BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI
--------
NGUYỄN TRẦN THANH THUỶ
TRIẾT LÝ NHÂN SINH TRONG TẾT CỔ TRUYỀN
CỦA NGƢỜI DÂN NAM BỘ
ĐỀ CƢƠNG LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC
HÀ NỘI - 2016
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI
--------
NGUYỄN TRẦN THANH THUỶ
TRIẾT LÝ NHÂN SINH TRONG TẾT CỔ TRUYỀN
CỦA NGƢỜI KHMER
Chuyên ngành : Triết học
Mã số
: 60.22.03.01
ĐỀ CƢƠNG LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: TS. TRẦN THỊ HỒNG MINH
Ngoài ra, tác giả xin chân thành cám ơn đến các vị sư sãi chùa
Khmer, người dân Khmer tỉnh An Giang đã nhiệt tình cung cấp thông tin để
tôi hoàn thành luận văn tốt.
Tác giả
Nguyễn Trần Thanh Thủy
MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU ............................................................................................................. 1
Chƣơng 1: CƠ SỞ HÌNH THÀNH TRIẾT LÝ NHÂN SINH TRONG TẾT
CỔ TRUYỀN CỦA NGƢỜI KHMER................................................. 14
1.1. Cơ sở lý luận của triết lý nhân sinh trong tết cổ truyền của người
Khmer ...................................................................................................... 14
1.2. Cơ sở thực tiễn của triết lý nhân sinh trong tết cổ truyền của người
Khmer ...................................................................................................... 20
Chƣơng 2: NỘI DUNG TRIẾT LÝ NHÂN SINH TRONG TẾT CỔ
TRUYỀN CỦA NGƢỜI KHMER.................................................... 71
2.1.Những giá trị của lễ hội Chol Chnam Thmay ........................................... 71
2.2. Một số giải pháp nhằm phát huy giá trị triết lý nhân sinh trong Tết
cổ truyền đối với đời sống tinh thần của người Khmer........................... 77
KẾT LUẬN ....................................................................................................... 82
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO .............................................................. 87
2
Nền văn hóa Việt Nam là nền văn hóa đa dạng và phong phú nhưng
thống nhất, bởi đó là nền văn hóa được hình thành từ 54 dân tộc anh em cùng
chung sống xen kẽ trên khắp dải đất hình chữ S. Nền văn hóa ấy lấy văn hóa
người Việt làm trung tâm. Do vậy, khi nghiên cứu về văn hóa Việt Nam, bên
cạnh tìm hiểu văn hóa người Việt thì việc chú trọng tìm hiểu nét văn hóa
riêng của từng dân tộc đóng vai trò vô cùng quan trọng. Hiểu được điều nay,
Đảng và Nhà nước ta đã đưa ra nhiều chính sách quan trọng trong nghiên cứu
và bảo tồn văn hóa các dân tộc, trong đó có nền văn hóa tinh thần của người
Khmer. Với tư cách là một trong những giá trị văn hóa tinh thần của người
Việt nói chung và các dân tộc anh em nói riêng thì Tết cổ truyền thực sự có
ảnh hưởng sâu rộng đến tâm thức của người Khmer, nó trở thành một phong
tục, một nét sinh hoạt văn hóa vô cùng quan trọng và không thể thiếu của
cộng đồng dân cư nơi đây. Tết không chỉ là phong tục đẹp, mang nhiều hoạt
động, chứa đựng nhiều ý nghĩa tốt đẹp và đậm đà bản sắc dân tộc mà nó còn
là một bộ phận cấu thành văn hóa truyền thống của dân tộc Việt. Ở mỗi vùng
miền khác nhau thì phong tục tết cũng khác nhau, tuy nhiên vẫn mang một ý
nghĩa chung: Tết là dịp để gia đình, họ hàng, làng xóm sum họp, đoàn tụ,
thăm hỏi, cầu chúc cho nhau một năm mới bình an, hạnh phúc; là một hình
thức sinh hoạt văn hóa không thể thiếu trong đời sống của con người. Triết lý
nhân sinh là quan điểm, quan niệm của con người về chính con người và cuộc
sống của họ, về mối quan hệ của bản thân con người với gắn liền với tín
ngưỡng là phong tục. Đó là những thói quen ăn sâu vào đời sống xã hội từ rất
lâu đời, được đại đa số mọi người thừa nhận và làm theo. Phong tục có trong
mọi mặt đời sống, trong đó Tết cổ truyền là một trong những nhóm chủ yếu
của phong tục. Việc nghiên cứu, tìm hiểu triết lý nhân sinh trong Tết cổ
truyền của người Khmer chính là góp phần gìn giữ, phát huy những giá trị văn
các ngày lễ trong năm, sự thờ cúng ông Tà, phụ nữ xưa và nay, cưới hỏi, tang
lễ, tôn giáo và các mặt khác về văn hóa – giáo dục, kinh tế… Lê Hương còn
4
dịch tác phẩm Chân Lạp phong thổ ký của Châu Đạt Quan. Ông Châu Đạt
Quan, hiệu là Thảo Đình Di Dân, quê ở Vĩnh Gia, Huyện Ôn Châu, tỉnh Triết
Giang, Trung Hoa. Năm thứ 2 niên hiệu Nguyên Trinh (Bính Thân 1296),
triều vua Thành Tông (1295-1308) nhà Nguyên (1277-1368) ông theo một
phái đoàn sứ giả sang Cao Miên dưới triều vua Cindravarman (1295-1307),
ông ở đất Cao Miên hơn một năm, ghi những điều mắt thấy, tai nghe về cuộc
du hành xuyên qua miền Nam Việt Nam ngày nay, về mọi phương diện sinh
hoạt của người bổn xứ - đây là quyển sách duy nhất mô tả vùng Angkol , đế
đô nước Cao Miên ngày xưa giữa thời cực thịnh. Trong tác phẩm “Nếp cũ con
người Việt Nam”, “Tín ngưỡng Việt Nam uyển thượng”, “Phong tục thờ cúng
trong gia đình Việt Nam”, tác giả Toan Ánh đã viết về phong tục tập quán của
người Việt Nam, ngoài ra tác giả còn nghiên cứu về lễ cưới, tang của các dân
tộc thiểu số trong đó có người Khmer.
2.2. Những công trình nghiên cứu sau năm 1975
Sau năm 1975, việc nghiên cứu văn hóa Khmer được các nhà khoa học
Việt Nam chú ý nhiều hơn. Các học giả đã đi sâu nghiên cứ về người Khmer
trên nhiều bình diện như: tín gưỡng dân gian, tôn giáo, lễ hội, cưới xin, tang
ma, văn học nghệ thuật, âm nhạc, kiến trúc, ngành nghề thủ công, nhà ở…
Trong các công trình nghiên cứu đó phảo kể đến tập sách “Văn hóa người
Khmer vùng đồng bằng sông Cửu Long”, và tập sách “Tìm hiểu vốn văn hóa
dân tộc Khmer Nam Bộ”, là những công trình khảo sát dân tộc học có giá trị,
đã đề cập khá đầy đủ về người Khmer ở vùng đồng bằng sông Cửu Long: tín
ngưỡng, tôn giáo, lễ hội, phong tục tập quán, văn học nghệ thuật, âm nhạc và
biểu diễn nghệ thuật tạo hình, giao lưu văn hóa. Tác giả Trần Văn Bổn (1999)
Công trình nghiên cứu “Văn hóa dân tộc các Tây Nam Bộ - thực trạng
và các vấn đề đặt ra” do Giáo sư Tiến sĩ Trần Xuân Bính chủ biên(2004), đã
đánh giá, phân tích toàn diện, khách quan về thực trạng đời sống văn hóa của
một số dân tộc thiểu số vùng Tây Nam Bộ trong công cuộc đổi mới; đồng thời
6
dự báo xu hướng, đề xuất các giải pháp vừa cơ bản, vừa cấp bách nhằm tiếp
tục phát triển đời sống văn hóa các dân tộc trên địa bàn dưới tác động của quá
trình thực hiện sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước theo định
hướng xã hội chủ nghĩa.
“Tôn giáo tín ngưỡng của các cư dân vùng đồng bằng sông Cửu Long”
của tác giả Nguyễn Mạnh Cường, Nguyễn Minh Ngọc (2005) và “Vài nét về
người Khmer Nam Bộ” đã phát họa về tôn giáo, tín ngưỡng dân gian của bốn
tộc người Kinh, Chăm, Hoa, Khmer ở đồng bằng sông Cửu Long, đặc biệt đi
sâu nghiên cứu những dấu ấn văn hóa tôn giáo của người Khmer theo hai
mức: tín ngưỡng và văn hóa truyền thống, còn tôn giáo chính là Phật giáo
Tiểu thừa (Theravada).
Trong bài viết “Lễ hội và nguồn truyện dân giang của người Khmer
Nam Bộ” tác giả Nguyễn Chí Bền (1992) đã đề cập đến ba dạng lễ hội của
người Khmer: dạng gắn với sinh hoạt cộng đồng, dạng gắn với nghi lễ tôn
giáo, dạng gắn bó với cá nhân đời người, trong đó lễ hội gắn với sinh hoạt
cộng đồng và đời người thường gắn với nguồn truyện dân gian.
Hồ Hiệp Việt (2001): “Tính cách Nam Bộ với quá trình hình thành và
phát triển ý thức pháp luật”. Bài viết phân tích yếu tố văn hóa địa phương và
tác động của nó tới việc xây dựng ý thức pháp luật của cư dân Nam bộ.
Những yếu tố chi phối đến sự hình thành thói quen, lối sống, phong tục tập
quán, cách tư duy và ứng xử của người dân Nam bộ từ xưa đến nay.
Dương Văn Chăm (2009): “Văn hóa pháp lý và đặc điểm truyền thống
tiêu “xây dựng một nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc”. Văn hóa
là sợi chỉ đỏ xuyên suốt toàn bộ lịch sử của dân tộc, nó làm nên sức sống
mãnh liệt, giúp cộng đồng dân tộc Việt Nam vượt qua biết bao sóng gió và
thác ghềnh tưởng chừng không thể vượt qua được, để không ngừng phát triển
và lớn mạnh.
Trần Ngọc Thêm (2000), Tìm về bản sắc Văn hóa Việt Nam. Nxb.
8
TPHCM. Tác giả cho rằng: nếu như văn hóa là tổng thể các hệ thống tín hiệu
khổng lồ mang tính thiết chế xã hội bao trùm lên mọi hoạt động của cộng
đồng người, thì ngôn ngữ là một hệ thống tín hiệu quan trọng bậc nhất được
xây dựng dựa trên năng lực đặc biệt chỉ có ở hoạt động có ý thức của con
người: năng lực biểu trưng hóa (symbolizing). Như vậy, ngôn ngữ vừa là
công cụ của tư duy và công cụ giao tiếp chủ yếu, vừa là phương tiện của văn
hóa làm tiền đề cho văn hóa phát triển. Mối quan hệ hữu cơ giữa ngôn ngữ và
các khía cạnh khác của văn hóa gần gũi tới mức không một bộ phận nào thuộc
về văn hóa của một cộng đồng người nhất định lại có thể nghiên cứu tách rời
khỏi các biểu trưng ngôn ngữ trong hoạt động của chúng. Nhờ xác lập được
cho mình một hệ phương pháp tiếp cận rất có hiệu quả, đặc biệt là phương
pháp hệ thống - cấu trúc của loại hình học động, ngôn ngữ học đã trở thành
một ngành mũi nhọn trong khoa học nhân văn.
Trường Đại học Sư phạm Hà Nội – khoa Triết (2016), Triết lý nhân
sinh trong văn hóa Việt Nam, Nxb. Lý luận chính trị. Tài liệu nghiên cứu,
phân tích Đạo làm người là triết lý nhân sinh, phương châm sống của con
người, trả lời câu hỏi: “Con người phải sống thế nào cho phải (Đạo)?”. Để có
Đạo làm người, trước hết mỗi người phải hoàn thành bổn phận, nghĩa vụ,
trách nhiệm của con người đối với gia đình là đạo Hiếu, người công dân đối
với đất nước đó là đạo Trung. Yêu nước là tiêu chí hàng đầu của đạo làm
Quyển sách giới thiệu khái quát về thời tiền sử khi con người xuất hiện
trên vùng đất Nam Bộ và chủ yếu bắt đầu từ văn hóa Óc Eo với nước Phù
Nam, nghĩa là từ khi Nhà nước đầu tiên ra đời trên vùng đất này vào đầu Công
nguyên. Trong thời cổ đại, trên lãnh thổ Việt Nam hiện nay, xuất hiện ba trung
tâm văn hóa dẫn đến sự hình thành những nhà nước sơ khai vào loại sớm nhất
ở Đông Nam Á là: trung tâm văn hóa Sa Huỳnh và nước Lâm Ấp (Chămpa) ở
miền Trung, trung tâm văn hóa Óc Eo và nước Phù Nam ở miền Nam.
Vi Hồng Nhân (2004), Văn hóa các dân tộc thiểu số thừ một góc nhìn,
Nxb. Văn hóa dân tộc, Hà Nội. tác giả giới thiệu tổng quan góc tiếp cận về
10
văn hóa các dân tộc thiểu số trong văn hóa Việt Nam “thống nhất mà đa
dạng”, “tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc”; công tác quản lý văn hóa – thông
tin ở vùng dân tộc thiểu số và vùng núi.
Viện Văn hóa (1988), Tìm hiểu vốn văn hóa dân tộc Khmer Nam Bộ,
Nxb. Tổng hợp Hậu Giang. Quyển sách khái quát, giới thiệu chung về nền
văn hóa, văn nghệ của người Khmer đồng bằng song Cửu Long. Đồng thời,
giới thiệu tộc người Khmer ở đồng bằng sông Cửu Long trên các mặt: dân số
- địa bàn cư trú, tổ chức xã hội, sản xuất nông nghiệp, chữ nói – chữ viết, giao
lưu văn hóa. Những giá trị tinh thần truyền thống mà người Khmer đồng bằng
song Cửu Long đã sáng tạo và xây dựng đang được các ngành khoa học khai
thác, đánh giá.
Trung tâm nghiên cứu khoa học và xã hội (2003), Kỷ yếu Hội thảo Văn
hóa Khmer Nam bộ, Cần Thơ. Người Khmer sống rải rác ở hầu hết các tỉnh
Tây Nam bộ. Về tổ chức xã hội chủ yếu hoạt động theo chế độ tự quản; chế
độ mẫu hệ vẫn còn để lại nhiều ành hường rõ rệt; trình độ dân trí và kinh
nghiệm sản xuất còn thấp; người dân Khmer sống thuần phác, nhân hậu, tuyệt
đại bộ phận đi theo Phật giáo lấy ngôi chùa để thỏa mãn nhu cầu tinh thần.
Duy Đức), “Đời sống văn hóa đồng bào Khmer Trà Vinh và các giải pháp”
(Tác giả Sơn Wênh - Phó Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Trà Vinh), “Đời sống văn
hóa và xu hướng phát triển văn hóa của dân tộc Khmer Tây Nam Bộ” (Nhà
nghiên cứu Trịnh Thới Cang), “Tín ngưỡng, tôn giáo trong các dân tộc
Khmer, Chăm và Hoa ở Việt Nam hiện nay” (TS. Ngô Hữu Thảo - Phó Giám
đốc Trung tâm khoa học về tín ngưỡng, tôn giáo, Học Viện Chính trị quốc gia
Hồ Chí Minh), “Bảo tồn và phát huy truyền thống văn hóa của dân tộc Khmer
ở tỉnh An Giang trong sự nghiệp đổi mới hiện nay” (Ths. Phạm Văn Sơn –
Giảng viên trường chính trị Tôn Đức Thắng).
Tổng hợp các nghiên cứu như đã trình bày ở trên cho thấy đã có một
vài công trình nghiên cứu về giá trị văn hóa của người Khmer, đặc biệt là
nghiên cứu tổng quan về dân tộc và tôn giáo. Song song đó, các công trình
khoa học được nghiên cứu bên trên đã cung cấp những tư liệu quý cho chúng
12
tôi khi nghiên cứu về những vấn đề đặt ra trong việc nghiên cứu giá trị của
triết lí nhân sinh trong tết cổ truyền của người dân Khmer. Tuy nhiên, các
công trình mới chỉ bàn luận đến những vấn đề liên quan tới đề tài, chưa có
công trình nào nghiên cứu chuyên sâu, độc lập, hệ thống về triết lí nhân sinh
trong Tết cổ truyền của người Khmer. Đây là một khoảng trống đòi hỏi tác
giả đi sâu nghiên cứu, làm sáng rõ.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
- Về mục đích nghiên cứu: Luận văn có mục đích nghiên cứu làm rõ
những vấn đề lý luận về triết lý nhân sinh của người Khmer trong tết cổ
truyền, từ đó đề ra một số giải pháp thiết thực nhằm bảo tồn và phát huy
những giá trị truyền thống của dân tộc.
- Về nhiệm vụ nghiên cứu:
Để thực hiện mục đích trên, luận văn có nhiệm vụ:
cuộc sống sẽ góp phần gìn giữ và phát huy giá trị truyền thống tết cổ truyền
của dân tộc Việt Nam nói chung và người Khmer nói riêng trong xã hội hiện
đại.
8. Những luận điểm cơ bản và đóng góp mới của luận văn
8.1. Những luận điểm cơ bản
Văn hóa Tết của người Khmer hàm chứa triết lý nhân sinh sâu sắc,
thắm đượm tình người. Vì vậy, nó có một vị trí, vai trò và giá trị to lớn không
thể thay thế trong đời sống tinh thần của người Khmer nói riêng và trong văn
hóa của dân tộc ta nói chung.
8.2. Đóng góp mới của luận văn
- Luận văn làm rõ những đặc điểm, tính chất riêng biệt của người
Khmer và ảnh hưởng của nó đến tết cổ truyền.
- Làm rõ một số khía cạnh nhân sinh trong Tết cổ truyền của người
Khmer.
14
- Xác lập cơ sở khoa học làm luận chứng cho việc nghiên cứu, bảo tồn
và phát huy các giá trị truyền thống của dân tộc trong bối cảnh đất nước ta
đang ở trong xu thế toàn cầu hóa của thế giới. Góp phần nâng cao nhận thức
của lớp trẻ về văn hóa truyền thống của mỗi vùng miền và góp phần giúp cho
lãnh đạo địa phương trong việc quản lý, hoạch định chính sách để bảo tồn và
phát triển văn hóa cổ truyền dân tộc.
- Ở mức độ nhất định luận văn có thể giúp ích về mặt lý luận cho công
tác bảo tồn và phát huy những giá trị văn hóa cổ truyền của người Khmer nói
riêng và dân tộc Việt Nam nói chung.
9. Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục,
nội dung chính của luận văn được bố cục làm 2 chương và 4 tiết.
còn là những tư tưởng, quan điểm phản ánh bản chất của các mối quan hệ
diễn ra trong đời sống sinh hoạt mọi mặt của cá nhân hay cộng đồng theo
hướng khẳng định niềm tin, giá trị, đạo lý có tác dụng chỉ đạo cho cách ứng
xử, phương châm sống, suy nghĩ hành động của con người trong những hoàn
cảnh nhất định. Nói cách khác, triết lý là kết quả của sự suy ngẫm, chiêm
nghiệm và đúc kết thành những quan điểm và luận điểm, phương châm cơ bản
và cốt lõi nhất về cuộc sống cũng như những hoạt động thực tiễn rất đa dạng
của con người trong xã hội. Chúng có vai trò định hướng trực tiếp ngược trở
lại đối với cuộc sống cũng như trong hoạt động thực tiễn.
Triết lý được thể hiện ở nhiều lĩnh vực khác nhau của cuộc sống, có
triết lý nhân sinh, triết lý về vũ trụ, triết lý lịch sử, triết lý kinh tế, triết lý đạo
đức, triết lý pháp luật…
Theo Từ và ngữ Việt Nam, triết lý nhân sinh được hiểu như sau:
Nhân sinh (Nhân: người; Sinh: sống) là cuộc sống của người ta. Nhân sinh
quan (Quan: xem xét) là lập trường của một người trong việc nhân xét mọi
mặt của cuộc sống, nhân sinh quan tức là quan niệm về sự sống con người. Từ
16
cách lý giải trên, triết lý nhân sinh là những quan niệm, quan điểm chung của
một người, một cộng đồng người trong việc xem xét mọi mặt của cuộc sống,
là tâm tư tình cảm, ước mơ, khát vọng, lý tưởng sống của con người.
Triết lý nhân sinh theo nghĩa rộng là những quan niệm về cuộc
sống của con người: Lẽ sống của con người là gì? Mục đích, ý nghĩa, giá trị
cuộc sống con người ra sao và sống như thế nào cho xứng đáng?
Triết lý nhân sinh theo nghĩa hẹp chính là hệ thống quan điểm của
con người về bản thân, về mối quan hệ của bản thân con người với tự nhiên
và mối quan hệ của con người với con người trong xã hội ấy.
Triết lý nhân sinh thể hiện nhu cầu, lợi ích, khát vọng, hoài bão,
người – sinh vật có lý trí, có óc phê phán và có sự cam kết về mặt đạo đức.
Chính nhờ văn hóa mà con người tự thể hiện, tự ý thức được bản thân, nhận ra
sự thiếu hoàn thiện của mình, xem xét những thành tựu của mình, tìm kiếm
không mệt mỏi những ý nghĩa mới mẻ và sáng tạo nên những công trình vượt
quá các giới hạn của mình”.
1.1.1.2. Tết cổ truyền
Theo giáo sư Trần Quốc Vượng, “Cái Tết” (Nguyên đán; Cổ
truyền) như hiện nay bắt đầu khoảng trước công nguyên hơn 100 năm, từ đời
Hán và có cội nguồn đan xen văn hóa Việt – Hán.
Việt Nam cũng như một số nước Châu Á, xưa cũng như nay ăn tết
theo lịch âm, nói chính xác hơn là lịch âm dương. Trong số 10 cái tết của một
năm, Tết Nguyên đán là cái tết lớn nhất, kéo dài thời gian nhất, nhiều hoạt
động nhất và chứa đựng nhiều ý nghĩa tốt đẹp nhất, đồng thời cũng mang đạm
đà bản sắc dân tộc nhất. Vì vậy mà nhân dân ta gọi cái tết này là “Tết ta”,
“Tết cả”.
Tết có ý nghĩa là “tiết”. Tiết là tiết trời, là một khoảnh khắc thời
gian đánh dấu sự vận chuyển của tự nhiên trong bốn mùa của một năm.
Người Việt thường tổ chức tết theo chu kỳ mùa vụ. Một năm có
18
nhiều tiết do đó cũng có nhiều tết. Có tết to đánh dấu sự chuyển giao của một
năm và tết bé đánh dấu khoảnh khắc quan trọng của một mùa.
Ở Việt Nam xưa kia, vào mùa xuân có Tết Nguyên đán đón năm
mới được tổ chức lớn nhất theo cả quy mô không gian và thời gian. Từ ngàn
năm nay việc tổ chức Tết Nguyên đán đã trở thành phong tục, tập quán, là nét
đẹp trong đời sống văn hóa tinh thần, thể hiện rõ triết lý nhân sinh của người
Việt.
Quy mô của tết được thể hiện trong sự chuẩn bị và nghi lễ tổ chức.
Phật, chính điện, cổng chào được sơn son thiếp vàng, khuôn viên chùa trang
hoàng lộng lẫy. Đêm giao thừa nhà nhà đều thắp nhang, đèn, làm lễ đưa
Têvêđa cũ và rước Têvêđa mới. Têvêđa, theo người Khmer là vị tiên được
trời sai xuống để lo cho dân chúng trong một năm. Sau đó, mọi nghi thức
quan trọng đón Tết đều diễn ra tại chùa. Gia đình nào có con trai đến tuổi đi
tu thì dẫn vào chùa làm lễ thí phát, quy y. Nhiều nhà còn ở trong chùa suốt
những ngày Tết. Dưới mái chùa chung của cả phum sóc, mọi người đều
hướng lòng thành kính về Đức Phật, tưởng nhớ đến ông bà tổ tiên và đặt hy
vọng vào một năm mới an lành. Trong những ngày hội Xuân, tại trên 450
điểm chùa ở Nam Bộ lúc nào cũng tưng bừng, náo nhiệt. Từng đoàn người
với những bộ quần áo sặc sỡ, nét mặt vui tươi, trên tay cầm nhang đèn, hoa
quả vào chùa. Ngày đầu tiên là, lễ rước Sâng Kran, rồi vào lễ Phật, đọc kinh
mừng năm mới. Ngày thứ hai, phật tử dâng cơm cho các vị sư và đắp núi cát.
Các vị sư đọc kinh cầu siêu cho người đã mất và cầu an cho người còn sống.
Ngày thứ ba là lễ tắm tượng Phật và tắm cho các vị sư cao niên. Đối với các
lễ hội Khmer, tôn giáo, tín ngưỡng.
Phật giáo như hòa quyện vào đời sống của các thiện tính, thể hiện
qua truyền thuyết và nghi thức thờ phụng. Lễ rước Sâng Kran trong Tết Chol
Chnam Thmay của người Khmer bắt nguồn từ một truyền thuyết của Phật
giáo, đó là chuyện Thom Ma Bal và Kabil Maha Prum – còn gọi là “Thần
20
Bốn mặt”. Lễ cần an trong ngày Tết.
Vào ngày đầu năm mới thay vì rước đầu “Thần Bốn mặt”, người
Khmer rước Maha Sâng Kran (Đại nông lịch) đi vòng quanh chính điện 3 lần.
Đầu “Thần Bốn mặt” được thờ trong chùa Khmer. Tục “Đắp núi cát” cũng là
một nghi thức không thể thiếu trong Têt Chol Chnam Thmay của người
Khmer. Cát sạch được đổ thành từng đống quanh đền thờ Phật, chung quanh