MỤC LỤC
MỞ ĐẦU
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN NGUỒN
Trang
3
NHÂN LỰC CHẤT LƯỢNG CAO NGÀNH DỊCH
VỤ DU LỊCH Ở THÀNH PHỐ HÀ NỘI
1.1
Lý luận chung về nguồn nhân lực, nguồn nhân lực chất
lượng cao và nguồn nhân lực chất lượng cao ngành dịch
vụ du lịch
1.2.
Quan niệm, nội dung và các yếu tố ảnh hưởng đến phát
triển nguồn nhân lực chất lượng cao ngành dịch vụ du
lịch ở thành phố Hà Nội
Chương 2 THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC
12
12
19
CHẤT LƯỢNG CAO NGÀNH DỊCH VỤ DU LỊCH Ở
2.1.
2.2.
THÀNH PHỐ HÀ NỘI THỜI GIAN QUA
Tổng quan về ngành dịch vụ du lịch của thành phố Hà Nội
ngành dịch vụ du lịch ở thành phố Hà Nội thời gian tới
KẾT LUẬN
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
48
48
55
72
74
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Nhân lực là một trong những nguồn lực phát triển kinh tế quan trọng
nhất của mỗi quốc gia. Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu
của công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế của đất
nước là một trong những nhiệm vụ trọng tâm của Đảng và Nhà nước ta trong
thời gian tới.
Trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, nguồn nhân
lực là nhân tố trung tâm, có vai trò quyết định đối với tăng trưởng và phát
triển của nền kinh tế. Nghị quyết Đại hội XI Đảng Cộng sản Việt Nam đã
nhấn mạnh: "Phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, nhất là nguồn
nhân lực chất lượng cao là một đột phá chiến lược, là yếu tố quyết định đẩy
mạnh phát triển và ứng dụng khoa hoc, công nghệ…” [6, tr.130]. Điều này
cho thấy, đào tạo và sử dụng có hiệu quả nguồn nhân lực chất lượng cao trở
thành một trong các yếu tố then chốt thúc đẩy kinh tế - xã hội phát triển cũng
như trong quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Hà Nội là một trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa, giáo dục, khoa học
và công nghệ và đầu mối giao thông quan trọng của cả nước, quá trình đẩy
Ở Hà Nội cũng như trong cả nước đã có nhiều công trình khoa học, các
cuộc hội thảo, các luận văn thạc sĩ, tiến sĩ nghiên cứu về đề tài này ở nhiều
góc độ, phạm vi rộng, hẹp khác nhau như:
* Nhóm nghiên cứu về phát triển con người:
“Nghiên cứu con người và nguồn nhân lực đi vào công nghiệp hóa,
hiện đại hóa”, của GS.TS Phạm Minh Hạc. Tác giả nghiên cứu chủ yếu về
con người, những nhân tố tác động đến sự phát triển toàn diện của con người
như: sức khỏe, hình thể, trí tuệ, sự chăm sóc y tế, giáo dục của gia đình, nhà
trường, xã hội, giáo dục và đào tạo... từ đó đưa ra các giải pháp chiến lược
nhằm phát triển nguồn nhân lực cho quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
“Phát triển nguồn nhân lực trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại
hóa nông nghiệp nông thôn” của Lê Thị Ngân. Tác giả đã tập trung làm rõ
4
những vấn đề mang tính lý luận và thực tiễn yêu cầu phải phát triển nguồn
nhân lực. Trên cơ sở những quan điểm của Đảng, chính sách phát triển và sử
dụng nguồn nhân lực của Nhà nước, tác giả tập trung phân tích vai trò và sự
cần thiết phát triển nguồn nhân lực cho nông nghiệp, nông thôn.
“Nguồn lực con người trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở
Việt Nam” của Tiến sỹ Đoàn Khải. Tác giả chủ yếu phân tích vai trò của con
người là nhân tố quan trọng chủ yếu quyết định thành công sự nghiệp công
nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam, từ đó đưa ra những giải pháp nhằm phát
triển con người toàn diện trong đó đề cập nhiều đến thể lực, trí lực, trình độ
chuyên môn, trình độ học vấn, khả năng ứng dụng khoa học công nghệ đẩy
nhanh quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam.
“Phát huy yếu tố con người trong lực lượng sản xuất ở Việt Nam hiện
nay” của Tiến sỹ Hồ Anh Dũng. Tác giả tập trung đề cập nhân tố quan trọng
trong phát triển lực lượng sản xuất là nhân tố con người, từ đó rút ra vấn đề
muốn phát triển lực lượng sản xuất thì phải coi trọng phát triển nguồn lực con
đó tác giả rút ra một số định hướng, giải pháp nhằm nâng cao chất lượng
nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
"Việc làm, thực trạng và những vấn đề bất cập ở Việt Nam trong giai
đoạn hiện nay" của Trần Minh Yến. Bài viết của tác giả chủ yếu bàn về việc
làm và thực trạng giải quyết việc làm cho người lao động; những vấn đề bất
cập trong đào tạo nghề và sử dụng lao động trong những năm qua đồng thời
tác giả nêu lên những giải pháp cơ bản nhằm phát huy hiệu quả trong đào tạo,
cũng như sử dụng lao động qua đào tạo và định hướng đào tạo nghề nhằm sử
dụng có hiệu quả, cũng như giải quyết việc làm ở nước ta hiện nay.
"Bồi dưỡng và đào tạo lại đội ngũ nhân lực trong điều kiện mới" của
Nguyễn Minh Đường. Tác giả chủ yếu nêu lên những bất cập trong đào tạo
nhân lực, cũng như thực chất của nguồn nhân lực trong đó đề cập đến đội ngũ
cán bộ quản lý, cán bộ lãnh đạo, những người trực tiếp tham gia lao động đã
qua đào tạo nghề... song chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội
7
(KT-XH) trong điều kiện mới; từ đó tác giả đưa ra những giải pháp đào tạo lại
cho đội ngũ này để đáp ứng được yêu cầu trong tình hình mới.
“Khủng hoảng tài chính và thị trường nguồn nhân lực chất lượng cao
ở Việt Nam” của GS, TS Hoàng Văn Châu. Tác giả phân tích thị trường lao
động chất lượng cao ở Việt Nam; khủng hoảng tài chính và thị trường nguồn
nhân lực chất lượng cao ở Việt Nam, tác giả chỉ rõ trong lúc tình trạng cung
cầu nguồn nhân lực chất lượng cao ở Việt Nam đang bị mất dần cân đối thì
nền kinh tế phải chịu tác động nặng nề của cuộc khủng hoảng tài chính toàn
cầu bắt đầu từ năm 2008. Một trong những tác động dễ nhận thấy nhất của
cuộc khủng hoảng đó là tình trạng mất việc làm gia tăng do sản xuất bị đình
trệ, xuất khẩu giảm sút… Trên cơ sở đó tác giả đưa ra những giải pháp cho
các trường đại học để phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, khả năng đào
phố Hà Nội. Vì vậy, việc lựa chọn đề tài: "Phát triển nguồn nhân lực chất
lượng cao ngành dịch vụ du lịch ở thành phố Hà Nội " làm luận văn tốt
nghiệp, tác giả muốn tiếp cận một lĩnh vực cụ thể chưa được nhiều người đề
cập một cách hoàn chỉnh và thấu đáo.
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
* Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở luận giải một số vấn đề lý luận và thực tiễn, đề xuất các
phương hướng, giải pháp chủ yếu nhằm phát triển nguồn nhân lực chất lượng
cao ngành dịch vụ Du lịch ở Thành phố Hà Nội.
* Nhiệm vụ nghiên cứu
- Hệ thống hóa một số vấn đề lý luận về phát triển nguồn nhân lực chất
lượng cao ngành dịch vụ Du lịch ở Thành phố Hà Nội dưới góc độ kinh tế
chính trị.
- Đánh giá đúng thực trạng phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao
ngành dịch vụ Du lịch ở Thành phố Hà Nội trong những năm qua.
- Đề xuất một số phương hướng cơ bản và những giải pháp chủ yếu
nhằm phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao ngành dịch vụ Du lịch ở
Thành phố Hà Nội trong thời gian tới.
9
4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu của đề tài
* Đối tượng nghiên cứu
Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao ngành dịch vụ Du lịch ở
Thành phố Hà Nội.
* Phạm vi nghiên cứu
- Nghiên cứu phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao ngành dịch vụ
Du lịch ở Thành phố Hà Nội.
- Các số liệu điều tra, khảo sát nguồn nhân lực chất lượng cao được
thực hiện chủ yếu từ năm 2010 đến năm 2015.
11
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC
CHẤT LƯỢNG CAO NGÀNH DỊCH VỤ DU LỊCH
Ở THÀNH PHỐ HÀ NỘI
1.1. Lý luận chung về nguồn nhân lực, nguồn nhân lực chất lượng
cao và nguồn nhân lực chất lượng cao ngành dịch vụ du lịch
1.1.1. Khái niệm nhân lực, nguồn nhân lực
* Khái niệm nhân lực
Nhân lực là sức lực con người, nằm trong mỗi con người và làm cho
con người hoạt động. Sức lực đó ngày càng phát triển cùng với sự phát triển
của cơ thể con người và đến một mức độ nào đó, con người đủ điều kiện tham
gia vào quá trình lao động – con người có sức lao động.
Nhân lực là bao gồm tất cả các tiềm năng của con người trong một tổ
chức hay xã hội (kể cả những thành viên trong ban lãnh đạo doanh nghiệp) tức là
tất cả các thành viên trong doanh nghiệp sử dụng kiến thức, khả năng, hành vi
ứng xử và giá trị đạo đức để thành lập, duy trì và phát triển doanh nghiệp.
Tóm lại, nhân lực được hiểu là nguồn lực con người bao gồm thể lực
và trí lực được sử dụng trong quan hệ sản xuất kinh doanh nhằm thỏa mãn
nhu cầu của cuộc sống con người đồng thời phục vụ cho mục tiêu phát triển
của cộng đồng.
* Khái niệm nguồn nhân lực
Cho đến nay, có nhiều quan điểm khác nhau về nguồn nhân lực. Theo tổ
chức lao động quốc tế (ILO) thì “Nguồn nhân lực của một quốc gia là toàn bộ
những người trong độ tuổi có khả năng tham gia lao động. Nguồn nhân lực được
hiểu theo hai nghĩa: theo nghĩa rộng, nguồn nhân lực là nguồn cung cấp sức lao
chất và tinh thần phục vụ cho nhu cầu hiện tại và tương lai của đất nước.
1.1.2. Khái niệm nguồn nhân lực chất lượng cao (NNL CLC)
Hiện nay có nhiều quan niệm khác nhau về nguồn nhân lực chất lượng
cao. Theo tác giả Trần Mai Ước thì: “Nguồn nhân lực chất lượng cao được
hiểu là bộ phận lao động xã hội có trình độ học vấn và chuyên môn kĩ thuật
13
cao; có kĩ năng lao động giỏi và có khả năng thích ứng nhanh với những thay
đổi nhanh chóng của công nghệ sản xuất; có sức khỏe và phẩm chất tốt, có
khả năng vận dụng sáng tạo những tri thức, những kĩ năng đã được đào tạo
vào quá trình lao động sản xuất nhằm đem lại năng suất, chất lượng và hiệu
quả cao” [35, tr.4].
Theo bài viết của PGS,TS Bùi Thị Ngọc Lan cho rằng: “Nguồn nhân
lực chất lượng cao là khái niệm để chỉ lực lượng lao động cụ thể có trình độ
lành nghề (về chuyên môn, kỹ thuật) ứng với một ngành nghề cụ thể theo tiêu
thức phân loại lao động về chuyên môn, kỹ thuật nhất định (trên đại học, đại
học, cao đẳng, lao động kỹ thuật lành nghề); có kỹ năng lao động giỏi và có
khả năng thích ứng nhanh với những thay đổi nhanh chóng của công nghệ sản
xuất; có sức khỏe và phẩm chất tốt, có khả năng vận dụng sáng tạo những tri
thức, những kỹ năng đã được đào tạo vào quá trình lao động sản xuất nhằm
đem lại năng suất, chất lượng và hiệu quả cao” [4, tr.6].
Theo tác giả Nguyễn Hữu Dũng - Bộ Lao động thương binh - xã
hội: “Nguồn nhân lực trình độ cao là bộ phận lao động phức tạp, phải trải
qua một quá trình đào tạo, rèn luyện công phu”. Tác giả phân chia trình
độ đào tạo nhân lực của một quốc gia thành 7 nhóm:
Nhóm 1: nhân lực được đào tạo ở cấp trình độ sau đại học
Nhóm 2: nhân lực cán bộ công chức quản lý hành chính Nhà nước
Nhóm 3: nhân lực khoa học - công nghệ và đội ngũ giảng viên
Nhóm 4: nhân lực doanh nhân và các chuyên gia quản trị doanh nghiệp.
để tạo ra nó, vì vậy nó có một giá trị cao hơn so với sức lao động giản đơn.
Nếu giá trị của sức lao động đó cao hơn thì giá trị đó cũng biểu hiện ra một
lao động cao hơn và vì vậy, trong những khoảng thời gian bằng nhau nó sẽ
được vật hóa trong các giá trị tương đối lớn hơn). Tuy nhiên, trên thực tế
không phải tất cả những người có bằng cấp cao đều trở thành nguồn nhân lực
chất lượng cao. Nguồn nhân lực chất lượng cao không chỉ biểu hiện ở bằng
cấp cao mà quan trọng hơn là sức lao động đó được vận dụng vào thực tế sản
xuất, quản lý… phải “đem lại một hiệu quả cao nhất định”. Thông qua những
15
công việc cụ thể, biểu hiện hành vi, phương pháp tư duy vượt qua mức kỹ
năng trở thành kỹ xảo, điêu luyện và thuần thục.
Kế thừa những quan niệm trên, có thể hiểu: Nguồn nhân lực chất
lượng cao là bộ phận lao động xã hội đã qua đào tạo, có trình độ học vấn
hay chuyên môn kĩ thuật cao, có sức khỏe và phẩm chất xã hội cần thiết, đáp
ứng yêu cầu của từng ngành, lĩnh vực hoạt động.
Như vậy, nguồn nhân lực chất lượng cao phải đạt được những yêu cầu sau:
Thứ nhất, là những người lao động phải trải qua quá trình đào tạo, bồi
dưỡng ở các cấp đào tạo đáp ứng với yêu cầu công việc mà người lao động
trực tiếp tham gia hoạt động.
Thứ hai, là lực lượng lao động có trình độ học vấn hay chuyên môn kỹ
thuật cao đáp ứng yêu cầu từng ngành, lĩnh vực hoạt động.
Các tiêu chí này nói lên nguồn nhân lực chất lượng cao phải có trình
độ chuyên môn, kỹ thuật cao, có khả năng thích ứng tốt với những công
việc phức tạp và luôn thay đổi trong thời đại khoa học và công nghệ đang
phát triển nhanh như hiện nay. Điều này cũng có nghĩa là nguồn nhân lực
chất lượng cao phải có bản lĩnh nghề nghiệp để không bị động trước những
thay đổi nhanh chóng cả về nội dung và cách thức tiến hành công việc
trong thời đại toàn cầu hóa và kinh tế tri thức.
cầu về NNL chất lượng cao nói chung, bao gồm các tiêu chí về thể lực, trí lực.
Chất lượng nguồn nhân lực ngành dịch vụ du lịch là một trong những
yếu tố rất quan trọng trong phát triển ngành dịch vụ du lịch.
Trên cơ sở quan niệm về nguồn nhân lực chất lượng cao như đã
phân tích ở trên, theo tác giả, phát triển NNL chất lượng cao ngành dịch vụ du
lịch là việc nâng cao năng lực của con người về mọi mặt: kiến thức chuyên
môn, nghiệp vụ và kỹ năng, trình độ ngoại ngữ, thể lực, trí lực,… của nhân
lực chất lượng cao (hướng dẫn viên, thuyết minh viên,…) trong ngành dịch vụ
du lịch nhằm đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế. Đồng thời phân bổ, sử dụng,
khai thác và phát huy hiệu quả nhất nguồn nhân lực chất lượng cao ngành
17
dịch vụ du lịch thông qua hệ thống phân công lao động và giải quyết việc làm
để phát triển kinh tế- xã hội.
Hay nói cách khác phát triển NNL chất lượng cao ngành dịch
vụ du lịch là sự biến đổi về số lượng và chất lượng nguồn nhân lực chất
lượng cao ngành dịch vụ du lịch trên các mặt thể lực, trí lực, kỹ năng, kiến
thức và tinh thần cùng với quá trình tạo ra những biến đổi tiến bộ về cơ cấu
nguồn nhân lực chất lượng cao ngành dịch vụ du lịch.
Chủ thể phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao ngành dịch dụ du
lịch là bao gồm cả hệ thống chính trị mà trực tiếp là đảng bộ, chính quyền, Ủy
ban nhân dân thành phố Hà Nội, các cơ quan, chức năng ban ngành và nhân
dân cùng tham gia vào hoạt động bồi dưỡng lực lượng lao động hoạt động,
làm việc trong ngành dịch vụ du lịch nhằm đưa ngành dịch vụ du lịch trở
thành ngành kinh tế mũi nhọn của thành phố Hà Nội.
Mục đích phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao ngành dịch vụ du
lịch là nhằm đào tạo, bồi dưỡng lực lượng lao động có đầy đủ trình độ, năng
lực đáp ứng được với yêu cầu, nhiệm vụ của ngành dịch vụ du lịch.
1.1.4. Tiêu chí phát triển NNL CLC ngành dịch vụ du lịch
Nguồn nhân lực trực tiếp hoạt động trong ngành dịch vụ du lịch, bao gồm:
Một là, những người làm việc trực tiếp trong ngành du lịch bao gồm
toàn bộ cán bộ công nhân viên ở tất cả các bộ phận khác nhau nằm trong các
công ty du lịch, các hãng lữ hành, các doanh nghiệp kinh doanh du lịch trên
toàn quốc. Những người trực tiếp kinh doanh du lịch ở các vị trí khác nhau
của ngành kinh tế trọng điểm này của đất nước. Toàn bộ những người làm
việc ở các vị trí khác nhau trong các lĩnh vực kinh doanh dịch vụ du lịch là
những người lao động trực tiếp, bao gồm: Những người làm việc trong các
doanh nghiệp Kinh doanh lữ hành. Những người làm việc trong các doanh
nghiệp Kinh doanh lưu trú. Những người làm việc trong các doanh nghiệp
Kinh doanh vận chuyển khách du lịch. Những người làm việc trong các doanh
nghiệp Kinh doanh các dịch vụ bổ trợ. Những người làm việc trong các doanh
nghiệp Kinh doanh khu du lịch, đô thị du lịch.
19
Trong mỗi một lĩnh vực, lại có rất nhiều các vị trí khác nhau với các
nhiệm vụ và chức năng khác nhau. Tất cả những cá nhân đó được tổ chức, sắp
xếp, biên chế thành những bộ phận với cơ cấu khác nhau… Đó là những
người trực tiếp làm việc trong ngành dịch vụ du lịch. Trong nguồn nhân lực
hoạt động trực tiếp lại hình thành đội ngũ lao động chuyên nghiệp và đội ngũ
lao động thời vụ. Đội ngũ lao động thời vụ trong ngành dịch vụ du lịch
thường xuất hiện ở những nơi có hoạt động du lịch diễn ra không thường
xuyên. Ngoài những người hoạt động trực tiếp, nguồn nhân lực hoạt động
gián tiếp trong ngành dịch vụ du lịch bao gồm:
Hai là, những người làm các công việc khác nhau tại các tuyến điểm du
lịch. Tại các tuyến điểm này, để phục vụ hoạt động du lịch có rất nhiều các
công việc khác nhau đòi hỏi nhiều người làm việc trong các dịch vụ có liên
quan đến hoạt động du lịch: từ các nhân viên bảo vệ, những người bán và
kiểm soát vé, những người cung ứng các dịch vụ lưu niệm, dịch vụ ẩm thực,
du lịch.
Vì vậy, để phát triển về số lượng lao động dịch vụ du lịch đòi hỏi phát
triển các cơ sở dịch vụ du lịch, tăng cường các cơ sở lưu trú và dịch vụ ăn
uống, các sản phẩm du lịch ...
Thực chất phát triển NNL chất lượng cao ngành dịch vụ du lịch là quá
trình tăng về số lượng và nâng cao chất lượng nhằm tạo ra quy mô và cơ cấu
ngày càng phù hợp với nhu cầu về nhân lực phục vụ sự nghiệp phát triển kinh
tế - xã hội (KT-XH) .
Khi nói đến nguồn nhân lực của bất kỳ một tổ chức, địa phương
hay quốc gia nào thì vấn đề đầu tiên đặt ra là số lượng nguồn nhân lực. Nghĩa
là tổ chức, địa phương hay quốc gia có bao nhiêu người và sẽ có thêm bao
nhiêu người nữa trong tương lai. Sự phát triển về số lượng nguồn nhân lực
dựa trên hai nhóm yếu tố: yếu tố bên trong, bao gồm nhu cầu thực tế công
việc đòi hỏi phải tăng số lượng lao động; các yếu tố bên ngoài của tổ chức
như sự gia tăng về dân số hay lực lượng lao động do di dân.
Phát triển số lượng NNL CLC để luôn đảm bảo có đủ số lượng NNL
chất lượng cao theo yêu cầu công việc. Việc phát triển về số lượng NNL chất
21
lượng cao dựa trên cơ sở đáp ứng phát triển thêm về quy mô, chức năng,
nhiệm vụ của ngành dịch vụ DL Hà Nội trong giai đoạn mới. Việc phát triển
này chủ yếu thông qua việc tuyển dụng, tiếp nhận lao động hợp lý, công khai,
công bằng hướng tới mục tiêu đảm bảo số lượng NNL chất lượng cao cho
ngành, đảm bảo từng vị trí làm việc đều có cá nhân đảm bảo chất lượng theo
sự phát triển của ngành dịch vụ DL Hà Nội.
Thứ hai, phát triển về chất lượng nguồn nhân lực chất lượng cao ngành
dịch vụ du lịch.
Đi đôi với phát triển về số lượng, vấn đề phát triển chất lượng NNL
chất lượng cao cần đặc biệt được quan tâm. Chất lượng NNL chất lượng cao
nâng cao trình độ, biết tận dụng mọi cơ hội để mở rộng sự hiểu biết; có sức
khỏe tốt để hoàn thành các công việc được giao.
Thứ ba,cơ cấu nguồn nhân lực chất lượng cao ngành dịch vụ du lịch hợp lý.
Với cơ cấu lao động phân theo ngành nghề và cơ cấu lao động theo vị
trí công tác thì cơ cấu nguồn nhân lực dịch vụ du lịch bao gồm:
Cơ cấu lao động phân theo ngành nghề gồm: trong cơ sở lưu trú, vận
chuyển khách và lữ hành. Tùy thuộc vào ngành nghề mà lao động du lịch
chiếm tỉ trọng cao hay thấp. Nó ảnh hưởng đến cơ cấu nguồn nhân lực dịch
vụ du lịch. Bởi hầu hết lao động tập trung trong các cơ sở lưu trú, ở đó nhu
cầu về nguồn nhân lực là rất lớn.
Cơ cấu lao động phân theo vị trí công tác bao gồm: Quản lý kinh tế,
nghiệp vụ kỹ thuật, nghiệp vụ du lịch. Căn cứ vào trình độ chuyên môn mà
xây dựng các vị trí công tác hợp lý. Mỗi lĩnh vực có những đặc trƣng riêng
làm cho cơ cấu nhân lực dịch vụ du lịch không đồng đều.
Cơ cấu nguồn nhân lực chất lượng cao được thể hiện trên các phương
diện như: cơ cấu trình độ học vấn: trên đại học, đại học, cao đẳng; trung học
chuyên nghiệp; công nhân kỹ thuật; cơ cấu về giới tính; độ tuổi; cơ cấu lao động
trong các thành phần, các ngành, các lĩnh vực kinh tế; cơ cấu lao động trong nội
bộ ngành, lĩnh vực kinh tế ... trong nền kinh tế quốc dân.
23
Ở đây, cơ cấu nguồn nhân lực chất lượng cao hợp lý, tức là phát triển hợp
lý về số lượng, đào tạo theo cấp bậc (trình độ) phù hợp với nhu cầu thực tiễn của
các lĩnh vực, các ngành, các thành phần kinh tế, phù hợp với qui hoạch phát triển
chung của Hà Nội. Cơ cấu nguồn nhân lực chất lượng cao hợp lý sẽ tạo điều
kiện thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động theo hướng công
nghiệp hóa, hiện đại hóa trên địa bàn Thành phố Hà Nội.
Vì vậy, phát triển cơ cấu nguồn nhân lực chất lượng cao ngành dịch vụ
du lịch cần phối hợp chặt chẽ các đơn vị kinh doanh dịch vụ DL trong việc
và chất lượng NNL chất lượng cao ngành dịch vụ DL nói riêng. Cấu trúc
nguồn nhân lực biến đổi theo hướng tỷ trọng lao động thành thạo, có
chất lượng ngày càng tăng lên, lao động có tay nghề thấp ngày càng
giảm, tỷ trọng lao động chất lượng cao ngày càng chiếm nhiều hơn trong
chi phí về lao động.
Trình độ phát triển kinh tế cũng ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển
dịch vụ DL và đến lượt mình, trình độ phát triển dịch vụ DL sẽ quyết định
đến số lượng, chất lượng và xu thế phát triển của NNL ngành dịch vụ DL.
Hai là, trình độ phát triển của giáo dục đào tạo (ĐT): Nguồn nhân lực
chất lượng cao không phải tự nhiên mà có được, phải thông qua quá trình giáo
dục đào tạo lâu dài và phù hợp với yêu cầu của tiến bộ xã hội. Nguồn nhân
lực chất lượng cao ngành dịch vụ DL đòi hỏi phải đáp ứng được đa ngành, đa
lĩnh vực và phải thỏa mãn được các yêu cầu của nhà đầu tư, đặc biệt là nhà
đầu tư nước ngoài. Để đáp ứng được điều đó, lao động ngành dịch vụ du lịch
phải được đào tạo bài bản, chuyên sâu, cập nhật được kiến thức khoa học và
khả năng làm việc tại các doanh nghiệp. Giáo dục ĐT là yếu tố cấu thành
quan trọng của phát triển NNL. Chất lượng của giáo dục ĐT ảnh hưởng trực
tiếp đến chất lượng NNL, thông qua giáo dục ĐT các quốc gia hình thành
NNL của mình với trình độ ĐT, cơ cấu ngành nghề phù hợp với yêu cầu phát
triển. Trình độ phát triển của ĐT DL ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng của
NNL ngành dịch vụ DL. Sự phát triển của hệ thống giáo dục đào tạo có tác
25
động rất lớn đền nguồn nhân lực chất lượng cao ngành dịch vụ du lịch ở
Thành phố Hà Nội.
Ba là, tốc độ gia tăng dân số: Ở những nước đang phát triển, quy mô dân
số lớn, tốc độ gia tăng cao chính là lực cản đối với tốc độ tăng trưởng kinh
tế và phát triển NNL chất lượng cao. Tốc độ gia tăng dân số cao gây sức
ép lên các cơ sở hạ tầng xã hội, ảnh hưởng đến việc hoạch định các chính