Phát triển cộng đồng đối với người nghèo trong giảm nghèo bền vững từ thực tiễn huyện ba chẽ, tỉnh quảng ninh - Pdf 42

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

HÀ VĂN KHÁNH

PHÁT TRIỂN CỘNG ĐỒNG ĐỐI VỚI NGƯỜI
NGHÈO TRONG GIẢM NGHÈO BỀN VỮNG TỪ
THỰC TIỄN HUYỆN BA CHẼ, TỈNH QUẢNG NINH

Chuyên ngành: Công tác xã hội
Mã số: 60.90.01.01

LUẬN VĂN THẠC SĨ CÔNG TÁC XÃ HỘI

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS. PHẠM TIẾN NAM

HÀ NỘI – 2017


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn với đề tài “Phát triển cộng đồng đối với người
nghèo trong giảm nghèo bền vững từ thực tiễn huyện Ba Chẽ, tỉnh Quảng Ninh”
(Nghiên cứu thực hiện tại địa bàn huyện Ba Chẽ, tỉnh Quảng Ninh) là đề tài nghiên
cứu của riêng tôi. Các kết quả nghiên cứu và số liệu trong luận văn này là trung
thực và không trùng lặp với các đề tài khác.
Tác giả đề tài
Học viên

Hà Văn Khánh

DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1. Thống kê đặc điểm giới tính của các hộ nghèo. ......................................40
Bảng 2.2. Thống kê đặc điểm độ tuổi của các hộ nghèo...........................................40
Bảng 2.3. Thống kê đặc điểm trình độ học vấn ........................................................41
Bảng 2.4. Thống kê đặc điểm về qui mô gia đình ....................................................42
Bảng 2.5. Cơ cấu nghề nghiệp của các hộ nghèo......................................................42
Biểu 2.6. Thu nhập bình quân hàng tháng ................................................................43
Biểu 2.7. Sự tham gia của hộ nghèo trong các tổ chức đoàn thể .............................44
Bảng 2.8. Hình thức của hoạt động tuyên truyền, nâng cao nhận thức ....................46
Biểu đồ 2.9. Nội dung của hoạt động tuyên truyền, nâng cao nhận thức .................48
Biểu đồ 2.10. Sự tham gia của người dân trong hoạt động tuyên truyền, nâng cao
nhận thức ...................................................................................................................49
Biểu đồ 2.11. Huy động nguồn lực trong hoạt động tuyên truyền, nâng cao nhận
thức ............................................................................................................................50
Biểu đồ 2.12. Hoạt động kết nối các dịch vụ sản xuất ..............................................52
Biểu đồ 2.13. Tỷ lệ những hộ được biết về các hình thức kết nối sản xuất. .............54
Biểu đồ 2.14. Sự tham gia của người dân vào hoạt động kết nối sản xuất ...............55
Biểu đồ 2.15. Huy động nguồn lực từ cộng đồng cho hoạt động tuyên truyền, nâng
cao nhận thức. ...........................................................................................................56
Biểu đồ 2.16. Tỷ lệ tiếp cận các dịch vụ xã hội. .......................................................58
Biểu 2.17. Mức độ tham gia của người dân trong các dịch vụ xã hội trong giảm
nghèo bền vững. ........................................................................................................59
Biểu 2.18. Mức độ huy động nguồn lực cộng đồng đối với các dịch vụ xã hội Error!
Bookmark not defined.2
Biểu 2.19. Mức độ tác động của các dịch vụ xã hội đến gia đình ..........................612
Bảng 2.20. Các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động phát triển cộng đồng ................634


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài


Ở Quảng Ninh, chương trình mục tiêu quốc gia về giảm nghèo luôn được coi
là nhiệm vụ trọng tâm trong tổng thể phát triển kinh tế xã hội của tỉnh. Sau nhiều
năm thực hiện, đặc biệt 5 năm thực hiện Chương trình giảm nghèo giai đoạn 20112015, kết quả giảm nghèo trên địa bàn Tỉnh đã thu được những thành công nhất
định, được thể hiện rõ nét bằng sự quan tâm, quyết tâm của Đảng bộ, chính quyền
và nhân dân các dân tộc trên địa bàn Tỉnh, cụ thể: tỷ lệ hộ nghèo giảm từ 7,68%
xuống còn 1,33% (giai đoạn 2011-2015), giảm 6,35%, bình quân mỗi năm giảm
1,27%. Số hộ nghèo từ 23.050 hộ giảm xuống còn 4.460 hộ, giảm 18.590 hộ, bình
quân mỗi năm giảm 3.718 hộ [2]. Bên cạnh những kết quả đạt được vẫn còn những
tồn tại, khó khăn như tỷ lệ hộ tái nghèo còn khá cao, tư tưởng ỉ lại vào nhà nước,
cộng đồng vẫn còn hiệu hữu trong suy nghĩ của người dân…sự chênh lệch lớn giữa
khu vực thành thị và nông thôn tương đối lớn và khó có khả năng san bằng trong
10-15 năm tới, cụ thể; khu vực thành thị chỉ có 3.107 hộ nghèo, chiếm tỷ lệ 1,03%
tuy nhiên khu vực nông thôn số hộ nghèo lên tới 19.943 hộ, chiếm tỷ lệ 6,65%[3].
Đây được coi là một trong những rào cản trong tiến trình xây dựng tỉnh Quảng Ninh
trở thành Tỉnh dịch vụ - công nghiệp vào năm 2020, như Đại hội Đảng bộ tỉnh
Quảng Ninh lần thứ XIV, nhiệm kỳ 2015- 2020 đã đề ra [9].
Ba Chẽ là huyện miền núi nằm ở phía Đông Bắc của tỉnh Quảng Ninh, địa
hình rộng lớn với diện tích đất tự nhiên lên tới 60.855,56 ha, trong đó đất lâm
nghiệp 48.954,48 ha, chiếm tới hơn 80% diện tích đất tự nhiên (số diện tích đất có
rừng là 20.603,36 ha, chiếm 42% diện tích đất lâm nghiệp), còn lại là các loại đất
khác. Địa giới hành chính gồm 07 xã và 01 thị trấn, với dân số là 20.620 người, có
tỷ lệ người dân tộc thiểu số cao, chiếm 80% dân số toàn huyện. Toàn huyện có 7/8
xã thuộc vùng khó khăn, trong đó có 5 xã thuộc diện xã đặc biệt khó khăn thuộc
diện hỗ trợ đầu tư thuộc Chương trình 135 năm 2014 và năm 2015 (theo Quyết định
số 2405/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, ban hành ngày 10/12/2013); vị trí địa
lý của huyện tương đối bị cô lập, việc đi lại, giao thương kinh tế còn gặp nhiều khó
khăn…Đây là 01 trong 02 địa phương có xuất phát điểm về kinh tế thấp và tỷ lệ
nghèo cao nhất Tỉnh.


thống các khuyến nghị trong các nghiên cứu rất phong phú và đa dạng.“Nghèo đói”
luôn luôn là vấn đề “Nóng” của mỗi quốc gia, vùng lãnh thổ đặc biệt là những quốc
gia đang phát triển, chính vì vậy vấn đề này đã thu hút được số lượng lớn các nhà
3


khoa học tham gia nghiên cứu ở nhiều lĩnh vực, khía cạnh của đời sống xã hội nơi
mà vấn đề “Nghèo đói” còn tồn tại.
Cho đến nay ở Việt Nam đã có nhiều công trình nghiên cứu đã đề cập đến vấn
đề xoá đói giảm nghèo (XĐGN), trong đó có các công trình mang tầm vóc quốc tế:
Nhóm các công trình nghiên cứu chung về giảm nghèo ở Việt Nam
- Các tác giả Do Hoai Nam, Gre Mills, Dianna Games (2007) với cuốn
“Vietnam and Africa: Comparaive lessons and mutual opportunities” (Việt Nam và
Châu Phi: So sánh các bài học kinh nghiệm và cơ hội) đã nghiên cứu về cơ hội và
kinh nghiệm trong phát triển nông nghiệp và an ninh lương thực ở Việt Nam và
Châu Phi, vai trò của tăng trưởng kinh tế trong XĐGN cũng như phân tích về nguồn
vốn viện trợ phát triển và sự tận dụng hiệu quả nguồn vốn viện trợ (ODA) đối với
các quốc gia này [10].
Cơ quan hợp tác phát triển quốc tế Thụy Điển (SIDA) (1995), có đề cập
trong cuốn “Vấn đề nghèo ở Việt Nam” một định nghĩa rất rộng về cái nghèo, đã đi
sâu phân tích tình hình nghèo của các nhóm nghèo ở Việt Nam, đánh giá những tác
động của công cuộc đổi mới đến người nghèo gắn liền với các vấn đề y tế, giáo dục,
tín dụng…đưa ra một số vấn đề có ý nghĩa chiến lược cần xem xét để nâng cao hiệu
quả giảm nghèo ở Việt Nam [19].
Oxfam: “Mô hình giảm nghèo tại một số cộng đồng dân tộc thiểu số điển
hình ở Việt Nam”, Hà Nội - 2013. Nghiên cứu của Oxfam đã chỉ ra một số mô hình
sinh kế cho người nghèo ở vùng kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn gắn với các nét
văn hóa truyền thống của đồng bào dân tộc, đồng thời chỉ ra các yếu tố xã hội và
chiến lược sinh kế đối với mô hình giảm nghèo thành công tại các cộng đồng dân
tộc thiểu số ở vùng kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn. Nghiên cứu cũng đưa ra

triển kinh tế - xã hội. Đối với Tây Bắc, xóa đói giảm nghèo có tác động và vai trò
thúc đẩy quá trình phát triển kinh tế - xã hội. Hiệu quả của xóa đói giảm nghèo càng
cao thì vai trò của nó đối với phát triển kinh tế - xã hội càng lớn. Đồng thời nghiên
cứu cũng chỉ ra nguyên nhân nghèo đói là tác nhân làm cản trở quá trình phát triển
kinh tế - xã hội: Tây Bắc nghèo đói nổi bật lên là đặc điểm nghèo đói của đồng bào
dân tộc thiểu số với những tập tục thói quen sản xuất nhỏ lạc hậu. Sự tụt hậu vì
nghèo đói của Tây Bắc với phần lớn là đồng bào dân tộc thiểu số do khả năng tiếp
cận với các điều kiện của phát triển hạn chế… nên đã cản trở quá trình phát triển.
5


Do đó xóa đói giảm nghèo là tất yếu trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội, đẩy
mạnh xóa đói giảm nghèo và thực hiện giảm nghèo bền vững là góp phần thúc đẩy
phát triển nhanh và bền vững ở các tỉnh Tây Bắc Việt Nam [11].
Tác giả Nguyễn Thị Hoa (2011) với đề tài nghiên cứu“Hoàn thiện các chính
sách xoá đói giảm nghèo chủ yếu của Việt Nam đến 2015” nghiên cứu chỉ ra rằng
đến nay chưa có một nghiên cứu nào đưa ra được một khung lý thuyết hoàn thiện
chính sách, đặc biệt là đánh giá chính sách XĐGN hoàn chỉnh. Về thực tiễn, các cá
nhân hay các tổ chức phi chính phủ và nhà tài trợ dù đã thực hiện nhiều nghiên
cứuvề đói nghèo nhưng liên quan đến đánh giá chính sách XĐGN lại rất hạn chế.
Nếu có thì cũng chỉ là chính sách riêng lẻ hoặc tập trung vào một số chính sách
chính thì lại bị hạn chế về thời điểm đánh giá. Đặc biệt chưa có một nghiên cứu nào
vừa đánh giá đồng thời nhiều chính sách trong suốt ba giai đoạn của chương trình
XĐGN (từ năm 1998 đến nay) phục vụ cho công tác hoạch định chính sách XĐGN
đến năm 2015 [6].
Tác giả Nguyễn Thị Thanh Huyền (năm 2013) với đề tài nghiên cứu “Tác
động của hội nhập quốc tế tới bất bình đẳng thu nhập nông thôn - thành thị tại Việt
Nam” Luận án đã chỉ ra hội nhập có tác động đến bất bình đẳng thu nhập nông thôn
– thành thị tại Việt Nam. Đặc biệt, các nhóm tỉnh có mức độ hội nhập sâu có kết
quả chung với cả nước, cụ thể xuất khẩu/GDP càng tăng càng làm giảm bớt chênh

Nghiên cứu “Phát triển cộng đồng đối với người dân tộc Dao trong xóa đói
giảm nghèo từ thực tiễn xã Hồ Thầu, huyện Tam Đường, tỉnh Lai Châu” của tác giả
Nguyễn Thị Hồng Nga (2016) làm rõ thêm thực trạng nghèo và các vấn đề chung
trong thực hiện giảm nghèo, cũng như hạn chế trong thực hiện phát triển cộng đồng
đối với hộ nghèo. Tác giả cũng đã đưa ra một số giải pháp nhằm thực hiện hiệu quả
hơn mục tiêu giảm nghèo tại cộng đồng, từ đó giúp người nghèo tiếp tục khai thác
những thế mạnh sẵn như điều kiện tự nhiên, cơ sở hạ tầng cũng như các giá trị bản
địa như văn hóa, đặc sản, đặc biệt tác giả đã đưa ra một số các kết nối dịch vụ và
các giải pháp hỗ trợ tín dụng cho người nghèo, các chính sách hỗ trợ đào tạo nghề,
hỗ trợ việc làm…từ đó giúp người nghèo có thêm điều kiện sản xuất vươn lên thoát
nghèo [12].
Tác giả Nguyễn Thu Thủy (2016) với nghiên cứu “Phát triển cộng đồng đối
với người dân tộc thiểu số trong giảm nghèo bền vững từ thực tiễn huyện Bình Liêu,
tỉnh Quảng Ninh” . Trong nghiên của của mình, tác giả đã đưa ra lý luận về người
7


dân tộc thiểu số trong thực hiện chương trình giảm nghèo bền vững, cũng như trong
hoạt động phát triển cộng đồng đối với người dân tộc thiểu số trong giảm nghèo bền
vững, trong đó đã áp dụng một số lý thuyết vào trong nghiên cứu, các yếu tố ảnh
hưởng và cơ sở pháp lý của phát triển cộng đồng trong giảm nghèo bền vững. Bên
cạnh đó đưa ra một số giải pháp trong các hoạt động phát triển cộng đồng; đó là:
tuyên truyền, nâng cao nhận thức; hỗ trợ sinh kế; hỗ trợ cung cấp dịch vụ xã hội cơ
bản (giáo dục, nước sạch và vệ sinh, nhà ở, y tế, tiếp cận thông tin ....) để nâng cao
đời sống của đồng bào dân tộc thiểu số trong hoạt động giảm nghèo bền vững [16].
Từ những kết quả nghiên cứu trên có thể thấy, các công trình nghiên cứu
trên đều đề cập đến vấn đề đói nghèo dưới các góc độ khác nhau cả về lý luận và
thực tiễn, các công trình đó đều nghiên cứu hoặc một phạm vi rất rộng (vĩ mô) hoặc
đi vào nghiên cứu một lĩnh vực rất cụ thể của đói nghèo hay nghiên cứu đưa ra giải
pháp mang tính đặc thù ở một vùng kinh tế hoặc tại một địa phương chưa cụ thể hoá

3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Nghiên cứu những vấn đề lý luận về giảm nghèo bền vững, và phát triển cộng
đồng đối với người nghèo trong giảm nghèo bền vững.
Phân tích thực trạng và các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động phát triển cộng
đồng đối với người nghèo trong giảm nghèo bền vững tại huyện Ba Chẽ, tỉnh
Quảng Ninh.
Đưa ra một số giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động phát triển cộng
đồng đối với người nghèo trong giảm nghèo bền vững từ thực tiễn huyện Ba Chẽ
nói riêng và đóng góp cho sự phát triển nghề công tác xã hội trên địa bàn tỉnh
Quảng Ninh nói chung.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng và khách thể nghiên cứu
4.1.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là Phát triển cộng đồng đối với người
nghèo trong giảm nghèo bền vững từ thực tiễn huyện Ba Chẽ, tỉnh Quảng Ninh.
4.1.2. Khách thể nghiên cứu
- Các hộ nghèo trong xã.
- Đại diện chính quyền địa phương và các tổ chức đoàn thể có liên quan.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi nội dung: Nghiên cứu thực trạng phát triển cộng đồng đối với
người nghèo trong giảm nghèo bền vững tại huyện Ba Chẽ tỉnh Quảng Ninh, cụ thể
đó là: Các hoạt động tuyên truyền, nâng cao nhận thức; hoạt động kết nối và hỗ trợ
sản xuất; hoạt động hỗ trợ các dịch vụ xã hội.
9


- Phạm vi không gian: xã Đồn Đạc, xã Nam Sơn, xã Thanh Sơn và xã Thanh
Lâm, huyện Ba Chẽ, tỉnh Quảng Ninh
- Phạm vi thời gian: từ tháng 9 năm 2016 đến tháng 3 năm 2017
5. Các câu hỏi nghiên cứu


của Sở Lao động TBXH tỉnh Quảng Ninh, của phòng Lao động TBXH huyện Ba
Chẽ và các văn bản thể hiện quan điểm chỉ đạo của cấp Uỷ chính quyền từ Tỉnh,
huyện đến xã, các quy định về các tiêu chí giảm nghèo của Trung ương, các chính
sách trợ giúp…
* Phương pháp quan sát
Phương pháp quan sát, là một trong những cách thức thu phập thông tin
thường xuyên được sử dụng trong quá trình nghiên cứu, nhằm đánh giá mức độ tin
cậy của thông tin đã thu thập bằng việc quan sát hành vi, cử chỉ, thái độ của người
được phỏng vấn đặc biệt là khi tiếp xúc với hộ nghèo. Các thông tin thu được từ
quan sát có thể sử dụng để đưa ra những đánh giá, nhận định về vấn đề nghèo đói,
các hoạt động phát triển cộng động trong giảm nghèo bền vững hiện nay.
* Phương pháp Trưng cầu ý kiến
Là phương pháp điều tra xã hội học nhằm thu thập thông tin bằng cách lập
một bảng hỏi cho nhóm đối tượng trong một khu vực nhất định ở một không gian,
thời gian nhất định.
Trong đề tài có xây dựng một bảng hỏi là tổ hợp các câu hỏi khảo sát người
nghèo về các hoạt động phát triển cộng đồng trong giảm nghèo bền vững ở địa
phương và các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động này. Đối tượng của phương pháp
này là 160 hộ gia đình nghèo tại 04 xã thuộc huyện Ba Chẽ, tỉnh Quảng Ninh, đây
là 4/8 xã, thị trấn của huyện và là 4/5 xã thuộc Chương trình 135, đồng thời là các
xã có tỷ lệ nghèo cao nhất của huyện Ba Chẽ.
Thông tin thu được từ bảng hỏi sẽ là những thông tin hữu ích nhằm nâng cao
hiệu quả hoạt động phát triển cộng đồng trong giảm nghèo bền vững tại địa phương.
* Phương pháp phỏng vấn sâu
Phỏng vấn sâu là phương pháp thu thập thông tin bằng cách tác động tâm lý,
xã hội một cách trực tiếp giữa người phỏng vấn và người trả lời. Phỏng vấn là
phương tiện được sử dụng phổ biến trong các điều tra, nghiên cứu khoa học nhằm
thu thập, khai thác thông tin từ đối tượng được phỏng vấn.
Trong quá trình nghiên cứu tác giả sử dụng phương pháp phỏng vấn sâu

góp phần nâng cao hiệu quả phát triển cộng đồng đối với người nghèo trong giảm
nghèo bền vững ở huyện Ba Chẽ, tỉnh Quảng Ninh
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1. Ý nghĩa lý luận
Nghiên cứu của đề tài sẽ làm phong phú thêm hệ thống lý luận phát triển
cộng đồng đối với người nghèo trong giảm nghèo bền vững tại huyện Ba Chẽ và
tỉnh Quảng Ninh nói riêng, Việt Nam nói chung. Kết quả nghiên cứu một lần nữa
góp phần khẳng định thêm cơ sở lý luận về phát triển cộng đồng đối với người
12


nghèo trong giảm nghèo bền vững hiện nay: Các khái niệm giảm nghèo bền vững,
khái niệm phát triển công đồng trong giảm nghèo bền vững; các quan điểm về giảm
nghèo; các tiêu chí, chỉ tiêu đo lường nghèo; hoạt động phát triển cộng đồng đối với
người giảm nghèo bền vững và các nguyên nhân dẫn đến nghèo đói, yếu tố ảnh
hưởng… Đề tài cũng làm rõ thêm vai trò của Nghề công tác xã hội trong việc giải
quyết những vấn đề giảm nghèo bền vững hiện nay.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
Đánh giá những hoạt động phát triển cộng đồng đối với người nghèo trong
giảm nghèo bền vững, phân tích những khó khăn, hạn chế và nguyên nhân trong
quá trình hoạt động giảm nghèo tại huyện Ba Chẽ
Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động phát triển cộng đối
với người nghèo trong giảm nghèo bền vững tại huyện Ba Chẽ, tỉnh Quảng Ninh, góp
phần nâng cao chất lượng cuộc sống, đảm bảo sự công bằng và tiến bộ xã hội.
Đây có thể coi là nguồn tài liệu tham khảo đối với các cơ quan, tổ chức các
địa phương để thực hiện có hiệu quả phát triển cộng đồng trong giảm nghèo bền
vững ở những địa bàn có tỉ lệ nghèo cao.
7. Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và các phụ
lục, luận văn được chia thành 3 chương sau:

dụng một khái niệm và tiêu chuẩn đánh giá để xác định mức độ nghèo khổ và đưa ra
các chỉ số nghèo khổ để xác định giới hạn nghèo khổ. Giới hạn nghèo khổ của các
quốc gia được xác định bằng mức thu nhập tối thiểu để người dân có thể tồn tại
được, đó là mức thu nhập mà một hộ gia đình có thể mua sắm được những vật dụng
cơ bản phục vụ cho việc ăn, mặc, ở và các nhu cầu thiết yếu khác theo mức giá hiện
hành.
1.1.1. Một số khái niệm
* Khái niệm về nghèo đói
- Theo quan điểm của các tổ chức quốc tế.
(1) Hội nghị bàn về giảm nghèo đói ở khu vực châu á Thái Bình Dương do
ESCAP tổ chức tháng 9 năm 1993 tại Băng Cốc - Thái Lan, các quốc gia trong khu
14


vực đã thống nhất cao rằng: "Nghèo khổ là tình trạng một bộ phận dân cư không có
khả năng thỏa mãn những nhu cầu cơ bản của con người mà những nhu cầu ấy phụ
thuộc vào trình độ phát triển kinh tế xã hội, phong tục tập quán của từng vùng và
những phong tục ấy được xã hội thừa nhận" và đã đưa ra định nghĩa đói nghèo:
Nghèo đói bao gồm nghèo tuyệt đối và nghèo tương đối.
+ Nghèo tuyệt đối: là tình trạng một bộ phận dân cư không được hưởng và
thoả mãn những nhu cầu cơ bản của con người mà những nhu cầu này đã được xã
hội thừa nhận tuỳ theo trình độ phát triển kinh tế và phong tục tập quán của địa
phương.
+ Nghèo tương đối: là tình trạng một bộ phận dân cư sống dưới mức trung
bình của cộng đồng.
+ Theo khía cạnh kinh tế: Nghèo là do sự thiếu lựa chọn dẫn đến cùng cực và
thiếu năng lực tham gia vào đời sống kinh tế xã hội của quốc gia, chủ yếu là trong
lĩnh vực kinh tế.
+ Theo khía cạnh khác: Nghèo là sự phản ánh trình độ phát triển kinh tế xã
hội trong từng giai đoạn lịch sử, trong phạm vi một quốc gia, một khu vực, một

kém, trình độ giáo dục thấp, vì nó là nguyên nhân và hệ quả của nghèo đói hay còn
gọi là cái “vòng luẩn quẩn” của sự đói nghèo.
+ Nghèo về thu nhập, nghèo về con người lại dẫn đến nghèo về xã hội như dễ
bị tổn thương trước những bất lợi về bệnh tật, thiên tai, khủng hoảng kinh tế, không
có tiếng nói, bất lực trước sự cải thiện điều kiện sống của cá nhân.
(8) Theo Liên Hợp Quốc (UN): “Nghèo là thiếu năng lực tối thiểu để tham
gia hiệu quả vào các hoạt động xã hội. Nghèo có nghĩa là không có đủ ăn, không đủ
mặc, không được đi học, không được đi khám bệnh, không có đất đai để trồng trọt
hoặc không có nghề nghiệp để nuôi sống bản thân, không được tiếp cận tín dụng.
Nghèo cũng có nghĩa là sự không an toàn, không có quyền, và bị loại trừ của các cá
nhân, hộ gia đình và cộng đồng. Nghèo có nghĩa dễ bị bạo hành, phải sống ngoài lề
xã hội hoặc trong các điều kiện rủi ro, không được tiếp cận nước sạch và công trình
vệ sinh an toàn” (Tuyên bố Liên Hợp Quốc, Tháng 6/2008, được lãnh đạo của tất cả
các tổ chức UN thông qua).
Như vậy nghèo tương đối không chỉ bao hàm mức thu nhập và tiêu dùng thấp
mà còn bao gồm cả mức hưởng thụ thấp về giáo dục, y tế và các lĩnh vực khác của
sự phát triển con người. Đặc biệt, nghèo tương đối còn đề cập đến "sự thiếu quyền
lực và tiếng nói, cũng như tính chất dễ bị tổn thương và đe doạ của người nghèo".
Trong những hoàn cảnh nhất định, họ không có tiếng nói chính trị, thậm chí còn bị
tẩy chay sống biệt lập với xã hội.
17


- Theo quan điểm của Việt Nam
Hiện nay ở Việt Nam có nhiều ý kiến khác nhau xung quanh khái niệm
nghèo đói, song ý kiến chung nhất cho rằng ở Việt Nam tách riêng đói và nghèo
thành 2 khái niệm riêng biệt, cụ thể:
+ Nghèo: là tình trạng một bộ phận dân cư chỉ có điều kiện thoả mãn một
phần những nhu cầu tối thiểu cơ bản của cuộc sống và có mức sống thấp hơn mức
sống trung bình của cộng đồng xét trên mọi phương diện.

bị các thể chế của nhà nước và xã hội đối xử tàn tệ, bị gạt ra rìa và không có tiếng
nói quyền lực trong các thể chế đó”[18].
Các khái niệm trên cho thấy sự thống nhất cao của các quốc gia, các tổ chức
quốc tế cho rằng nghèo là một hiện tượng đa chiều, tình trạng nghèo cần được nhìn
nhận là sự thiếu hụt/không được thỏa mãn các nhu cầu cơ bản của con người.
Vì vậy, nghèo đa chiều có thể được hiểu là tình trạng con người không được
đáp ứng ở mức tối thiểu một số nhu cầu cơ bản trong cuộc sống.
Hiện nay, Việt Nam đã áp dụng phương pháp đo lường nghèo đa chiều để đo
lường nghèo trong giai đoạn 2016-2020 với 05 chiều thiếu hụt và 10 chỉ số đo
lường thiếu hụt cụ thể:
+ 05 chiều thiếu hụt các dịch vụ xã hội cơ bản: tiếp cận về y tế, giáo dục, nhà
ở, nước sạch và vệ sinh, tiếp cận thông tin. Cùng với đó là 10 chỉ số đo lường mức
độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản bao gồm (1) trình độ giáo dục của
người lớn; (2) tình trạng đi học của trẻ em; (3) tiếp cận các dịch vụ y tế; (4) bảo
hiểm y tế; (5) chất lượng nhà ở; (6) diện tích nhà ở bình quân đầu người; (7) nguồn
nước sinh hoạt; (8) loại hố xí/nhà tiêu; (9) sử dụng dịch vụ viễn thông; (10) tài sản
phục vụ tiếp cận thông tin.
1.1.2. Tiêu chuẩn đánh giá nghèo ở Việt Nam.
* Tiêu chí đánh giá hộ nghèo.
Căn cứ vào mức sống thực tế các địa phương, trình độ phát triển KT-XH, từ
năm 1993 đến nay Chính phủ đã 7 lần công bố tiêu chuẩn cụ thể cho hộ nghèo. Các
tiêu chí này thay đổi theo thời gian điều tra cùng với sự thay đổi mặt bằng thu nhập
quốc gia.
(1) Chuẩn nghèo giai đoạn 1993 - 1995:
Hộ đói: Là hộ có mức bình quân thu nhập đầu người quy gạo/tháng dưới 13 kg
đối với thành thị, dưới 8 kg đối với khu vực nông thôn.
19


Hộ nghèo: Là hộ có mức bình quân thu nhập đầu người quy gạo/tháng dưới 20

(6) Chuẩn nghèo giai đoạn 2011 - 2015 (Quyết định Số 09/2011/QĐ-TTg
ngày 30/01/2011):
Vùng nông thôn: 400.000 đồng/người/tháng.
Vùng thành thị: 500.000 đồng/người/tháng.
(7) Chuẩn nghèo giai đoạn 2016 – 2020 (Quyết định số 59/2015/QĐ-TTg
ngày 19/11/2015 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành chuẩn nghèo tiếp cận
đa chiều áp dụng cho giai đoạn 2016 – 2020), cụ thể:
- Vùng nông thôn: là hộ đáp ứng một trong hai tiêu chí sau :
+ Có thu nhập bình quân đầu người/tháng từ đủ 700.000 đồng trở xuống.
+ Có thu nhập bình quân đầu người/tháng trên 700.000 đồng đến 1.000.000
đồng và thiếu hụt từ 03 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội
cơ bản.
- Vùng thành thị : là hộ đáp ứng một trong hai tiêu chí sau :
+ Có thu nhập bình quân đầu người/tháng từ đủ 900.000 đồng trở xuống.
+ Có thu nhập bình quân đầu người/tháng trên 900.000 đồng đến 1.300.000
đồng và thiếu hụt từ 03 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội
cơ bản.
* Các tiêu chuẩn nghèo khác
Theo cách đánh giá của Bộ LĐTBXH phạm vi đói nghèo có từng cấp khác
nhau. Mỗi cấp thể hiện những đặc điểm riêng biệt về mức độ nghèo.
Hộ nghèo: Là hộ có mức thu nhập bình quân đầu người thấp hơn chuẩn
nghèo. Trong hộ nghèo, lại có hộ dân tộc thiểu số đặc biệt khó khăn, đây là các hộ
gia đình dân tộc sống vùng dân tộc, miền núi, vùng sâu, vùng xa có mức thu nhập
thấp hơn chuẩn nghèo. Các hộ này còn tồn tại "phong tục tập quán sản xuất mang
nặng tính tự nhiên hái lượm" chủ yếu phát lương làm rẫy, tổng giá trị tài sản bình
quân đầu người dưới 1 triệu đồng.
Huyện nghèo: Là huyện có tỉ lệ hộ nghèo lớn hơn 50%. Thống kê huyện
nghèo là cơ sở để Chính phủ có chính sách giảm nghèo thích hợp nhằm đưa các
huyện nghèo có mức thu nhập trong những năm tới ngang bằng mức thu nhập của
cả nước.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status