trường các hàng hoá, dịch vụ đáp ứng được nhu cầu ngày càng khắt khe của cuộc
cạnh tranh toàn cầu. Hội nhập kinh tế quốc tế thắng hay thua chủ yếu dựa vào
doanh nghiệp. Vì vậy, Nhà nước phải tập trung nỗ lực tạo đà, tạo thế cho doanh
nghiệp, tạo môi trường pháp lý, quyết định thể chế, chính sách khuyến khích, trợ
giúp; tổ chức bộ máy và xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức hết lòng phục vụ
doanh nghiệp, chăm lo cho doanh nghiệp bảo đảm mọi thể chế, chính sách đều
hướng về doanh nghiệp mà phục vụ, nâng cao hiệu quả và sức cạnh tranh của
doanh nghiệp, không để doanh nghiệp đơn thương độc mã trong cuộc chiến cam
go này.