VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
ĐÀO PHÚC THỊNH
THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN
NÔNG NGHIỆP BỀN VỮNG TỪ THỰC TIỄN
HUYỆN TRÀ BỒNG, TỈNH QUẢNG NGÃI
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG
HÀ NỘI, năm 2017
VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
ĐÀO PHÚC THỊNH
THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN
NÔNG NGHIỆP BỀN VỮNG TỪ THỰC TIỄN
HUYỆN TRÀ BỒNG, TỈNH QUẢNG NGÃI
Chuyên ngành : Chính sách công
Mã số
: 60.34.04.02
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG
NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC:
các đề tài khác trong cùng lĩnh vực.
Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về lời cam đoan này.
Tác giả luận văn
Đào Phúc Thịnh
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU .................................................................................................................... 1
CHƢƠNG 1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH
PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP BỀN VỮNG ...................................................... 10
1.1. Một số khái niệm ................................................................................................ 10
1.2. Đặc trưng, vai trò và những yếu tố chủ yếu tác động tới thực hiện chính sách
phát triển nông nghiệp bền vững ............................................................................... 16
1.3. Kinh nghiệm thực hiện chính sách phát triển nông nghiệp bền vững quốc tế,
trong nước và bài học kinh nghiệm ........................................................................... 22
CHƢƠNG 2. THỰC TRẠNG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN
NÔNG NGHIỆP BỀN VỮNG TỪ THỰC TIỄN HUYỆN TRÀ BỒNG .............. 28
2.1. Khái quát huyện Trà Bồng, tỉnh Quảng Ngãi .................................................... 28
2.2. Khái quát về chính sách phát triển nông nghiệp bền vững của huyện Trà Bồng ... 34
2.3. Thực trạng và đánh giá thực hiện chính sách phát triển nông nghiệp bền vững
tại huyện Trà Bồng thời gian qua .............................................................................. 37
CHƢƠNG 3. MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM TĂNG CƢỜNG THỰC HIỆN
CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP BỀN VỮNG HUYỆN TRÀ
BỒNG ....................................................................................................................... 63
3.1. Bối cảnh thực hiện chính sách phát triển nông nghiệp bền vững tại huyện Trà
Bồng thời gian tới...................................................................................................... 63
3.2. Quan điểm và mục tiêu phát triển nông nghiệp bền vững của huyện Trà Bồng 65
3.3. Một số giải pháp nhằm tăng cường thực hiện chính sách phát triển nông nghiệp
bền vững .................................................................................................................... 68
NN&PTNT
: Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
NSNN
: Ngân sách Nhà nước
NTM
: Nông thôn mới
UBND
: Uỷ ban nhân dân
DANH MỤC CÁC BẢNG
Số hiệu
Tên bảng
Trang
Một số chỉ tiêu kinh tế chung của huyện Trà Bồng theo giá cố
31
bảng
Tổng hợp tình hình vay vốn của Ngân hàng CS-XH
49
2.7.
Phân tích SWOT về điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức
59
trong phát triển nông nghiệp theo hướng bền vững ở huyện Trà Bồng
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Nước ta hiện nay vẫn là một nước nông nghiệp với gần 70% dân cư đang sống
ở nông thôn, 48% lao động làm việc trong lĩnh vực nông nghiệp, đóng góp tới 20%
GDP của đất nước, chiếm tới 1/4 doanh thu xuất khẩu quốc gia, tạo việc làm cho
khoảng 50% lao động trong thời gian qua. Phát triển nông nghiệp nông thôn đã,
đang và sẽ còn là mối quan tâm hàng đầu, có vai trò quyết định đối với việc ổn định
kinh tế - xã hội đất nước. Đảng và Nhà nước ta luôn coi trọng những vấn đề liên
quan đến nông dân, nông nghiệp và nông thôn.
Nông nghiệp là ngành sản xuất vật chất cơ bản, giữ vai trò to lớn trong việc
phát triển kinh tế của đất nước. Nước ta vẫn còn nghèo, đại bộ phận sống bằng nghề
nông, mặc dù tỷ trọng GDP nông nghiệp không lớn, nhưng khối lượng nông sản khá
lớn và không ngừng tăng, đảm bảo cung cấp đủ cho đời sống của con người những
sản phẩm tối thiểu cần thiết đó là lương thực, thực phẩm, là yếu tố đầu tiên, có tính
chất quyết định sự tồn tại phát triển của con người và phát triển kinh tế – xã hội của
đất nước. Xã hội càng phát triển, đời sống của con người ngày càng được nâng cao
Hơn 30 năm đổi mới, nền kinh tế Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu quan
trọng, trong đó có phần đóng góp không nhỏ của nông nghiệp. Nông nghiệp vẫn sẽ
tiếp tục là một ngành sản xuất vật chất quan trọng của nền kinh tế Việt Nam trong
nhiều thập kỷ tới.
Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ 7 (khoá IX), nông nghiệp, nông thôn,
nông dân vẫn là những vấn đề có tầm quan trọng chiến lược của nước ta. Công
nghiệp hoá, hiện đại hoá (CNH, HĐH) nông nghiệp, nông thôn là một nhiệm vụ
quan trọng hàng đầu của sự nghiệp CNH, HĐH ở nước ta. Chính phủ cũng đã ban
hành Quyết định số 153/2004/QĐ-TTg, ngày 17/8/2008 về định hướng phát triển
bền vững ở Việt Nam, trong đó khẳng định phải phát triển nông nghiệp theo yêu
cầu bền vững và đề ra những vấn đề cần ưu tiên trong phát triển nông nghiệp bền
vững ở nước ta. Nghị quyết số 26-NQ/TW, ngày 05/8/2008 Hội nghị lần thứ bảy
BCH Trung ương khoá X về nông nghiệp, nông dân, nông thôn, một lần nữa, Đảng
ta tiếp tục lần nữa xác định mục tiêu: Không ngừng nâng cao đời sống vật chất, tinh
thần của dân cư nông thôn, hài hoà giữa các vùng, tạo sự chuyển biến nhanh hơn ở
2
các vùng còn nhiều khó khăn; nông dân được đào tạo có trình độ sản xuất ngang
bằng với các nước tiên tiến trong khu vực và đủ bản lĩnh chính trị, đóng vai trò làm
chủ nông thôn mới. Xây dựng nền nông nghiệp phát triển toàn diện theo hướng hiện
đại, bền vững, sản xuất hàng hoá lớn, có năng suất, chất lượng, hiệu quả và khả
năng cạnh tranh cao, đảm bảo vững chắc an ninh lương thực quốc gia cả trước mắt
và lâu dài.
Huyện Trà Bồng là một trong những huyện miền núi và nằm ở phía Tây Bắc
của tỉnh Quảng Ngãi, có độ cao từ 80 mét đến gần 1.500 mét so với mặt nước biển.
Huyện Trà Bồng nằm ở vùng khí hậu á nhiệt đới, có hai mùa mưa, nắng tương đối
rõ rệt. với hơn 80% dân số sinh sống ở nông thôn, miền núi và trên 70% lao động
nông nghiệp. Trong những năm qua, nông nghiệp của huyện đã đạt được nhiều
Đảng và Chính Phủ về nông nghiệp, nông thôn, nông dân còn nhiều thiếu sót, bất
cập dẫn đến tình trạng nông nghiệp bị suy thoái, nông dân thiếu việc làm, môi
trường bị hủy hoại nghiêm trọng.
Nhằm đánh giá đúng mức thực trạng phát triển nông nghiệp bền vững ở huyện
Trà Bồng trong thời gian qua, những gì là bất cập trong quá trình thực hiện chính
sách phát triển nông nghiệp và nguyên nhân của nó? để từ đó đưa ra giải pháp nào
để phát triển nông nghiệp tại huyện trong thời gian tới bền vững trên cả 3 phương
diện kinh tế, xã hội và môi trường đây là những yêu cầu bức bách đang đặt ra cả
trước mắt và lâu dài, bản thân tôi đã chọn đề tài “Thực hiện chính sách phát triển
nông nghiệp bền vững từ thực tiễn huyện Trà Bồng, tỉnh Quảng Ngãi” cho Luận
văn thạc sĩ, chuyên ngành Chính sách công của mình, nhằm giải đáp các câu hỏi
nêu trên.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Chính sách phát triển nông nghiệp bền vững không phải là vấn đề mới mẻ mà
đã được đề cập nhiều tại các cuộc hội nghị của BCH Trung ương Đảng: hội nghị lần
thứ 7 (khóa VII), hội nghị lần thứ 5 (khóa IX) và Hội nghị Ban chấp hành Trung
ương đảng lần thứ 7 (khóa X).
Đến thời điểm hiện nay, có khá nhiều công trình nghiên cứu liên quan đến
phát triển bền vững nói chung, phát triển nông nghiệp bền vững nói riêng. Trong đó,
có thể kể đến những công trình sau đây:
4
- Định hướng Chiến lược phát triển bền vững ở Việt Nam (2004), Chương
trình nghị sự 21, Hà Nội nghiên cứu về Định hướng chiến lược phát triển bền
vững ở Việt Nam nhằm phát triển bền vững đất nước trên cơ sở kết hợp chặt chẽ,
hợp lý và hài hoà giữa phát triển kinh tế, phát triển xã hội và bảo vệ môi trường
được cụ thể thành Quyết định số 153/2004/QĐ-TTg ngày 17/8/2004 của Thủ
tướng Chính phủ.
bền vững, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
- TS Nguyễn Từ (chủ biên) (2008), Tác động của Hội nhập kinh tế Quốc tế đối
với phát triển nông nghiệp của Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
- Tập bài giảng về phát triển bền vững ở Việt Nam, gồm 5 tập thuộc dự án
VIE/01/05 do nhiều cơ quan như Trường đại học Kinh tế quốc dân, Học viện Chính
trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh... biên soạn, Nxb Kinh tế quốc dân năm
2006.
- Các công trình, bài viết nghiên cứu trên đề cập đến nhiều vấn đề lý luận và
thực tiễn phát triển nông nghiệp theo hướng bền vững ở nước ta. Các tác giả đã nêu
những lý luận cơ bản nhất về phát triển nông nghiệp, đánh giá thực trạng phát triển
nông nghiệp nước ta trong thời gian qua và đưa ra những giải pháp rất quan trọng
về quản lý nhà nước để phát triển nông nghiệp Việt Nam trong những năm tới.
Tuy vậy, cho đến nay chưa có công trình nghiên cứu nào được công bố về
thực hiện chính sách phát triển nông nghiệp bền vững từ thực tiễn huyện Trà Bồng,
tỉnh Quảng Ngãi.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu cơ sở lý luận và vận dụng lý luận chính sách phát triển nông nghiệp
bền vững để xem xét thực tiễn thực hiện chính sách phát triển nông nghiệp bền vững
tại huyện Trà Bồng, từ đó tìm ra những bất cập trong thực hiện chính sách phát triển
nông nghiệp bền vững thời gian qua và kiến nghị, đề xuất các giải pháp nhằm tăng
cường thực hiện chính sách phát triển nông nghiệp bền vững hướng đến mục tiêu phát
triển nông nghiệp bền vững tại huyện Trà Bồng trong những năm tiếp theo.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Nghiên cứu những vấn đề lý luận về chính sách phát triển nông nghiệp bền
vững và thực hiện chính sách phát triển nông nghiệp bền vững ở Việt Nam.
6
7
Bồng để thực hiện mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu Luận văn, cụ thể là từ thực
tiễn thực hiện chính sách ở địa bàn nghiên cứu đối chiếu, so sánh với chính sách vĩ
mô và trên cơ sở đó có đề xuất giải pháp, tạo môi trường chính sách thuận lợi hơn
cho việc thực hiện chính sách ở cấp địa phương và cụ thể hóa thực hiện chính sách
ở huyện Trà Bồng.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp phân tích chính sách được sử dụng trong đánh giá các chính sách
được đề cập kết hợp với phương pháp phân tích SWOT.
Phương pháp phân tích SWOT (Strengths, Weakneses, Opporturnites, Threats)
là phương pháp khá thông dụng trong phân tích chính sách cũng được sử dụng để
khái quát, tổng hợp các mặt được và chưa được cũng như các thách thức, cơ hội mà
chính sách phát triển nông nghiệp bền vững cần tính đến.
Phương pháp thu thập thông tin: Phân tích và tổng hợp, được sử dụng để thu
thập, phân tích và khai thác thông tin từ các nguồn có sẵn liên quan đến đề tài
nghiên cứu, bao gồm các văn kiện, tài liệu, Nghị quyết, Quyết định của Đảng, Nhà
nước, Bộ, ngành ở trung ương, và huyện Trà Bồng; các công trình nghiên cứu, các
báo cáo, tài liệu thống kê của chính quyền, ban ngành đoàn thể, tổ chức, cá nhân
liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp tới vấn đề thực hiện chính sách phát triển nông
nghiệp bền vững ở nước ta nói chung và thực tế ở huyện Trà Bồng nói riêng. Đồng
thời, thu thập các tài liệu của các tổ chức và học giả quốc tế liên quan đến đề tài
trong thời gian qua.
Kết hợp cùng với các phương pháp thống kê, khái quát thực tiễn, phương pháp
phân tích định tính, suy luận logic, diễn giải trong quá trình phân tích, đánh giá
chính sách.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1. Ý nghĩa lý luận
Hệ thống hóa một số cơ sở lý luận và nghiên cứu thực tiễn, rút ra bài học kinh
CHƢƠNG 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH
PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP BỀN VỮNG
1.1. Một số khái niệm
1.1.1. Nông nghiệp
Nông nghiệp là ngành sản xuất vật chất cơ bản của xã hội, sử dụng đất
đai để trồng trọt và chăn nuôi, khai thác cây trồng và vật nuôi làm tư liệu và nguyên
liệu lao động chủ yếu để tạo ra lương thực thực phẩm và một số nguyên
liệu cho công nghiệp. Nông nghiệp là một ngành sản xuất lớn, bao gồm nhiều
chuyên ngành: trồng trọt, chăn nuôi, sơ chế nông sản; theo nghĩa rộng, còn bao gồm
cả lâm nghiệp, thủy sản.
Nông nghiệp là một trong những ngành sản xuất vật chất quan trọng của nền
kinh tế quốc dân. Hoạt động nông nghiệp vừa gắn liền với các yếu tố kinh tế - xã
hội, vừa gắn liền với các yếu tố tự nhiên.
Trong nông nghiệp cũng có hai loại chính, việc xác định sản xuất nông nghiệp
thuộc dạng nào cũng rất quan trọng:
- Nông nghiệp thuần nông hay nông nghiệp sinh nhai là lĩnh vực sản
xuất nông nghiệp có đầu vào hạn chế, sản phẩm đầu ra chủ yếu phục vụ cho
chính gia đình của mỗi người nông dân, không có sự cơ giới hóa trong nông nghiệp
sinh nhai.
- Nông nghiệp chuyên sâu là lĩnh vực sản xuất nông nghiệp được chuyên môn
hóa trong tất cả các khâu sản xuất nông nghiệp, gồm cả việc sử dụng máy móc
trong trồng trọt, chăn nuôi hoặc trong quá trình chế biến sản phẩm nông nghiệp.
Nông nghiệp chuyên sâu có nguồn đầu vào sản xuất lớn, bao gồm cả việc sử dụng
hóa chất diệt sâu, diệt cỏ, phân bón, chọn lọc, lai tạo giống, nghiên cứu các giống
mới và mức độ cơ giới hóa cao. Sản phẩm đầu ra chủ yếu dùng vào mục
đích thương mại, làm hàng hóa bán ra trên thị trường hay xuất khẩu. Các hoạt động
trên trong sản xuất nông nghiệp chuyên sâu là sự cố gắng tìm mọi cách để có nguồn
10
Ba là, đời sống xã hội được đảm bảo hài hoà công bằng.
11
Qua đó có thể nói: điều then chốt của phát triển bền vững không phải là sản
xuất ít đi mà phải sản xuất khác đi, phát triển sản xuất phải đi đôi với tiết kiệm tài
nguyên, bảo vệ môi trường và phải chú trọng đến mối quan hệ giữa các thế hệ, đảm
bảo sự bình đẳng công bằng giữa các thế hệ.
Vào những năm cuối của thế kỷ XX, con người đã bắt đầu nhận ra rằng chúng
ta không thể có được một xã hội hay một nền kinh tế lành mạnh trong một Thế giới
có quá nhiều sự thách thức và bất lợi. Nạn đói nghèo đã là mối đe dọa thường xuyên
đối với nhiều người do dân số quá đông nhưng sản xuất ngày càng khó khăn, tái sản
xuất mở rộng có nhiều lực cản và khả năng lâu dài của Trái đất đáp ứng nhu cầu
ngày càng tăng về lương thực, thực phẩm lại không lấy gì làm chắc chắn. Tình trạng
ô nhiễm môi trường, xói mòn đất, nhiễm mặn, úng ngập, mất độ màu mỡ của đất
ngày càng tăng lên .... Mặt khác, trên lĩnh vực xã hội cũng có nhiều vấn nạn như
phân hóa giàu nghèo, bất bình đẳng trong hưởng thụ các nhu cầu của cuộc sống,
mất công bằng xã hội... Đã làm cho sản xuất và cuộc sống nhân loại ngày càng đi
vào bế tắt. Nguyên nhân chính của các vấn nạn trên bắt nguồn từ việc quá tập trung
vào tăng trưởng với mục tiêu chính là tối đa hóa lợi nhuận của nhà sản xuất .
Để giải quyết vấn nạn này đòi hỏi con người phải xem xét lại hành vi của
mình trong quá trình tồn tại và phát triển, phải tìm ra cách thức phát triển kinh tế xã
hội một cách hài hòa vừa đảm bảo cuộc sống hiện tại vừa đảm bảo ổn định cho
tương lai; vừa phát triển kinh tế nhanh nhưng vẫn phải đảm bảo tốt môi trường sinh
thái, đảm bảo công bằng xã hội. Từ đó vấn đề phát triển bền vững được nghiên cứu
và trở thành định hướng phát triển của nhân loại. Phát triển bền vững chỉ sự phát
triển mà trong đó các giá trị kinh tế, môi trường và xã hội luôn luôn tương tác với
nhau trong suốt quá trình quy hoạch, phân bố lợi nhuận công bằng giữa các tầng lớp
trong xã hội và khẳng định các cơ hội cho sự phát triển kế tiếp, duy trì một cách liên
Theo Tổ chức Sinh thái và Môi trường Thế giới (WORD): “Phát triển nông
nghiệp bền vững là nền nông nghiệp thỏa mãn được các yêu cầu của thế hệ hiện
nay, mà không giảm khả năng ấy đối với các thế hệ mai sau [21]”. Điều đó có
nghĩa là nền nông nghiệp không những cho phép các thế hệ hiện nay khai thác tài
nguyên thiên nhiên vì lợi ích của họ mà còn duy trì khả năng ấy cho các thế hệ mai
sau. Có ý kiến cho rằng sự bền vững của hệ thống nông nghiệp là khả năng duy trì
hay tăng thêm năng suất và sản lượng nông sản trong một thời gian dài mà không
ảnh hưởng xấu đến điều kiện sinh thái.
13
Theo Tổ chức lương thực của Liên hiệp Quốc (1992) (FAO): “Phát triển nông
nghiệp bền vững là sự quản lý và bảo tồn, sự thay đổi lề lối tổ chức và kỹ thuật
nhằm đảm bảo thỏa mãn nhu cầu ngày càng tăng của con người cả hiện tại và mai
sau [20]”. Sự phát triển như vậy của nền nông nghiệp (bao gồm cả lâm nghiệp và
thủy sản) sẽ đảm bảo không tổn hại tới môi trường, không giảm cấp tài nguyên, phù
hợp về kỹ thuật và công nghệ, có hiệu quả về kinh tế và được xã hội chấp nhận.
Theo TS Trần Ngọc Ngoạn thì: Nông nghiệp bền vững là nền nông nghiệp có
sức sống về kinh tế, sạch về môi trường và công bằng về xã hội. Nông nghiệp bền
vững trả lời câu hỏi về nhu cầu hiện nay: thức ăn sạch, nước có chất lượng, việc làm
và chất lượng cuộc sống và không làm tổn hại đến nguồn lợi tự nhiên cho các thế hệ
tương lai [23, tr.26].
Cổng thông tin điện tử của Chính phủ Việt Nam đã thống kê 10 khái niệm về
phát triển nông nghiệp bền vững. Trong đó có một số khái niệm đáng chú ý như
sau: Khái niệm số 6: “Phát triển nông nghiệp bền vững là sự phát triển đáp ứng nhu
cầu tăng trưởng chung của nền kinh tế nhưng không làm suy thoái môi trường tự
nhiên - con người, đảm bảo trên mức nghèo đói của người dân nông thôn [31]”;
Khái niệm số 7:“Phát triển nông nghiệp bền vững là đảm bảo an ninh lương thực,
tăng cải tổ kinh tế, khắc phục nghèo đói và tạo điều kiện tăng tốc độ công nghiệp
1.2. Đặc trƣng, vai trò và những yếu tố chủ yếu tác động tới thực hiện
chính sách phát triển nông nghiệp bền vững
1.2.1. Đặc điểm nông nghiệp
Nông nghiệp là ngành sản xuất vật chất chủ yếu của xã hội. Sản xuất nông nghiệp
có những đặc điểm mà các ngành sản xuất khác không thể có, đó là:
Sản xuất nông nghiệp được tiến hành trên một địa bàn rộng lớn, phức tạp, phụ
thuộc vào điều kiện tự nhiên nên mang tính khu vực rõ rệt. Ở mỗi quốc gia, mỗi
vùng có điều kiện khí hậu, thời tiết, lịch sử hình thành các loại đất, quá trình khai
phá, sử dụng khác nhau thì hoạt động nông nghiệp sẽ khác nhau. Điều kiện thời tiết
khí hậu với lượng mưa, nhiệt độ, độ ẩm, ánh sáng v.v . trên từng địa bàn gắn rất chặt
chẽ với điều kiện hình thành và sử dụng đất. Do điều kiện đất đai khí hậu không giống
nhau giữa các vùng đã làm cho nông nghiệp mang tính khu vực rất rõ nét.
Ruộng đất là tư liệu sản xuất chủ yếu không thể thay thế được. Ruộng đất bị
giới hạn về mặt diện tích, con người không thể tăng thêm theo ý muốn chủ quan
nhưng sức sản xuất của ruộng đất chưa giới hạn, nghĩa là con người có thể khai thác
chiều sâu của ruộng đất nhằm thoả mãn nhu cầu tăng lên của loài người về nông sản
phẩm. Chính vì thế, trong quá trình sử dụng phải biết quý trọng đất, sử dụng đất tiết
kiệm, cải tạo, bồi dưỡng để làm cho ruộng đất ngày càng màu mỡ hơn, nhất là hạn
16
chế và xem xét thật kỹ càng khi chuyển từ đất nông nghiệp sang các loại đất khác. Do
đó, vấn đề thâm canh sản xuất là hết sức quan trọng.
Đối tượng sản xuất nông nghiệp là cây trồng, vật nuôi, chúng triển theo quy
luật sinh học nhất định (sinh trưởng, phát triển và diệt vong). Chúng rất nhạy cảm
với các yếu tố ngoại cảnh, mọi sự thay đổi về điều kiện thời tiết, khí hậu đều tác
động trực tiếp đến phát triển và diệt vong, đến kết quả thu hoạch sản phẩm cuối
cùng. Do đó, đòi hỏi phải thường xuyên chọn lọc, lai tạo ra những giống mới phù
hợp với điều kiện từng vùng để cho năng suất cao.
Nông nghiệp và khu vực nông thôn cung cấp ba yếu tố đầu vào cho phát triển công
nghiệp và khu vực thành thị, gồm: (1) Cung cấp nguồn nguyên liệu đầu vào của các
ngành công nghiệp chế biến; (2) Là khu vực dự trữ và cung cấp nguồn lao động cho
phát triển công nghiệp và đô thị. Trong giai đoạn đầu của công nghiệp hoá, phần lớn
dân cư sống bằng nông nghiệp và tập trung sống ở khu vực nông thôn. Khi tiến hành
CNH, HĐH nông nghiệp nông thôn, năng suất lao động nông nghiệp không ngừng
tăng lên, lực lượng lao động từ nông nghiệp được giải phóng ngày càng nhiều. Số lao
động này dịch chuyển, bổ sung cho phát triển công nghiệp và đô thị. Đó là xu hướng
có tính quy luật của mọi quốc gia trong quá trình CNH, HĐH đất nước; (3) Cung cấp
nguồn vốn rất lớn trong giai đoạn đầu của công nghiệp hoá, nguồn vốn từ nông
nghiệp được tạo ra bằng nhiều cách, như tiết kiệm của nông dân đầu tư vào các hoạt
động phi nông nghiệp, thuế nông nghiệp, ngoại tệ thu được do xuất khẩu nông sản
v.v...
Là thị trường tiêu thụ của công nghiệp và dịch vụ. Thực tế cho thấy, ở các
quốc gia trên thế giới, nhất là các nước đang phát triển, ngành nông nghiệp và khu
vực nông thôn là thị trường tiêu thụ lớn của sản phẩm công nghiệp, bao gồm tư liệu
tiêu dùng và tư liệu sản xuất. Cầu trong ngành nông nghiệp, khu vực nông thôn ảnh
hưởng rất lớn và trực tiếp đến kế hoạch phát triển sản xuất của ngành công nghiệp.
Chính vì vậy, cần có chính sách đầu tư thúc đẩy cho ngành nông nghiệp phát triển
mạnh, nâng cao thu nhập, cải thiện đời sống cho dân cư ở khu vực nông thôn, làm
tăng sức mua từ khu vực nông thôn sẽ làm cho cầu về sản phẩm công nghiệp tăng,
thúc đẩy công nghiệp phát triển, từng bước nâng cao chất lượng có thể cạnh tranh
với thị trường thế giới.
Là ngành mang lại nguồn thu ngoại tệ cho đất nước. Trong thực tế, các mặt
18