Chính sách phát triển nông nghiệp bền vững từ thực tiễn tỉnh Quảng Nam - Pdf 46

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

PHẠM VĂN CHIẾN

CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP
BỀN VỮNG TỪ THỰC TIỄN
TỈNH QUẢNG NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG

Hà Nội, năm 2017


VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

PHẠM VĂN CHIẾN

CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP
BỀN VỮNG TỪ THỰC TIỄN
TỈNH QUẢNG NAM
Chuyên ngành: Chính sách công
Mã số: 60.34.04.02

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS. TS. NGUYỄN TRỌNG XUÂN


Phạm Văn Chiến


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU .................................................................................................................. 1
CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CHÍNH SÁCH PHÁT
TRIỂN NÔNG NGHIỆP BỀN VỮNG .................................................................. 7
1.1. Một số khái niệm ................................................................................................ 7
1.2. Đặc điểm, vai trò và các yếu tố ảnh hưởng tới chính sách phát triển nông
nghiệp bền vững ...................................................................................................... 12
1.3. Nội dung chính sách phát triển bền vững nông nghiệp và các văn bản liên quan
đến phát triển nông nghiệp bền vững ở nước ta ...................................................... 16
1.4. Kinh nghiệm về chính sách phát triển bền vững nông nghiệp ......................... 23
CHƯƠNG 2. THỰC TRẠNG CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP
BỀN VỮNG Ở TỈNH QUẢNG NAM .................................................................. 26
2.1. Khái quát về tỉnh Quảng Nam .......................................................................... 26
2.2. Khái quát về sản xuất nông nghiệp Quảng Nam.............................................. 30
2.3. Một số chính sách và thực trạng thực hiện chính sách phát triển bền vững nông
nghiệp tỉnh Quảng Nam .......................................................................................... 34
2.4. Đánh giá chung về thực hiện chính sách phát triển bền vững nông nghiệp tỉnh
Quảng Nam ............................................................................................................. 56
CHƯƠNG 3. GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CHÍNH SÁCH NHẰM TIẾP TỤC
THÚC ĐẨY PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP THEO HƯỚNG BỀN VỮNG
TẠI TỈNH QUẢNG NAM .................................................................................... 64
3.1. Định hướng, mục tiêu phát triển và quan điểm chung về hoàn thiện chính sách phát
triển nông nghiệp theo hướng bền vững tại tỉnh Quảng Nam trong thời gian tới ....... 64
3.2. Giải pháp hoàn thiện chính sách thúc đẩy phát triển nông nghiệp theo hướng
bền vững tại tỉnh Quảng Nam ................................................................................. 68
KẾT LUẬN ............................................................................................................ 78


2.4.

Cơ cấu nội bộ ngành lâm nghiệp 2007-2015

40

2.5.

Thực trạng sử dụng đất đai tỉnh Quảng Nam

41

2.6.

Xuất khẩu nông sản tỉnh Quảng Nam giai đoạn 2011-2015

48

3.1.

Ma trận SWOT về phát triển bền vững nông nghiệp tỉnh
Quảng Nam

64


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Nông nghiệp là một trong những ngành kinh tế quan trọng của nền kinh tế

tinh thần của dân cư nông thôn, hài hoà giữa các vùng, tạo sự chuyển biến nhanh
hơn ở các vùng còn nhiều khó khăn, nông dân được đào tạo có trình độ sản xuất
ngang bằng với các nước tiên tiến trong khu vực và đủ bản lĩnh chính trị, đóng vai
trò làm chủ nông thôn mới. Xây dựng nền nông nghiệp phát triển toàn diện theo
hướng hiện đại, bền vững, sản xuất hàng hoá lớn, có năng suất, chất lượng, hiệu
quả và khả năng cạnh tranh cao, đảm bảo vững chắc an ninh lương thực quốc gia
cả trước mắt và lâu dài“ [9, tr.3].
Ngày 17/8/2004, Thủ tướng Chính phủ cũng đã ban hành Quyết định số
153/2004/QĐ-TTg về định hướng chiến lược phát triển bền vững ở Việt Nam.
Trong đó khẳng định phải phát triển nông nghiệp theo yêu cầu bền vững và đề ra
những vấn đề cần ưu tiên trong phát triển nông nghiệp bền vững ở nước ta.
Ngày 10/6/2013, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 899/QĐ-TTg về
phê duyệt Đề án tái cơ cấu ngành nông nghiệp theo hướng nâng cao giá trị gia tăng
và phát triển bền vững, trong đó tiếp tục xác định “Tái cơ cấu ngành nông nghiệp là
một hợp phần của tái cơ cấu tổng thể nền kinh tế quốc dân, phù hợp với chiến lược
và kế hoạch phát triển KT- XH của cả nước, gắn với phát triển KT-XH và bảo vệ
môi trường để đảm bảo phát triển bền vững; phát triển bền vững vừa là một quá
trình, vừa là mục tiêu của ngành”.
Quảng Nam là một tỉnh ven biển thuộc vùng phát triển kinh tế trọng điểm
của miền Trung, phía Bắc giáp thành phố Đà Nẵng, phía Đông giáp biển Đông với
trên 125 km bờ biển, phía Tây giáp tỉnh Kon Tum và nước cộng hoà Dân chủ Nhân
dân Lào, phía Nam giáp tỉnh Quảng Ngãi. Quảng Nam có lực lượng lao động dồi
dào, với trên 887.000 người (chiếm 62% dân số toàn tỉnh), trong đó lao động ngành
nông nghiệp chiếm 61,57% [47]. Trong những năm qua, nông nghiệp của tỉnh đã
đạt được nhiều thành tựu nhất định, phát triển với tốc độ khá, giá trị sản xuất bình
quân tăng từ 4-5%/năm [6]; sản xuất nông nghiệp được đầu tư thâm canh, chú trọng
công tác chuyển đổi cơ cấu cây trồng và sử dụng các loại giống có năng năng suất,
chất lượng mang lại hiệu quả kinh tế, thu nhập cho người nông dân. Kết cấu hạ tầng
kinh tế - xã hội được tăng cường, bộ mặt nông thôn có nhiều thay đổi, khởi sắc.


Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
- Tập bài giảng về phát triển bền vững ở Việt Nam, gồm 5 tập thuộc dự án

3


VIE/01/05 do nhiều cơ quan như Trường đại học Kinh tế quốc dân, Học viện
Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh... biên soạn, Nxb Kinh tế quốc dân
năm 2006.
- Một số giải pháp chủ yếu nhằm phát triển nông nghiệp ở tỉnh Quảng Nam
theo hướng bền vững, Đề tài nghiên cứu khoa học cấp học viện, Chủ nhiệm đề tài:
ThS Trần Đình Chính, Học viện Chính trị - Hành chính khu vực III.
- Hoàng Thị Chính (2010), Để nông nghiệp phát triển bền vững, Tạp chí Phát
triển kinh tế số tháng 6 - 2010.
Các công trình, bài viết nghiên cứu trên đề cập đến nhiều vấn đề lý luận và
thực tiễn phát triển nông nghiệp theo hướng bền vững ở nước ta. Các tác giả đã nêu
những lý luận cơ bản nhất về phát triển nông nghiệp, đánh giá thực trạng phát triển
nông nghiệp nước ta trong thời gian qua và đưa ra những giải pháp rất quan trọng
về quản lý nhà nước để phát triển nông nghiệp Việt Nam trong những năm tới.
Tuy vậy, cho đến nay chưa có công trình nghiên cứu nào được công bố về
chính sách phát triển nông nghiệp bền vững từ thực tiễn tỉnh Quảng Nam. Vì vậy,
tôi chọn đề tài: “Chính sách phát triển nông nghiệp bền vững từ thực tiễn tỉnh
Quảng Nam” làm luận văn thạc sĩ của mình, luận văn thực hiện có sự kế thừa, phát
triển những thành quả của các đề tài liên quan trước đó để đánh giá, phân tích, từ đó
đề xuất các giải pháp phù hợp với tình hình thực tế của tỉnh.
3. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục tiêu nghiên cứu
Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn chính sách phát triển nông nghiệp theo
hướng bền vững từ thực tiễn tỉnh Quảng Nam, từ đó kiến nghị các giải pháp hoàn
thiện một số chính sách thúc đẩy phát triển nông nghiệp trên địa bàn tỉnh theo

xuống (top-down), cụ thể là từ thực tiễn thực hiện chính sách ở địa bàn nghiên cứu
(tỉnh Quảng Nam) đối chiếu, so sánh với chính sách vĩ mô (quốc gia) và trên cơ sở
đó có ý kiến đề xuất hoàn thiện chính sách vĩ mô tạo môi trường chính sách thuận
lợi hơn cho việc thực hiện chính sách ở tỉnh và cụ thể hóa thực hiện chính sách ở
tỉnh Quảng Nam.
4.2. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp phân tích chính sách được sử dụng trong đánh giá các chính
sách được đề cập kết hợp với phương pháp phân tích SWOT.
Phương pháp phân tích SWOT (Strengths, Weakneses, Opporturnites,

5


Threats) là phương pháp khá thông dụng trong phân tích chính sách cũng được sử
dụng để khái quát, tổng hợp các mặt được và chưa được cũng như các thách thức,
cơ hội mà chính sách phát triển nông nghiệp cần tính đến.
- Phương pháp thu thập thông tin, phân tích và tổng hợp, được sử dụng để
thu thập, phân tích và khai thác thông tin từ các nguồn có sẵn liên quan đến đề tài
nghiên cứu, bao gồm các văn kiện, tài liệu, Nghị quyết, Quyết định của Đảng, Nhà
nước, Bộ, ngành ở trung ương và địa phương; các công trình nghiên cứu, các báo
cáo, tài liệu thống kê của chính quyền, ban ngành đoàn thể, tổ chức, cá nhân liên
quan trực tiếp hoặc gián tiếp tới vấn đề chính sách phát triển nông nghiệp bền vững
ở nước ta nói chung và thực tế ở tỉnh Quảng Nam nói riêng. Đồng thời, thu thập các
tài liệu của các tổ chức và học giả quốc tế liên quan đến đề tài trong thời gian qua.
- Kết hợp cùng với các phương pháp thống kê, phương pháp phân tích định
tính, suy luận logic, diễn giải trong quá trình phân tích, đánh giá chính sách.
5. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
5.1. Ý nghĩa lý luận
Hệ thống hóa một số cơ sở lý luận và nghiên cứu thực tiễn, rút ra bài học
kinh nghiệm từ thực tiễn (quốc tế, Việt Nam) về hoạch định và thực hiện chính sách

Trong nông nghiệp cũng có hai loại chính, việc xác định sản xuất nông
nghiệp thuộc dạng nào cũng rất quan trọng:
- Nông nghiệp thuần nông hay nông nghiệp sinh nhai là lĩnh vực sản xuất
nông nghiệp có đầu vào hạn chế, sản phẩm đầu ra chủ yếu phục vụ cho chính gia
đình của mỗi người nông dân, không có sự cơ giới hóa trong nông nghiệp sinh nhai.
- Nông nghiệp chuyên sâu là lĩnh vực sản xuất nông nghiệp được chuyên
môn hóa trong tất cả các khâu sản xuất nông nghiệp, gồm cả việc sử dụng máy móc
trong trồng trọt, chăn nuôi hoặc trong quá trình chế biến sản phẩm nông nghiệp.
Nông nghiệp chuyên sâu có nguồn đầu vào sản xuất lớn, bao gồm cả việc sử dụng
hóa chất diệt sâu, diệt cỏ, phân bón, chọn lọc, lai tạo giống, nghiên cứu các giống
mới và mức độ cơ giới hóa cao. Sản phẩm đầu ra chủ yếu dùng vào mục đích
thương mại, làm hàng hóa bán ra trên thị trường hay xuất khẩu. Các hoạt động trên
trong sản xuất nông nghiệp chuyên sâu là sự cố gắng tìm mọi cách để có nguồn thu
nhập tài chính cao nhất từ ngũ cốc, các sản phẩm được chế biến từ ngũ cốc hay vật
nuôi…

7


Nông nghiệp hiện đại vượt ra khỏi sản xuất nông nghiệp truyền thống, loại
sản xuất nông nghiệp chủ yếu tạo ra lương thực cho con người hay làm thức ăn cho
các con vật. Các sản phẩm nông nghiệp hiện đại ngày nay, ngoài lương thực, thực
phẩm truyền thống phục vụ cho con người còn các loại khác như: sợi dệt (sợi bông,
sợi len, lụa, sợi lanh), chất đốt (metan, dầu sinh học, ethanol ...), da thú, cây cảnh,
sinh vật cảnh, chất hóa học (tinh bột, đường, mì chính, cồn, nhựa thông), lai tạo
giống, các chất gây nghiện cả hợp pháp và không hợp pháp như (thuốc lá,
cocaine...)
Thế kỷ 20 đã trải qua một sự thay đổi lớn trong sản xuất nông nghiệp, đặc
biệt là sự cơ giới hóa trong nông nghiệp và ngành sinh hóa trong nông nghiệp. Các
sản phẩm sinh hóa nông nghiệp gồm các hóa chất để lai tạo, gây giống, các chất trừ

là nền nông nghiệp thoả mãn được các yêu cầu của thế hệ hiện nay, mà không giảm
khả năng ấy đối với các thế hệ mai sau. Điều đó có nghĩa là nền nông nghiệp không
những cho phép các thế hệ hiện nay khai thác tài nguyên thiên nhiên để phát triển
nông nghiệp vì lợi ích của họ mà còn duy trì được khả năng ấy cho các thế hệ mai
sau [35].
Từ những phân tích trên, Luận văn tiếp cận phát triển nông nghiệp bền vững
như sau: Phát triển nông nghiệp bền vững là sự gia tăng về chất lượng và số lượng
của các ngành sản xuất nông nghiệp nhờ khai thác, sử dụng những yếu tố nguồn
lực nhằm đáp ứng nhu cầu về lương thực, thực phẩm của con người trong hiện tại
mà không làm ảnh hưởng tới sự phát triển kinh tế - xã hội và bảo đảm môi trường
sống của các thế hệ mai sau [14].
1.1.4. Khái niệm chính sách và chính sách phát triển nông nghiệp bền
vững
1.1.4.1. Khái niệm chính sách
- Chính sách là thuật ngữ được sử dụng rộng rãi trong đời sống kinh tế - xã
hội. Tuy nhiên, qua tìm hiểu các tài liệu, các nghiên cứu cho thấy khái niệm chính
sách được thể hiện khác nhau: "Chính sách là những sách lược và kế hoạch cụ thể
nhằm đạt một mục đích nhất định, dựa vào đường lối chính trị chung và tình hình
thực tế mà đề ra"; “Chính sách là các chủ trương và các biện pháp của một Đảng
phái, một Chính phủ trong các lĩnh vực chính trị - xã hội”...Từ điển Bách khoa Việt
Nam đã đưa ra khái niệm về chính sách như sau: "Chính sách là những chuẩn tắc cụ
thể để thực hiện đường lối, nhiệm vụ. Chính sách được thực hiện trong một thời
gian nhất định, trên những lĩnh vực cụ thể nào đó. Bản chất, nội dung và phương
hướng của chính sách tùy thuộc vào tính chất của đường lối, nhiệm vụ chính trị,
kinh tế, văn hóa của Đảng"

10


Tuy nhiên, hiện nay vẫn còn sự giao thoa trong quan niệm về Quyết sách



1.2. Đặc điểm, vai trò và các yếu tố ảnh hưởng tới chính sách phát triển
nông nghiệp bền vững
1.2.1. Đặc thù nông nghiệp
Nông nghiệp là ngành sản xuất vật chất chủ yếu của xã hội. Sản xuất nông
nghiệp có những đặc thù mà các ngành sản xuất khác không thể có, đó là:
+ Sản xuất nông nghiệp được tiến hành trên địa bàn rộng lớn, phức tạp, phụ
thuộc vào điều kiện tự nhiên nên mang tính khu vực rõ rệt. Đặc biệt trên thực tế cho
thấy ở đâu có đất và lao động thì có thể tiến hành sản xuất nông nghiệp. Thế nhưng
ở mỗi vùng, mỗi quốc gia có điều kiện đất đai và thời tiết - khí hậu rất khác nhau,
lịch sử hình thành các loại đất, quá trình khai phá và sử dụng các loại đất ở các địa
bàn có địa hình khác nhau, ở đó diễn ra các hoạt động nông nghiệp cũng không
giống nhau. Điều kiện thời tiết khí hậu với lượng mưa, nhiệt độ, độ ẩm, ánh Sáng
v.v. trên từng địa bàn gắn rất chặt chẽ với điều kiện hình thành và sử dụng đất. Do
điều kiện đất đai khí hậu không giống nhau giữa các vùng đã làm cho nông nghiệp
mang tính khu vực rất rõ nét.
+ Ruộng đất là tư liệu sản xuất chủ yếu không thể thay thế được. Đất đai là
điều kiện cần thiết cho tất cả các ngành sản xuất, nhưng nội dung kinh tế của nó lại
rất khác nhau. Trong công nghiệp, giao thông v.v. đất đai là cơ sở làm nền móng,
trên đó xây dựng các nhà máy, công xưởng, hệ thống đường giao thông. Trong nông
nghiệp, đất đai có nội dung kinh tế khác, nó là tư liệu sản xuất chủ yếu không thể
thay thế được. Ruộng đất bị giới hạn về mặt diện tích, con người không thể tăng
theo ý muốn chủ quan, nhưng sức sản xuất ruộng đất là chưa có giới hạn, nghĩa là
con người có thể khai thác chiều sâu của ruộng đất nhằm thỏa mãn nhu cầu tăng lên
của loài người về nông sản phẩm. Chính vì thế trong quá trình sử dụng phải biết quý
trọng ruộng đất, sử dụng tiết kiệm, hạn chế việc chuyển đất nông nghiệp sang xây
dựng cơ bản, tìm mọi biện pháp để cải tạo và bồi dưỡng đất làm cho ruộng đất ngày
càng màu mỡ hơn.
+ Đối tượng của sản xuất nông nghiệp là cơ thể sống - cây trồng và vật nuôi.

được giải phóng ngày càng nhiều. Số lao động này dịch chuyển, bổ sung cho phát
triển công nghiệp và đô thị. Đó là xu hướng có tính quy luật của mọi quốc gia trong
quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước; (3) Cung cấp nguồn vốn rất lớn
trong giai đoạn đầu của công nghiệp hoá, nguồn vốn từ nông nghiệp được tạo ra

13


bằng nhiều cách, như tiết kiệm của nông dân đầu tư vào các hoạt động phi nông
nghiệp, thuế nông nghiệp, ngoại tệ thu được do xuất khẩu nông sản v.v...
- Là ngành mang lại nguồn thu ngoại tệ cho đất nước. Trong thực tế, các mặt
hàng nông sản dễ dàng thâm nhập thị trường thế giới hơn các sản phẩm công
nghiệp. Vì thế, đối với các nước đang phát triển trong giai đoạn đầu của thời kỳ
công nghiệp hóa, hiện đại hóa luôn coi nông nghiệp là nguồn thu ngoại tệ quan
trọng để phục vụ cho sản xuất công nghiệp. Xu hướng chung ở các nước này trong
quá trình công nghiệp hoá, ở giai đoạn đầu giá trị xuất khẩu nông lâm, thuỷ sản
chiếm tỷ trọng cao trong tổng kim ngạch xuất khẩu và tỷ trọng đó sẽ giảm dần cùng
với sự phát triển cao của nền kinh tế. Tuy nhiên, đối với các nước có lợi thế về sản
xuất nông nghiệp nếu thực hiện đa dạng hoá sản xuất và xuất khẩu nhiều loại nông
lâm thuỷ sản trên cơ sở tăng cường chế biến sâu các sản phẩm này vẫn có thể duy
trì mức độ đóng góp cao của nông nghiệp đối với nguồn thu ngoại tệ cho đất nước.
1.2.2.2. Đối với ổn định chính trị - xã hội
Phát triển bền vững nông nghiệp là điều kiện cơ bản để tạo công ăn việc làm
cho dân cư. Với một nền nông nghiệp phát triển bền vững hay nói cách khác, nếu
ngay tại địa bàn nông thôn, người nông dân có việc làm ổn định và có cơ hội tạo ra
nguồn thu nhập cao cho bản thân và gia đình, thì chắc chắn sẽ không có tình trạng
lao động nông thôn ồ ạt đổ ra thành thị kiếm việc làm. Điều đó chứng minh rằng,
nếu nông nghiệp được phát triển một cách hợp lý sẽ góp phần đáng kể trong việc
giữ vững ổn định chính trị - xã hội. Bên cạnh đó, nếu cơ hội làm giàu của dân cư
nông thôn không thua kém so với dân cư thành thị, thì đó chính là sự công bằng về

sự quan tâm đến định hướng chiến lược phát triển kinh tế trọng điểm và điểm mạnh
của quốc gia mình, có những cơ chế chính sách phù hợp và đầu tư nguồn lực đảm
bảo cho sự phát triển chung mà mục tiêu chính phủ đã lựa chọn.
- Đặc điểm và thực trạng kinh tế - xã hội của mỗi địa phương chịu sự tác
động của trình độ phát triển kinh tế xã hội của cả nước. Yếu tố này luôn tác động
mạnh mẽ tới sự hình thành và phát triển nông nghiệp bền vững, bao gồm: thị
trường, hệ thống chính Sách Vĩ mô của Nhà nước, cơ sở hạ tầng, Sự phát triển các
khu công nghiệp, đô thị, dân số, lao động bao gồm cả số lượng và chất lượng (trình
độ dân trí, trình độ chuyên môn, tập quán sản xuất...).
- Quá trình toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế tác động mạnh đến chính sách

15


phát triển nông nghiệp, nó chi phối mạnh mẽ các chính sách nông nghiệp, chẳng
hạn như chính sách nhằm nâng cao năng suất lao động, chất lượng sản phẩm, hạ giá
thành nông sản. Do vậy, trong xu thế toàn cầu hóa hiện nay, nông nghiệp nước ta
cần có những đổi mới căn bản và toàn diện để theo kịp và bắt nhịp với sự phát triển
chung của thế giới và tạo ra cho mình có những đặt trưng riêng tạo thành thế mạnh
trong nền sản xuất nông nghiệp chung của thế giới.
1.3. Nội dung chính sách phát triển bền vững nông nghiệp và các văn
bản liên quan đến phát triển nông nghiệp bền vững ở nước ta
1.3.1. Chính sách phát triển bền vững nông nghiệp về kinh tế
(1) Tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Phát triển bền vững nông nghiệp về mặt kinh tế đòi hỏi duy trì tăng trưởng
kinh tế của ngành ổn định. Chuyển đổi mô hình tăng trưởng nông nghiệp từ chiều
rộng sang chiều sâu, qua đó nâng cao chất lượng tăng trưởng của ngành nông
nghiệp. Từng bước chuyển dịch cơ cấu kinh tế nội ngành, nâng cao giá trị gia tăng
trên đơn vị diện tích, giá trị gia tăng các lĩnh vực dịch vụ nông nghiệp, dịch vụ lâm
nghiệp, dịch vụ thủy sản. Từng bước nâng cao tỷ trọng của các sản phẩm nông

không gây hại cho sức khỏe con người có thể yêu cầu giảm phân bón, thuốc trừ sâu
và hóa chất khác. Để đảm bảo sức khỏe con người, cũng có thể ban hành các quy
định yêu cầu thực phẩm có chứa các chất dinh dưỡng nhất định thông qua việc làm
giàu và thành phần của sản phẩm.
Các quy định và tiêu chuẩn môi trường cần phải được đầu tư để thực hiện
theo các quy định sản xuất và chế biến phục vụ phát triển nông nghiệp bền vững,
điều này đòi hỏi vốn đầu tư, tăng chi phí của người nông dân và ảnh hưởng đến khả
năng cạnh tranh của sản phẩm trong ngắn hạn. Đó là lý do cần có chính sách hỗ trợ
ban đầu cho việc xây dựng và phát triển các mô hình sản xuất nông nghiệp bền
vững 2. Các chính sách phát triển mô hình sản xuất nông nghiệp hướng đến bền
vững tập trung vào việc thí điểm, nhân rộng các mô hình sản xuất như VietGAP,
sinh thái, hữu cơ, kinh tế trang trại, nông nghiệp công nghệ cao. Những chính sách
phát triển mô hình sản xuất có sự gắn kết giữa các chính sách về kinh tế, xã hội, môi
trường.

1
2

Bùi Đức Hùng và cộng sự (2016)
Bùi Đức Hùng và cộng sự (2016)

17


(4) Huy động vốn, chính sách tín dụng
Thực hiện phát triển bền vững, tăng trưởng xanh trong nông nghiệp đòi hỏi
một nguồn vốn đầu tư lớn, cả nguồn vốn ngân sách nhà nước và nguồn vốn khu vực
tư nhân. Chính sách huy động vốn, tín dụng phải hình thành khung chính sách tài
chính cho phát triển bền vững trong nông nghiệp ở các mảng: Xây dựng khung
chính sách phân bổ và quản lý ngân sách quốc gia phục vụ thực hiện phát triển bền


(6) Ứng dụng khoa học công nghệ, cơ giới hóa trong sản xuất nông nghiệp
Phát triển bền vững nông nghiệp có thể cung cấp một mô hình mới cho
nghiên cứu nông nghiệp với trọng tâm là các yêu cầu về môi trường vì lợi ích của
an ninh lương thực và nâng cao năng suất. Nghiên cứu và phát triển (R&D) có thể
cải thiện hiệu suất môi trường của hệ thống canh tác thông qua đổi mới kỹ thuật,
công nghệ thông tin và công nghệ sinh học. Công nghệ mới có thể giảm tải của chất
độc trong sản xuất nông nghiệp, thay thế giải pháp thay thế an toàn hơn, bảo vệ bề
mặt đất, nước hay vùng biển, bảo tồn môi trường sống tự nhiên, giảm suy thoái đất,
giảm phát thải khí nhà kính và giảm lượng năng lượng không tái tạo được sử dụng
trong quá trình sản xuất nông nghiệp. Những đổi mới bao hàm sự thay đổi thực
hành nông nghiệp hiện tại và sử dụng các công nghệ khác nhau để nâng cao năng
suất tài nguyên và hiệu quả sinh thái.
1.3.2 Chính sách phát triển bền vững nông nghiệp về xã hội
(1) Chính sách bảo hiểm nông nghiệp
Bảo hiểm trong nông nghiệp là công cụ nhằm tạo điểm tựa để người nông
dân yên tâm mở rộng sản xuất nông nghiệp, phát triển nông thôn, giảm thiểu rủi ro,
các cú sốc trong nông nghiệp. Hiện nay, lĩnh vực bảo hiểm nông nghiệp trở thành
một phần không nhỏ trong hoạt động thị trường bảo hiểm nói chung với cách thức
tổ chức linh hoạt và chuyên nghiệp, với nòng cốt thực hiện thành công là vai trò kết
hợp giữa nhà nước với các doanh nghiệp bảo hiểm tư nhân.
(2) Giảm nghèo, nâng cao thu nhập và an sinh xã hội
Một trong những nhiệm vụ của phát triển nông nghiệp bền vững đòi hỏi từng
bước nâng cao thu nhập của người nông dân, giảm mạnh các hộ nghèo trong sản
xuất nông nghiệp. Đồng thời, phát triển bền vững nông nghiệp phải giải quyết tốt
các vấn đề về an sinh xã hội, giáo dục, y tế, cơ sở hạ tầng nông thôn. Chỉ tiêu đánh
giá mức độ phát triển của khu vực nông nghiệp, nông thôn về mặt xã hội đó là thu
nhập bình quân đầu người không ngừng cải thiện; trường học các cấp đáp ứng nhu
cầu của nhân dân; tỷ lệ hộ nghèo giảm dần; dịch vụ y tế từng bước cải thiện.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status