VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN MẬU VINH
THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN
NÔNG NGHIỆP BỀN VỮNG TỪ THỰC TIỄN
HUYỆN QUẾ SƠN, TỈNH QUẢNG NAM
Chuyên ngành : Chính sách công
Mã số
: 60 34 04 02
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS. TS. ĐỖ PHÚ HẢI
HÀ NỘI, năm 2016
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành được luận văn này, tôi xin chân thành cảm ơn đến Ban
Giám đốc, các khoa, phòng và quý thầy, cô của Học viện Khoa học Xã hội,
những người đã tận tình và tạo điều kiện giúp đỡ cho tôi trong quá trình học
tập. Đặc biệt, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến thầy PGS.TS. Đỗ Phú Hải,
người đã trực tiếp hướng dẫn Luận văn cho tôi với tất cả lòng nhiệt tình và sự
quan tâm sâu sắc.
Bên cạnh đó, tôi cũng gửi lời cảm ơn đến lãnh đạo các cơ quan, ban,
ngành ở huyện; bạn bè, đồng nghiệp, cùng đông đảo bà con nhân dân một số
CHƯƠNG 2. THỰC TRẠNG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH PHÁT
TRIỂN NÔNG NGHIỆP BỀN VỮNG TỪ THỰC TIỄN HUYỆN QUẾ
SƠN, QUẢNG NAM ..................................................................................... 29
2.1. Thực trạng tổ chức thực hiện chính sách phát triển nông nghiệp bền vững
từ thực tiễn huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam ................................................ 29
2.2. Kết quả thực hiện mục tiêu chính sách phát triển nông nghiệp bền vững52
2.3. Đánh giá chung về việc tổ chức, thực hiện chính sách phát triển nông
nghiệp bền vững tại huyện Quế Sơn ............................................................... 60
CHƯƠNG 3. MỤC TIÊU VÀ GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG THỰC
HIỆN CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP BỀN VỮNG Ở
NƯỚC TA ............................................................................................ 66
3.1. Mục tiêu thực hiện chính sách phát triển nông nghiệp bền vững ............ 66
3.2. Biến đổi khí hậu và bối cảnh phát triển kinh tế xã hội tỉnh Quảng Nam. 67
3.3. Giải pháp tăng cường thực hiện chính sách phát triển nông nghiệp bền
vững ................................................................................................................. 68
KẾT LUẬN .................................................................................................... 78
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BCH
: Ban chấp hành
CNH, HĐH
: Công nghiệp hóa, hiện đại hóa
: Quản lý nhà nước
TW
: Trung ương
UBND
: Ủy ban nhân dân
DANH MỤC CÁC BẢNG
Số hiệu
Tên bảng
Trang
So sánh hiệu quả kinh tế giữa ruộng IPM và ruộng làm
34
bảng
2.1.
theo tập quán cũ tại thôn 4, xã Quế Châu
2.2.
So sánh hiệu quả kinh tế giữa ruộng IPM và ruộng làm
lược của nước ta. Công nghiệp hoá, hiện đại hoá (CNH, HĐH) nông nghiệp,
nông thôn là một nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của sự nghiệp CNH, HĐH ở
nước ta. Ngày 05/8/2008, BCH TW Đảng khóa X đã ban hành Nghị quyết số
26-NQ/TW về nông nghiệp, nông dân, nông thôn, một lần nữa, Đảng ta xác
định: “Không ngừng nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của dân cư nông
thôn, hài hoà giữa các vùng, tạo sự chuyển biến nhanh hơn ở các vùng còn
nhiều khó khăn; nông dân được đào tạo có trình độ sản xuất ngang bằng với
các nước tiên tiến trong khu vực và đủ bản lĩnh chính trị, đóng vai trò làm chủ
nông thôn mới. Xây dựng nền nông nghiệp phát triển toàn diện theo hướng
hiện đại, bền vững, sản xuất hàng hoá lớn, có năng suất, chất lượng, hiệu quả
và khả năng cạnh tranh cao, đảm bảo vững chắc an ninh lương thực quốc gia
cả trước mắt và lâu dài”.
1
Ngày 17/8/2004, Thủ tướng Chính phủ cũng đã ban hành Quyết định số
153/2004/QĐ-TTg về định hướng chiến lược phát triển bền vững ở Việt Nam.
Trong đó khẳng định phải phát triển nông nghiệp theo yêu cầu bền vững và đề
ra những vấn đề cần ưu tiên trong phát triển nông nghiệp bền vững
(PTNNBV) ở nước ta. Và ngày 10/6/2013, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành
Quyết định số 899/QĐ-TTg về phê duyệt Đề án tái cơ cấu ngành nông nghiệp
theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững, trong đó tiếp tục
xác định “Tái cơ cấu ngành nông nghiệp là một hợp phần của tái cơ cấu tổng
thể nền kinh tế quốc dân, phù hợp với chiến lược và kế hoạch phát triển KTXH của cả nước, gắn với phát triển KT-XH và bảo vệ môi trường để đảm bảo
phát triển bền vững; phát triển bền vững vừa là một quá trình, vừa là mục tiêu
của ngành”.
Nằm trong định hướng chung của cả nước và tỉnh Quảng Nam, huyện
Quế Sơn là huyện trung du miền núi của tỉnh Quảng Nam, tỷ lệ lao động, diện
tích canh tác nông nghiệp cũng như đóng góp của ngành vào tăng trưởng kinh
tế rất lớn. Trong giai đoạn 2011– 2015, sản xuất nông nghiệp tăng trưởng khá;
Chính sách PTNNBV không phải là vấn đề mới mà đã được đề cập
nhiều tại các cuộc hội nghị của BCH Trung ương Đảng. Bên cạnh đó, đến
thời điểm hiện nay, có khá nhiều công trình nghiên cứu liên quan đến phát
triển bền vững nói chung, PTNNBV nói riêng. Có thể nêu một số công trình
nghiên cứu sau:
Định hướng Chiến lược phát triển bền vững ở Việt Nam (2004), Chương
trình nghị sự 21, Hà Nội.
GS.TS Hoàng Thị Chính (2010), Để nông nghiệp phát triển bền vững,
Tạp chí Phát triển kinh tế số tháng 6-2010.
TS Trần Ngọc Ngoạn chủ biên (2008), Phát triển nông thôn bền vững,
những vấn đề lý luận và kinh nghiệm thế giới, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội.
Lưu Văn Sùng (2004), Một số kinh nghiệm điển hình về phát triển nông
nghiệp, nông thôn theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá, Nxb Chính trị
quốc gia, Hà Nội.
3
GS.TS Nguyễn Kế Tuấn (chủ nhiệm), CNH, HĐH nông nghiệp và nông
thôn ở Việt Nam, con đường và bước đi, Đề tài nghiên cứu khoa học cấp bộ.
TS Nguyễn Từ (chủ biên) (2004), Nông nghiệp Việt Nam trong phát
triển bền vững, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
Tập bài giảng về phát triển bền vững ở Việt Nam, thuộc dự án VIE/01/05
do nhiều cơ quan như Trường Đại học Kinh tế quốc dân, Học viện Chính trị Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh biên soạn, Nxb Kinh tế quốc dân năm
2006.
Nguyễn Xuân Thảo (2004), Góp phần phát triển bền vững Nông thôn
Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
Những công trình, bài viết trên có giá trị lớn về lý luận và thực tiễn cho
PTNNBV ở nước ta. Các tác giả đã nêu những lý luận cơ bản nhất về
PTNNBV, đánh giá thực trạng phát triển nông nghiệp nước ta thời gian qua
và đưa ra những những giải pháp về QLNN để phát triển nông nghiệp Việt
sách phát triển nông nghiệp bền vững tại huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam.
4.2. Phạm vi nghiên cứu: Luận văn nghiên cứu trong phạm vi huyện Quế
Sơn, tỉnh Quảng Nam và trong khoảng thời gian từ năm 2011 - 2015
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp luận: Luận văn vận dụng cách tiếp cận nghiên cứu
chính sách qua tiếp cận đa ngành, liên ngành khoa học xã hội và phương pháp
nghiên cứu chính sách công. Đó là cách tiếp cận quy phạm chính sách công
về chu trình chính sách từ hoạch định đến xây dựng, thực hiện và đánh giá
chính sách công có sự tham gia của các chủ thể chính sách. Lý thuyết chính
sách công được soi sáng qua thực tiễn của chính sách công giúp hình thành lý
luận về chính sách chuyên ngành.
5.2. Phương pháp nghiên cứu: Phương pháp thu thập thông tin, phương
pháp phân tích, tổng hợp, thống kê và so sánh được sử dụng để thu thập, phân
tích và khai thác thông tin từ các nguồn có sẵn liên quan đến đề tài nghiên
cứu, bao gồm các văn kiện, Nghị Quyết của Đảng, Nhà nước, Bộ ngành ở
5
Trung ương và địa phương; các tài liệu, công trình nghiên cứu, các báo cáo,
thống kê của chính quyền, ban ngành đoàn thể, tổ chức, cá nhân liên quan
trực tiếp hoặc gián tiếp đến vấn đề thực hiện chính sách PTNNBV ở nước ta
nói chung và thực tế huyện Quế Sơn nói riêng. Đồng thời, thu thập, tìm hiểu
và vận dụng các lý thuyết của ngành chính sách xã hội liên quan đến vấn đề
thực hiện chính sách PTNNBV. Phương pháp nghiên cứu định tính qua áp
dụng phương pháp phỏng vấn sâu một số chủ thể chính sách liên quan.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của Luận văn
6.1. Ý nghĩa lý luận
Góp phần bổ sung hoàn thiện những vấn đề lý luận về thực hiện chính
sách công nói chung và chính sách phát triển nông nghiệp bền vững nói riêng.
Đề xuất phương hướng và các giải pháp để nâng cao hiệu quả thực hiện
tiêu xác định của Đảng chính trị cầm quyền” [30].
Nông nghiệp bền vững là nền nông nghiệp phát triển phải đảm bảo được
mục đích kiến tạo một hệ thống bền vững về mặt kinh tế, xã hội, môi trường.
Hiện nay, có nhiều tác giả đưa ra khái niệm về PTNNBV ở những góc độ
khác nhau, như: PTNNBV là quá trình quản lý và duy trì sự thay đổi về tổ
chức, kỹ thuật và thể chế cho nông nghiệp phát triển nhằm đảm bảo thỏa mãn
nhu cầu ngày càng tăng của con người về nông phẩm và dịch vụ, vừa đáp ứng
nhu cầu của mai sau [28]; hay PTNNBV là quá trình đảm bảo hài hòa ba
nhóm mục tiêu kinh tế, xã hội và môi trường, thỏa mãn nhu cầu về nông
nghiệp hiện tại mà không tổn hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu của tương lai
[27]. Từ những quan niệm trên, PTNNBV có thể hiểu rằng: Nền nông nghiệp
phát triển bền vững phải bảo đảm được mục đích là kiến tạo một hệ thống bền
vững về mặt kinh tế, xã hội và môi trường. Về kinh tế, sản xuất nông nghiệp
phải đạt hiệu quả cao, làm ra nhiều sản phẩm, không những đáp ứng nhu cầu
tiêu dùng, thức ăn chăn nuôi, dự trữ lương thực mà còn xuất khẩu ra thị
trường quốc tế. Về xã hội, một nền nông nghiệp bền vững phải đảm bảo cho
người nông dân có đầy đủ công ăn việc làm, có thu nhập ổn định, đời sống vật
7
chất và tinh thần ngày càng được nâng cao. Phát triển nông nghiệp bền vững
về khía cạnh môi trường là không hủy hoại nguồn tài nguyên thiên nhiên, giữ
nguồn nước ngầm trong sạch và không gây ô nhiễm môi trường [37].
Chính sách phát triển nông nghiệp bền vững vừa là chính sách xã hội
vừa là chính sách kinh tế và vừa là chính sách bảo vệ môi trường nên có thể
được hiểu là tổng thể các biện pháp tác động của Nhà nước có liên quan đến
nông nghiệp và các ngành có liên quan, nhằm tác động vào nông nghiệp theo
những mục tiêu phát triển bền vững. Tùy theo định hướng mục tiêu lâu dài
hay trước mắt mà Nhà nước có những chính sách cụ thể, thích hợp tác động
vào phát triển nông nghiệp để quản lý, điều phối sự phát triển chung của nông
gia tăng và phát triển bền vững; qua đó tạo cơ sở và điều kiện để tổ chức triển
khai thực hiện tốt việc phát triển ngành nông nghiệp, góp phần thực hiện
thắng lợi sự nghiệp đổi mới dân tộc.
Tuy nhiên, việc thực hiện chính sách PTNNBV trong thời gian qua vẫn
bộc lộ nhiều hạn chế như: Tốc độ tăng trưởng của nông nghiệp có xu hướng
chậm lại; sản xuất nông nghiệp chậm phát triển theo hướng hiện đại, thiếu
tính bền vững; hiệu quả sản xuất, khả năng cạnh tranh của nhiều loại nông sản
còn thấp; an toàn vệ sinh thực phẩm, ô nhiễm môi trường vẫn là vấn đề bức
xúc trong xã hội. Quan hệ sản xuất chậm được đổi mới, kinh tế tập thể, hợp
tác xã vẫn chưa thoát khỏi tình trạng yếu kém kéo dài; quy mô sản xuất nông
nghiệp còn nhỏ lẻ, manh mún, chưa gắn được sản xuất với chế biến, tiêu thụ
và xuất khẩu. Sự gắn kết giữa công nghiệp, dịch vụ với sản xuất nông nghiệp
thiếu chặt chẽ; nghiên cứu, chuyển giao, ứng dụng tiến bộ Khoa học – Công
nghệ (KH-CN) vào sản xuất nông nghiệp chưa được coi trọng; đào tạo nghề
cho lao động nông thôn chưa đáp ứng được yêu cầu. Thu nhập và mức sống
của dân cư nông thôn còn thấp; tỷ lệ hộ nghèo, cận nghèo vẫn còn ở mức cao,
giảm nghèo ở nhiều vùng kém bền vững; chất lượng y tế, văn hóa, giáo dục ở
nhiều nơi còn thấp. Hệ thống hạ tầng nông thôn còn lạc hậu, chậm được cải
thiện. Quản lý, sử dụng tài nguyên đất đai, rừng, biển kém hiệu quả. Xây
9
dựng nông thôn mới ở nhiều nơi còn mang tính hình thức, kém chất lượng;
mục tiêu xây dựng nông thôn mới đến năm 2015 và 2020 khó đạt được nếu
không có sự chỉ đạo quyết liệt, hỗ trợ mạnh hơn về cơ chế, chính sách và
nguồn lực [33].
Nguyên nhân của những vấn đề cụ thể nêu trên đó là: Trước hết do nhận
thức của cấp uỷ Đảng, chính quyền ở một số nơi về thực hiện các chính sách
PTNNBV chưa đầy đủ, thiếu vận dụng sáng tạo vào điều kiện cụ thể của địa
phương; còn xem nhẹ vai trò của nông nghiệp, nông dân, nông thôn; việc lãnh
phó với biến đổi khí hậu, hướng đến mục tiêu phát triển bền vững đất nước
[23].
1.2.2.2. Mục tiêu cụ thể
* Giai đoạn 2011-2015: Phục hồi tăng trưởng, tăng hiệu quả sản xuất
nông nghiệp; phát huy dân chủ cơ sở, huy động sức mạnh cộng đồng để phát
triển nông thôn; tăng thu nhập, giảm đáng kể tỷ lệ nghèo, bảo vệ môi trường
Tốc độ tăng trưởng nông nghiệp ổn định 3,3-3,8%. Tạo bước đột phá
trong đào tạo nhân lực. Tạo chuyển biến rõ rệt phát triển kinh tế hợp tác, phát
triển liên kết dọc theo ngành hàng, kết nối giữa sản xuất - chế biến - kinh
doanh; phát triển doanh nghiệp nông thôn.
Hình thành kết cấu hạ tầng căn bản phục vụ sản xuất nông nghiệp, phát
triển kinh tế nông thôn. Cải thiện căn bản môi trường nông thôn; đảm bảo vệ
sinh an toàn thực phẩm, phòng chống dịch bệnh cây trồng, vật nuôi, phòng
chống thiên tai.
Cộng đồng cư dân nông thôn chủ động, tích cực thực hiện xây dựng
nông thôn mới, 20% số xã đạt tiêu chuẩn nông thôn mới. Giảm đáng kể tỷ lệ
hộ nghèo, đặc biệt ở các huyện còn trên 50% hộ nghèo.
* Giai đoạn 2016-2020: Phát triển nông nghiệp theo hướng toàn diện,
hiện đại, sản xuất hàng hóa lớn, vững bền; phát triển nông thôn gắn với quá
trình công nghiệp hóa, đô thị hóa đất nước, tăng thu nhập và cải thiện căn bản
điều kiện sống của cư dân nông thôn, bảo vệ môi trường.
11
Duy trì tốc độ tăng trưởng nông nghiệp bình quân 3,5-4%/năm. Hình
thành một số ngành sản xuất kinh doanh mũi nhọn của Việt Nam trên thị
trường quốc tế.
Cơ cấu sản xuất nông nghiệp và kinh tế nông thôn chuyển đổi theo nhu
cầu thị trường. Công nghiệp, dịch vụ và kinh tế đô thị phối hợp hiệu quả với
sản xuất, kinh doanh nông nghiệp và phát triển kinh tế nông thôn.
trong quá trình phát triển xã hội. Từ những vấn đề trên cho thấy, chính sách
PTNNBV hướng đến một số giải pháp sau:
- Giải pháp về tăng cường sự quản lý của chính quyền các cấp trong thực
hiện chính sách phát triển nông nghiệp bền vững.
- Giải pháp về phát huy vai trò công tác phổ biến, tuyên truyền trong
thực hiện chính sách phát triển nông nghiệp bền vững.
- Giảm pháp về tăng cường công tác kiểm tra, theo dõi, giám sát, tổng
kết và điều chỉnh chính sách phát triển nông nghiệp bền vững
- Giải pháp về tăng cường huy động và sử dụng các nguồn lực trong việc
thực hiện chính sách phát triển nông nghiệp bền vững
- Giải pháp đầu tư, cải thiện cơ sở hạ tầng trong thực hiện chính sách
PTNNBV
- Giải pháp về đổi mới các hình thức tổ chức kinh tế tập thể trong thực
hiện chính sách phát triển nông nghiệp bền vững
- Giải pháp về công tác quy hoạch phát triển nông nghiệp theo hướng
bền vững
Thực tiễn cho thấy, bất kỳ một chính sách nào nếu chỉ có các giải pháp
chính sách nhưng không có các công cụ chính sách thì khó thực hiện được.
Công cụ chính sách là hệ thống những phương tiện truyền dẫn các phương
thức tác động lên đối tượng chính sách, bao gồm: Công cụ dựa vào tổ chức;
công cụ dựa vào quyền lực, công cụ tài chính và công cụ truyền thông. Đối
với chính sách PTNNBV, các công cụ chính sách cụ thể là: (1) Công cụ dựa
vào tổ chức là các công cụ hành chính, tổ chức như kế hoạch, quy hoạch của
13
Nhà nước, hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật, mô hình tổ chức, bộ
máy cán bộ công chức tham gia hoạch định, triển khai chính sách; (2) Công
cụ dựa vào quyền lực là các quy định mệnh lệnh và kiểm soát, quy định về
trách nhiệm của từng cấp, từng ngành; (3) Công cụ tài chính là ngân sách, các
của những cán bộ chuyên trách. Ngoài ra, phương pháp này chưa thật sự huy
động được sự tham gia của người dân. Do đó, để đảm bảo phù hợp với tình
hình mới, cũng như mục tiêu hướng đến cộng đồng, phương pháp tiếp cận
phù hợp nhất khi thực hiện chính sách là tiếp cận theo chiều dọc (Bộ
NN&PTNT, Sở NN&PTNT cấp tỉnh/thành phố, Phòng NN&PTNT/Phòng
Kinh tế các quận, huyện, các xã – tiếp cận mang tính hai chiều), theo chiều
ngang (có sự phối hợp giữa các Bộ, các cơ quan, ban, ngành: Bộ Y tế, Bộ Tài
chính, Bộ Kế hoạch – Đầu tư, Bộ Công thương, Bộ Tư pháp), sự tham gia của
các bên liên quan, cộng đồng người dân, các tổ chức trong nước và quốc tế.
Như vậy, cách tiếp cận đối với chính sách PTNNBV đó là: Đảng Cộng
sản Việt Nam lãnh đạo Nhà nước và các tổ chức đoàn thể, CT-XH thông qua
các chiến lược, chính sách, nghị quyết về mặt chính trị. Quốc hội thực hiện
vai trò giám sát tối cao các hoạt động của Nhà nước. Bộ NN&PTNT chịu
trách nhiệm quản lý nhà nước đối với các vấn đề nông nghiệp, cùng với các
bộ ngành có liên quan khác đóng vai trò chủ chốt trong các lĩnh vực tương
ứng như Bộ Y tế, Bộ Tài chính, Bộ Công thương, Bộ Tài nguyên và Môi
trường. Chính quyền địa phương thực thi chức năng quản lý nhà nước
(QLNN) về các vấn đề nông nghiệp, xây dựng các chương trình, kế hoạch phù
hợp với tình hình, điều kiện thực tiễn ở địa phương.
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Hội Nông dân, Hội Liên hiệp Phụ nữ theo
chức năng, nhiệm vụ được giao, xây dựng kế hoạch, tổ chức tuyên truyền đến
người nông dân các chủ trương, chính sách về PTNNBV để người dân nắm
bắt và tổ chức thực hiện đạt kết quả. Bên cạnh đó, các cơ quan truyền thông
tham gia vào quá trình truyền thông trong việc phát triển nông nghiệp, bao
gồm nâng cao nhận thức trong mọi người nông dân về vấn đề PTNNBV;
đồng thời thông tin các vấn đề liên quan để người dân tiếp cận, áp dụng trong
hoạt động sản xuất.
15
quan trọng trong thực hiện chính sách. Việc phổ biến, tuyên truyền không chỉ
giúp người dân, các doanh nghiệp và toàn xã hội hiểu rõ về mục đích, yêu
cầu, tầm quan trọng của chính sách, mà còn giúp các cơ quan Nhà nước, các
cán bộ công chức, các tổ chức xã hội có trách nhiệm tổ chức thực thi chính
sách được nhận thức đầy đủ tính chất, tầm quan trọng, vai trò, quy mô của
chính sách đối với người dân và đối với toàn xã hội. Cần phải lựa chọn hình
thức, phương pháp phổ biến, tuyên truyền khác nhau nhằm tạo mối quan tâm
thúc đẩy sự thay đổi nhận thức của người nông dân, của xã hội đối với việc
PTNNBV; nghiên cứu xây dựng, phát triển các chương trình, sản xuất các sản
phẩm truyền thông về phát triển nông nghiệp bền vững cho các kênh truyền
thông đại chúng, hoạt động tư vấn, truyền thông trực tiếp thông qua hội nghị,
hội thảo.
1.3.4. Phân công, phối hợp thực hiện chính sách phát triển nông
nghiệp bền vững
Trong tổ chức và thực hiện các chính sách nói chung, chính sách
PTNNBV nói riêng thì công tác phân công, phối hợp thực hiện có ý nghĩa
quan trọng, tác động đến hiệu quả thực hiện chính sách. Muốn tổ chức thực
hiện chính sách có hiệu quả cần phải phân công, phối hợp một cách chặt chẽ,
hợp lý giữa các cơ quan quản lý ở TW và địa phương. Cần phải phân công
nhiệm vụ và trách nhiệm cụ thể của cơ quan chủ trì và cơ quan phối hợp.
Thông qua việc phân công, phối hợp thực hiện chính sách một cách khoa học
sẽ phát huy được những nhân tố tích cực, góp phần nâng cao hiệu quả thực
hiện chính sách. Trong phân công nhiệm vụ cần chú ý đến khả năng, trình độ
năng lực chuyên môn, thế mạnh của từng tổ chức, cá nhân, hạn chế tình trạng
chồng chéo nhiệm vụ và trách nhiệm không rõ ràng.
Đảng Cộng sản Việt Nam “là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội”
[29], Đảng lãnh đạo Nhà nước, các tổ chức CT-XH, các đoàn thể quần chúng
thông qua các chương trình, chính sách, nghị quyết mang tính chính trị và
18
Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện, cấp xã chịu trách nhiệm thực hiện
chính sách PTNNBV đảm bảo phù hợp với tình hình, điều kiện thực tế tại địa
phương mình theo thẩm quyền được giao.
1.3.5. Duy trì chính sách phát triển nông nghiệp bền vững
Duy trì thực hiện chính sách PTNNBV là làm cho chính sách được tồn
tại và phát triển trong môi trường thực tế. Muốn cho chính sách được duy trì
đòi hỏi phải có sự đồng tâm, hợp lực của cả người tổ chức, người thực hiện và
môi trường tồn tại. Tuy nhiên, trong thực tế khi thực thi thì lại vướng một số
hạn chế nhất định, đó có thể là do nhà hoạch định chính sách không lường hết
được kết quả ban hành chính sách hoặc do sự thay đổi môi trường chính sách
trước và sau khi ban hành. Vì vậy, các cơ quan QLNN về nông nghiệp Trung
ương cần sử dụng hệ thống, công cụ quản lý để tác động nhằm tạo lập môi
trường thuận lợi cho việc thực thi chính sách. Các tổ chức, người dân và toàn
xã hội có trách nhiệm tham gia thực hiện yêu cầu của Nhà nước; phát huy
quyền làm chủ, tăng cường thực hiện dân chủ để cùng tham gia quản lý xã
hội. Những hoạt động đồng bộ trên sẽ góp phần tích cực vào việc duy trì
chính sách PTNNBV trong quá trình phát triển xã hội.
1.3.6. Điều chỉnh chính sách phát triển nông nghiệp bền vững
Điều chỉnh chính sách PTNNBV là một hoạt động cần thiết, diễn ra
thường xuyên trong tiến trình tổ chức thực hiện chính sách, nhằm mục đích
đảm bảo cho chính sách phù hợp với yêu cầu quản lý và tình hình thực tế. Nó
được thực hiện bởi cơ quan QLNN về nông nghiệp. Theo quy định, cơ quan
nào ban hành chính sách thì cơ quan đó điều chỉnh, bổ sung chính sách.
Nhưng trên thực tế việc điều chỉnh cơ chế, biện pháp chính sách diễn ra khá
linh hoạt, vì thế các cơ quan QLNN về nông nghiệp của từng địa phương cần
chủ động điều chỉnh cơ chế chính sách cho phù hợp với tình hình, điều kiện