MỤC LỤC
Trang
3
MỞ ĐẦU
Chương 1
1.1.
1.2.
Chương 2
2.1.
2.2.
2.3.
Chương 3
3.1.
3.2.
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU
KINH TẾ NGÀNH Ở HUYỆN KIẾN THUỴ,
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
Những vấn đề chung về chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành
Quan niệm, nội dung, sự cần thiết và các nhân tố ảnh
hưởng đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành ở huyện
Kiến Thụy, thành phố Hải Phòng
39
39
42
62
72
72
78
97
98
102
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành luôn là một tất yếu khách quan trong
điều kiện một nước nông nghiệp lạc hậu tiến hành công nghiệp hoá – hiện đại
hoá như nước ta. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành tạo nên sự chuyển đổi căn
bản nền kinh tế trên nhiều lĩnh vực. Vì vậy, chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành
là vấn đề có ý nghĩa chiến lược quan trọng, là chủ trương lớn của Đảng và
nhà nước ta trong thời kỳ đổi mới. Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ
XI chỉ rõ: “Đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế, chuyển đổi mô hình tăng
trưởng, coi chất lượng, năng suất, hiệu quả, sức cạnh tranh là ưu tiên hàng
đầu, chú trọng phát triển theo chiều sâu, phát triển kinh tế tri thức...Xây dựng
cơ cấu kinh tế công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ hiện đại, hiệu quả”.
Xung quanh chủ đề chuyển dịch cơ cấu kinh tế nói chung và chuyển
dịch cơ cấu kinh tế ngành nói riêng, đã có nhiều công trình khảo cứu ở nhiều
góc độ khác nhau dưới các hình thức như: Đề tài khoa học các cấp, sách tham
khảo và chuyên khảo, các đề tài luận văn, luận án, các bài báo được đăng tải
trên các báo và tạp chí.v.v...
* Các sách tham khảo và chuyên khảo
Đến nay, đã có nhiều cuốn sách viết về chuyển dịch cơ cấu kinh tế
ngành đã được xuất bản. Tiêu biểu có các cuốn sau:
“Chuyển dịch cơ cấu kinh tế Việt Nam những năm đầu thế kỷ XXI” do
TS Nguyễn Trần Quế Lâm làm chủ biên (Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội,
2004) đã đi sâu phân tích và đánh giá một cách tổng quát sự chuyển dịch cơ
cấu kinh tế Việt Nam trong những năm 1990 – 2002, chỉ ra những điểm
mạnh, yếu, xu hướng chuyển dịch và các giải pháp thúc đẩy chuyển dịch cơ
cấu kinh tế nhanh hơn…Tác phẩm đã dựng lên một bức tranh tổng quát về
chuyển dịch cơ cấu kinh tế của Việt Nam trong những năm 1990 – 2002.
Tác phẩm “Chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế ở Việt Nam” do PGS.TS
Bùi Tất Thắng chủ biên (Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 2006) được biên soạn
dựa trên kết quả nghiên cứu của đề tài khoa học cấp nhà nước KX 02 – 05:
4
“Chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại
hoá ” (thuộc Chương trình nghiên cứu khoa học cấp Nhà nước KX – 02:
“Công nghiệp hoá, hiện đại hoá theo định hướng xã hội chủ nghĩa: con đường
và bước đi”). Với cách phân tích cụ thể hơn, tập trung khảo cứu một chủ đề
độc lập, toàn diện và tổng hợp về chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành, cuốn
sách đã trình bày tổng quan một số vấn đề lý luận về chuyển dịch cơ cấu kinh
tế ngành trong thời kỳ công nghiệp hoá, những tiêu chí đánh giá sự chuyển
dịch cơ cấu kinh tế, những kinh nghiệm và bài học rút ra từ chuyển dịch cơ
cấu kinh tế trong một số mô hình công nghiệp hoá và quá trình thay đổi nhận
Từ góc độ khoa học kinh tế, còn có nhiều công trình nghiên cứu, hội
thảo khoa học đã đi sâu bàn về chuyển dịch cơ cấu kinh tế như: “Đầu tư trực
tiếp nước ngoài và chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành ở Hải Phòng” do tác giả
Đào Văn Hiệp làm chủ biên (Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 2011) đã trình
bày một số vấn đề lý luận, thực tiễn về đầu tư nước ngoài; mối quan hệ giữa
đầu tư nước ngoài với quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành ở Việt Nam
nói chung, Hải Phòng nói riêng và việc tăng cường thu hút đầu tư nước ngoài
để thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu ngành theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại
hoá ở Hải Phòng trong những năm tới. Cuốn sách “Chuyển dịch cơ cấu kinh
tế ngành và phát triển các ngành trọng điểm, mũi nhọn ở Việt Nam” do tác
giả Đỗ Hoài Nam làm chủ biên (Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1996) đã nêu
lên một số vấn đề lý thuyết và kinh nghiệm thế giới về chuyển dịch cơ cấu
ngành của nền kinh tế. Đặc điểm phát triển kinh tế khu vực châu Á – Thái
Bình Dương và tác động cơ cấu của kinh tế đến các nước đi sau trong khu
vực. “Vấn đề chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành ở Thành phố Hồ Chí Minh
trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá” do các tác giả Trương Thị
Minh Sâm, Phương Ngọc Thạch và Lâm Quang Huyền làm đồng chủ biên
(Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 2000) đã trình bày một cách tổng quát về
chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành ở Thành phố Hồ Chí Minh. Nêu lên các tiêu
chuẩn xác định cơ cấu kinh tế ngành, lựa chọn các ngành trọng điểm và mũi
6
nhọn trong cơ cấu kinh tế ngành. Đưa ra các giải pháp để chuyển dịch và tối
ưu hoá cơ cấu kinh tế ngành ở Thành phố Hồ Chí Minh. Chuyển dịch cơ cấu
và xu hướng phát triển kinh tế của nông nghiệp Việt Nam theo hướng công
nghiệp hoá, hiện đại hoá từ thế kỷ XX đến thế kỷ XXI trong “Thời đại kinh tế
tri thức” của Lê Quốc Sử, Nxb Thống kê, TP Hồ Chí Minh, 2001; Cơ cấu
kinh tế, chuyển dịch cơ cấu kinh tế (sách chuyên khảo), Phan Công Nghĩa
(Nxb Đại học kinh tế quốc dân, Hà Nội, 2007); Sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế
chuyển dịch cơ cấu kinh tế, đánh giá thực trạng chuyển dịch cơ cấu kinh tế,
nội bộ các ngành ở tỉnh Trà Vinh đến năm 2015.
Sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành công nghiệp ở vùng lãnh thổ đồng
bằng sông Hồng: Thực trạng và giải pháp, luận án tiến sĩ kinh tế của Phạm
Ngọc Dũng (Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội, 2002) đã nêu
lên cơ sở lý luận và thực trạng chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp, những
nguyên nhân hạn chế đến quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế công nông
nghiệp ở đồng bằng sông Hồng, đồng thời đưa ra định hướng cùng các giải
pháp nhằm đẩy nhanh sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế công nông nghiệp vùng
đến năm 2010
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành của vùng duyên hải Nam Trung Bộ
của Việt Nam trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá, luận án
tiến sĩ kinh tế của Vũ Hùng Cường (Viện kinh tế Việt Nam, 2008) đã chỉ ra
cơ sở lý luận phân tích chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành của vùng duyên hải
Nam Trung Bộ của Việt Nam giai đoạn 1996 – 2005. Định hướng và giải
pháp thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành của vùng duyên hải Nam
Trung Bộ trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá
Phương hướng và giải pháp chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành vùng
Trung du và miền núi Bắc Bộ thời kỳ đến năm 2020, luận án tiến sĩ của Đỗ
Mạnh Khởi (Viện chiến lược Phát triển, 2010) đã đi vào phân tích, đánh giá
thực trạng về chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành của vùng Trung du và miền
8
núi Bắc Bộ thời kỳ 1997 – 2008. Xác định quan điểm, phương hướng và giải
pháp nhằm góp phần thúc đẩy quá trình này…
Ngoài ra, chuyển dịch cơ cấu kinh tế còn có những luận án tiến sĩ, luận
văn thạc sĩ khoa học lịch sử, chuyên ngành Lịch sử Đảng cộng sản Việt Nam
như: Đảng bộ tỉnh Thanh Hoá lãnh đạo chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông
nghiệp, luận án tiến sĩ của Nguyễn Văn Vinh (Học viện chính trị quốc gia Hồ
Đề xuất một số quan điểm cơ bản, giải pháp chủ yếu để đẩy mạnh quá
trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành ở huyện Kiến Thụy, thành phố Hải
Phòng giai đoạn 2015 – 2020.
4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
* Đối tượng nghiên cứu
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành.
* Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi về không gian: Được giới hạn trong huyện Kiến Thụy, thành
phố Hải Phòng
Phạm vi về thời gian: Đề tài lấy mốc thời gian tập trung từ 2010 đến
2014 để đánh giá thực trạng quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành, trên
cơ sở đó đề xuất các quan điểm cơ bản và giải pháp chủ yếu đẩy mạnh chuyển
dịch cơ cấu kinh tế ngành ở huyện Kiến Thụy giai đoạn 2015 - 2020.
Phạm vi về nội dung: Được giới hạn trong việc nghiên cứu chuyển dịch
cơ cấu giữa 03 ngành: công nghiệp – nông nghiệp – dịch vụ và nội bộ từng
ngành ở huyện Kiến Thụy, thành phố Hải Phòng.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
* Phương pháp luận
Trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử,
những nguyên lý của chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về cơ
cấu kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành. Các văn kiện của Đảng
Cộng Sản Việt Nam về chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành.
10
Trong quá trình nghiên cứu tác giả còn sử dụng các lý luận có liên quan
để tiếp cận đối tượng, luận giải các nhiệm vụ của đề tài.
* Phương pháp nghiên cứu
Luận văn được thực hiện trên cơ sở phương pháp duy vật biện chứng,
duy vật lịch sử; phương pháp nghiên cứu đặc thù của khoa học kinh tế chính
niệm cơ cấu kinh tế sẽ góp phần làm rõ nội dung cơ cấu kinh tế và phương
hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế.
Do cách tiếp cận, mục đích, đối tượng nghiên cứu khác nhau nên cũng
có những cách hiểu khác nhau về cơ cấu kinh tế, nhưng xét cho cùng thì cơ
cấu kinh tế là một phạm trù kinh tế thể hiện các mối quan hệ giữa các bộ phận
cấu thành nền kinh tế quốc dân, đó là các mối quan hệ tỷ lệ giữa các ngành,
các vùng, các thành phần kinh tế. Mối quan hệ này phản ánh cả về mặt số
lượng và chất lượng của các yếu tố hợp thành. Có thể thấy rằng nền kinh tế
quốc dân là một tổng thể phức tạp gồm nhiều ngành, nhiều nghề, nhiều lĩnh
vực, nhiều thành phần. Vì thế, cơ cấu kinh tế có phạm vi rộng hẹp khác nhau,
có cơ cấu kinh tế cả nước, có cơ cấu kinh tế ở từng vùng, từng địa phương, có
cơ cấu ngành và cơ cấu trong từng ngành...
Cơ cấu kinh tế bao giờ cũng gắn với những điều kiện không gian và thời
gian cụ thể. Cơ cấu kinh tế không cố định trong một thời gian dài mà có sự
vận động chuyển dịch cần thiết, phù hợp với những biến động của điều kiện
tự nhiên - kinh tế - xã hội. Sự duy trì quá lâu hoặc sự thay đổi quá nhanh
chóng cơ cấu kinh tế mà không phù hợp với những biến đổi của tự nhiên kinh tế - xã hội đều có thể ảnh hưởng đến hiệu quả của quá trình sản xuất kinh
doanh. Bởi vậy, việc duy trì hay thay đổi cơ cấu kinh tế không phải là mục
12
tiêu mà chỉ là phương tiện của việc tăng trưởng và phát triển kinh tế. Cơ cấu
kinh tế trong quá trình vận động chuyển dịch nhanh hay chậm không hoàn
toàn phụ thuộc vào ý muốn chủ quan mà còn phụ thuộc vào các điều kiện cần
thiết cho sự chuyển dịch.
Trong cơ cấu kinh tế quốc dân, cơ cấu ngành là quan trọng nhất. Cơ cấu
ngành được hình thành trên cơ sở phân công lao động theo ngành, là kết quả
của sự phân công lao động xã hội. Cơ cấu kinh tế ngành là tổ hợp các ngành
hợp thành, là các nhân tố tạo thành ngành kinh tế, là quan hệ hữu cơ giữa các
nhân tố tạo thành ngành kinh tế và trong nội bộ từng ngành đó. Về mặt số
không thể thay đổi hoàn toàn nó. Mặt khác, cơ cấu kinh tế lại mang tính lịch
sử xã hội nhất định. Cơ cấu kinh tế được hình thành khi quan hệ giữa các
ngành, các lĩnh vực, bộ phận kinh tế được thiết lập một cách cân đối và sự
phân công lao động diễn ra một cách hợp lý.
Cơ cấu kinh tế được hình thành một cách hợp lý khi chủ thể quản lý
Nhà nước có khả năng nắm bắt các quy luật khách quan, đánh giá đúng nguồn
lực trong nước và ngoài nước để tác động trực tiếp hoặc gián tiếp vào quá
trình hình thành cơ cấu kinh tế. Nhưng sự tác động này không mang tính áp
đặt ý chí mà là sự tác động mang tính định hướng.
Cơ cấu kinh tế được xem xét dưới các góc độ khác nhau như trong đó:
Cơ cấu kinh tế ngành, cơ cấu vùng kinh tế và cơ cấu thành phần kinh tế. Đây
là 3 bộ phận cơ bản và có quan hệ chặt chẽ với nhau, trong đó cơ cấu kinh tế
ngành là dạng cơ cấu kinh tế quan trọng nhất của mọi quốc gia.
Từ những phân tích trên có thể hiểu, cơ cấu kinh tế là một tổng thể hợp
thành bởi nhiều yếu tố kinh tế của nền kinh tế quốc dân, giữa chúng có mối
liên hệ hữu cơ, những tương tác qua lại cả về số lượng và chất lượng, trong
những không gian và điều kiện kinh tế - xã hội cụ thể, chúng vận động hướng
vào những mục tiêu nhất định. Theo quan điểm này cơ cấu kinh tế là phạm
trù kinh tế, là nền tảng của cơ cấu xã hội và chế độ xã hội.
14
Như vậy, từ cách hiểu trên chúng ta có thể khái quát cơ cấu ngành kinh
tế bao gồm một số nội dung cơ bản sau: Tổng thể các nhóm ngành, các yếu tố
cấu thành hệ thống kinh tế của một quốc gia.
Số lượng, tỷ trọng của các nhóm ngành và của các yếu tố cấu thành hệ
thống kinh tế trong tổng thể nền kinh tế đất nước.
Các mối quan hệ tương tác lẫn nhau giữa các nhóm ngành, các yếu tố
hướng vào các mục tiêu đã xác định.
Sự vận động và phát triển của nền kinh tế theo thời gian luôn bao hàm
phân phối điện nước, thương mại, ngân hàng, tài chính, bảo hiểm, giáo dục, y
tế...
Hiện nay, ở Việt Nam, cơ cấu kinh tế ngành bao gồm 3 ngành lớn
(ngành cấp I): nông nghiệp, công nghiệp và dịch vụ. Các ngành cấp I lại được
phân thành các ngành cấp II, như ngành dịch vụ được chia thành các phân
ngành: dịch vụ bảo hiểm, ngân hàng, tài chính, y tế, giáo dục, vận tải...Ngành
nông nghiệp có: trồng trọt, chăn nuôi, lâm nghiệp, ngư nghiệp. Ngành công
nghiệp được phân thành: công nghiệp chế biến, chế tạo, công nghiệp khai
thác...Các ngành cấp II được phân thành các ngành cấp III, như hoa màu, cây
ăn trái...là phân ngành cấp III của ngành trồng trọt...
Hai là, mối quan hệ tương tác giữa các ngành với nhau. Mối quan hệ
này bao gồm cả về mặt số lượng và mặt chất lượng. Mặt số lượng thể hiện ở
tỷ trọng (tính theo GDP, lao động, vốn...) của mỗi ngành trong tổng thể nền
kinh tế quốc dân; còn mặt chất lượng phản ánh vị trí, tầm quan trọng của từng
ngành và tính chất của sự tác động qua lại giữa các ngành với nhau. Sự tác
động qua lại giữa các ngành có thể là trực tiếp hoặc gián tiếp. Tác động trực
tiếp bao gồm tác động cùng chiều và ngược chiều, còn mối quan hệ gián tiếp
được thể hiện theo các cấp 1,2,3...Nói chung mối quan hệ của các ngành cả số
lượng và chất lượng đều thường xuyên biến đổi và ngày càng trở lên phức tạp
16
hơn theo sự phát triển của lực lượng sản xuất và phân công lao động xã hội
trong nước và quốc tế.
1.1.3. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành luôn là một tất yếu khách quan, một
nhiệm vụ hết sức quan trọng, lâu dài đối với mỗi quốc gia, địa phương trong
phát triển kinh tế. Nếu như mỗi quốc gia, địa phương xác định đúng các
phương hướng và giải pháp thì sẽ đảm bảo hiệu quả kinh tế cao trong quá
vấn đề “đổi mới tư duy kinh tế” đã đánh dấu một bước chuyển căn bản trong
tư duy nhận thức của Đảng về cơ cấu kinh tế ngành thời kỳ công nghiệp hoá.
Từ việc nhìn nhận, đánh giá một cách nghiêm túc những tồn tại, hạn chế trong
nhận thức và quản lý, tổ chức chuyển dịch cơ cấu kinh tế nói chung và cơ cấu
kinh tế ngành nói riêng, Đại hội Đảng lần thứ VI đã xác định giải pháp cơ cấu
là phải thật sự tập trung sức người, sức của vào việc thực hiện 3 chương trình
mục tiêu về lương thực - thực phẩm, hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu.
Trên cơ sở các thành tựu của 15 năm đổi mới, phát triển kinh tế và về
cơ bản đã hoàn thành các mục tiêu chiến lược phát triển kinh tế xã hội giai
đoạn (1991 - 2000). Tại Đại hội Đảng lần thứ IX (2001), đối với vấn đề
chuyển dịch cơ cấu kinh tế, lần đầu tiên vấn đề chuyển dịch cơ cấu lao động
được đưa vào như một mục tiêu quan trọng của vấn đề chuyển dịch cơ cấu
kinh tế. Chủ trương chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành, tư tưởng xuyên xuốt
của Đại hội IX là “rút ngắn thời gian, vừa có những bước nhảy tuần tự, vừa có
bước nhảy vọt”, “cơ cấu đầu tư dựa trên cơ sở phát huy các tiềm năng, lợi thế
của đất nước, tăng cường sức cạnh tranh và phải gắn với nhu cầu thị trường
trong và ngoài nước”, phải coi trọng thị trường trong nước và chủ động mở
rộng thị trường nước ngoài, tăng cường việc xuất khẩu hàng hoá. Và cũng tại
kỳ Đại hội này, có 2 phân ngành được xác định là những ngành mũi nhọn của
nền kinh tế gồm: công nghiệp điện tử - thông tin và ngành du lịch. Đây là
điểm mới trong quan điểm về chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế so với các kỳ
Đại hội trước đó.
18
Với việc mở cửa, hội nhập kinh tế thế giới và trước xu thế toàn cầu hoá.
Kinh tế Việt Nam phải chịu những tác động mạnh mẽ. Trước tình hình này,
Đại hội Đảng lần thứ X (2006) đã xác định: “Đổi mới mô hình tăng trưởng và
cơ cấu lại nền kinh tế, nâng cao chất, hiệu quả, phát triển kinh tế nhanh, bền
vững” [12,tr.46]. Đối với cơ cấu kinh tế ngành, Đảng ta có chủ trương: “Cơ
cơ cấu ngành kinh tế và sự phát triển của nền kinh tế luôn gắn kết với nhau và
có một ý nghĩa hết sức quan trọng vì gắn với nó là cả một động thái về phân
bổ nguồn lực có hạn của mỗi quốc gia trong những thời điểm nhất định.
Quá trình sản xuất vật chất luôn chứng kiến sự thay đổi mạnh mẽ của
lực lượng sản xuất. Khi lực lượng sản xuất phát triển, phân công lao động xã
hội ngày càng sâu sắc, tính chuyên môn hoá trong lao động ngày càng nâng
cao, sẽ làm xuất hiện hoặc biến mất một số ngành kinh tế. Nói cách khác, sự
phát triển của phân công lao động xã hội và lực lượng sản xuất tất yếu dẫn
đến sự thay đổi cơ cấu ngành nghề. Như vậy, cơ cấu kinh tế ngành luôn thay
đổi theo từng thời kỳ phát triển bởi các yếu tố hợp thành cơ cấu kinh tế luôn
vận động, phát triển. Sự thay đổi đó bao gồm cả về số lượng và về quan hệ tỷ
lệ giữa các ngành.
Trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành mỗi quốc gia, mỗi
ngành hay mỗi vùng, mỗi địa phương có thể đưa vào cơ cấu kinh tế những
ngành mới (sản phẩm hoặc dịch vụ mới) hay có thể loại ra khỏi cơ cấu kinh tế
những ngành (sản phẩm hoặc dịch vụ) không còn phù hợp hoặc có thể chuyển
dịch theo hướng tăng hay giảm tỷ trọng của một ngành, một sản phẩm nào đó.
Đó là quá trình chuyển từ cơ cấu kinh tế lạc hậu, bất hợp lý sang cơ cấu kinh
tế hợp lý; hoàn thiện và bổ sung cơ cấu kinh tế cũ nhằm biến đổi cơ cấu cũ
thành cơ cấu kinh tế mới hiện đại và phù hợp hơn. Sự thay đổi như vậy không
đơn giản chỉ là sự thay đổi số lượng các ngành và tỷ trọng mỗi ngành mà còn
bao gồm sự thay đổi vị trí, tính chất của mối quan hệ trong nội bộ cơ cấu
ngành. Việc chuyển dịch cơ cấu ngành phải dựa trên cơ sở một cơ cấu hiện có
và nội dung của sự chuyển dịch là cải tạo cơ cấu cũ, lạc hậu hoặc chưa phù
20
hợp để xây dựng cơ cấu mới tiên tiến, hoàn thiện và bổ sung cơ cấu cũ nhằm
biến đổi cơ cấu cũ thành cơ cấu mới hiện đại và phù hợp hơn.
Với xu thế hội nhập kinh tế quốc tế, khu vực ngày càng mở rộng và
phương nói riêng; thứ hai: chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành phải đảm bảo
việc khai thác, sử dụng một cách có hiệu quả các nguồn lực của đất nước và
phải phù hợp với sự phát triển, tiến bộ của khoa học kỹ thuật, mở cửa hội
nhập kinh tế quốc tế; thứ ba: quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành nhất
thiết phải gắn liền với quá trình chuyển dịch cơ cấu lao động, phát triển nguồn
nhân lực và phân công lao động một cách hợp lý.
1.2. Quan niệm, nội dung, sự cần thiết và các nhân tố ảnh hưởng đến
chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành ở huyện Kiến Thụy, thành phố Hải Phòng
1.2.1. Quan niệm
Là một bộ phận quan trọng nhất trong cơ cấu nền kinh tế quốc dân. Là
những ngành kinh tế được hình thành và số ngành kinh tế có mối quan hệ
biểu hiện bằng tỷ trọng của ngành so với tổng thể nền kinh tế. Cơ cấu kinh tế
được hình thành trên cơ sở phân công lao động xã hội và trình độ phát triển
của lực lượng sản xuất, hình thành nên các ngành chuyên môn hoá tổng hợp
( Công nghiệp - Nông nghiệp - Dịch vụ).
Chuyển dịch cơ cấu ngành không chỉ là sự thay đổi về số lượng các
ngành, tỷ trọng của mỗi ngành mà còn bao gồm sự thay đổi vị trí, tính chất
mối quan hệ trong nội bộ cơ cấu ngành. Việc chuyển dịch cơ cấu ngành phải
dựa trên cơ sở của một cơ cấu hiện có và nội dung của sự chuyển dịch là cải
tạo cơ cấu cái cũ, lạc hậu hoặc chưa phù hợp để xây dựng cơ cấu tiên tiến,
hoàn thiện nhằm biến cơ cấu cũ thành cơ cấu mới hiện đại và phù hợp hơn.
Qúa trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành là một quá trình diễn ra liên tục
và gắn liền với sự phát triển kinh tế
Từ những phân tích trên có thể quan niệm, chuyển dịch cơ cấu kinh tế
ngành ở huyện Kiến Thụy, thành phố Hải Phòng là sự vận động không
ngừng, biến đổi về cấu trúc, tỷ trọng, tốc độ giữa các ngành kinh tế, cụ thể :
22
Nội dung phát triển, phải đảm bảo toàn diện cả lực lượng sản xuất,
quan hệ sản xuất, cơ cấu kinh tế, cho phép phát huy hết mọi tiềm năng thế
mạnh của huyện, tạo đà phát triển mạnh mẽ.
1.2.2. Nội dung của chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành ở huyện Kiến
Thụy, thành phố Hải Phòng
Thời gian qua, kinh tế huyện Kiến Thụy tăng trưởng liên tục với tốc độ
khá. Cơ cấu kinh tế có sự chuyển dịch theo hướng tích cực, giảm dần tỷ trọng
nông nghiệp, tăng tỷ trọng công nghiệp, thương mại, dịch vụ.
Một là, chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành của huyện thay đổi theo
hướng tăng tỷ trọng của ngành công nghiệp, dịch vụ, giảm tỷ trọng của
ngành nông nghiệp.
Nằm trong xu thế chung của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa
đất nước, việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành của huyện đang có sự chuyển
dịch theo hướng tích cực, đúng hướng phản ánh đúng những quan điểm, nghị
quyết của Huyện uỷ, kế hoạch của Uỷ ban nhân dân huyện Kiến Thuỵ về đẩy
mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tăng tỷ trọng của ngành công
nghiệp - dịch vụ, giảm tỷ trọng của ngành nông nghiệp.
Cùng với quá trình phát triển kinh tế, nhiều ngành mới sẽ ra đời, nhiều
khu, cụm công nghiệp và các khu đô thị, thị tứ sẽ hình thành trong huyện. Vì
vậy, cơ cấu kinh tế ngành sẽ có xu hướng chuyển dịch từ nền nông nghiệp
chủ yếu sang phát triển công nghiệp và dịch vụ. Trong đó, nông nghiệp giảm
dần về giá trị tương đối nhưng vẫn tăng lên về giá trị tuyệt đối. Công nghiệp
và dịch vụ tăng cả tương đối và tuyệt đối. Nội bộ các ngành cũng có sự
chuyển dịch về cơ cấu, quy mô, trình độ công nghệ với chất lượng sản phẩm
và hiệu quả kinh tế ngày càng cao. Sự biến đổi cơ cấu kinh tế ngành dẫn đến
chuyển dịch cơ cấu lao động và dân cư, lao động giản đơn có xu hướng giảm
dần cùng với quá trình tăng lên của lao động chuyên môn kỹ thuật.
24
Như vậy, tỷ trọng giữa các khu vực đã có sự thay đổi đáng kể, khu vực
nông nghiệp từ chỗ chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu kinh tế của huyện so với
các ngành các công nghiệp, dịch vụ thì hiện tại công nghiệp, dịch vụ từ chỗ
chiếm tỷ trọng ít dần chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu kinh tế, điều này cũng
phản ánh quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đã và đang diễn ra mạnh
mẽ, những thành tựu của khoa học công nghệ được áp dụng vào những ngành
công nghiệp quan trọng, thúc đẩy tốc độ tăng trưởng GDP ở những ngành đó.
Hai là, trong cơ cấu GDP tỷ trọng ngành nông nghiệp ngày càng giảm
so với ngành công nghiệp và dịch vụ.
Sự giảm tỷ trọng của ngành nông nghiệp trong cơ cấu GDP là xu hướng
tất yếu trong giai đoạn hiện nay, đối với nước ta đang trong quá trình đẩy
mạnh sự nghiệp công nghiệp hoá – hiện đại hoá đất nước thì sự giảm tỷ trọng
này càng diễn ra mạnh hơn bao giờ hết. Nằm trong xu hướng đó, cơ cấu kinh
tế của huyện cũng đang có sự chuyển dịch tương đối mạnh mẽ theo xu hướng
giảm tỷ trọng của ngành nông nghiệp và tăng tỷ trọng của ngành công nghiệp
và dịch vụ, cùng với đó là những làng nghề truyền thống, tiểu thủ công nghiệp
cũng tăng lên nhiều so với trước. Sự giảm tỷ trọng này cũng là một điều dễ
hiểu bởi trước ảnh hưởng của cuộc cách mạng khoa học - công nghệ hiện đại,
sự phát triển của kinh tế tri thức nhiều khu công nghiệp, cụm công nghiệp ra
đời và mở rộng thị trường phát triển làm cho diện tích đất nông nghiệp bị thu
hẹp. Mặt khác, do sản phẩm nông nghiệp làm ra chưa đảm bảo về mặt chất
lượng do trong quá trình chăm sóc thiếu kỹ thuật và do thị trường xuất khẩu
có nhu cầu chưa cao, nên đã làm giảm diện tích đất nông nghiệp, đồng nghĩa
với đó là lao động trong ngành công nghiệp, dịch vụ và tiểu thủ công nghiệp
lại tăng lên làm cho bức tranh chuyển dịch cơ cấu kinh tế diễn ra khá rõ.
Mục tiêu phấn đấu của huyện đến năm 2020 là: tỷ trọng GDP của nông
nghiệp 16 - 17%; công nghiệp 40 - 41%; dịch vụ 42 - 43% . Khi đó thu nhập
26