VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
CÙ NGỌC BÌNH
PHÁT TRIỂN CỘNG ĐỒNG ĐỐI VỚI NGƯỜI NGHÈO
TỪ THỰC TIỄN HUYỆN ĐỨC HUỆ, TỈNH LONG AN
Chuyên ngành: Công tác xã hội
Mã số: 60. 90. 01. 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ CÔNG TÁC XÃ HỘI
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS. TS. NGUYỄN HỮU MINH
HÀ NỘI – 2016
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn này, trước tiên tôi xin bày tỏ lòng biết ơn đến
các quý thầy cô đang giảng dạy và công tác tại Học viện Khoa học xã hội Việt
Nam (GASS) và các quý thầy cô Học viện xã hội Châu Á (ASIA) đã giảng
dạy cho chúng tôi trong suốt chương trình học ngành cao học CTXH của Học
viện Khoa học xã hội. Những kiến thức nhận được từ sự truyền đạt của quý
thầy cô qua nhiều môn học là nền tảng triết lý cho tôi học tập và thực hiện
nghiên cứu luận văn này.
Tôi cũng xin chân thành cảm ơn các đồng nghiệp, các nhà lãnh đạo,
quản lý, phòng ban và đội ngũ Cán bộ Lao động-Thương binh và Xã hội ở xã,
thị trấn, huyện Đức Huệ đã nhiệt tình giúp đỡ và cung cấp thông tin và hỗ trợ
phát triển cộng đồng.......................................................................................... 54
Chương 3: ĐỊNH HƯỚNG GIẢI PHÁP NÂNG CAO PHÁT TRIỂN CỘNG
ĐỒNG ĐỐI VỚI NGƯỜI NGHÈO TỪ THỰC TIỄN HUYỆN ĐỨC HUỆ,
TỈNH LONG AN ............................................................................................................ 66
3.1. Định hướng chiến lược quốc gia ................................................................ 66
3.2. Giải pháp nâng cao phát triển cộng đồng .................................................. 70
KẾT LUẬN ...................................................................................................................... 75
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ................................................................... 77
PHỤ LỤC
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
ABCD
Asset Based Community Development
(Phát triển cộng đồng dựa vào nội lực)
ASXH
An sinh xã hội
BHXH
Bảo hiểm xã hội
BHYT
Bảo hiểm y tế
Lao động - Thương binh và Xã hội
LKH
Lập kế hoạch
MTQGGN
Mục tiêu quốc gia giảm nghèo
NHCSXH
Ngân hàng Chính sách xã hội
PRA
Participatory Rural Appraisal
(Đánh giá nhanh có sự tham gia)
THCS
Trung học cơ sở
THPT
Trung học phổ thông
UBND
Ủy Ban nhân dân
nghèo, đạt tỷ lệ 11% dân số.
Nghèo đói ở các quốc gia đang là vấn đề có tính toàn cầu. Nó hiện tồn
tại phổ biến ở các quốc gia đang phát triển thuộc châu Á, châu Phi và châu
Mỹ La Tinh. Việc giải quyết nghèo đói ở các quốc gia còn là quá trình lâu dài
và khó khăn ở ngay chính các quốc gia có nền kinh tế phát triển nhất, chẳng
hạn Mỹ và Canada. Do tác động mạnh mẽ của các điều kiện tự nhiên và dân
cư mới, nghèo đói ở các dân tộc đã và đang là thách thức lớn đối với CĐ các
nước thế giới thứ ba và các nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam và các
nước Đông Nam Á láng giềng.
Huyện Đức Huệ, có diện tích tự nhiên 43.162,9 ha, bắc giáp tỉnh Tây
Ninh, đông giáp huyện Đức Hoà theo ranh giới sông Vàm Cỏ Đông, nam giáp
1
huyện Thủ Thừa, tây giáp tỉnh SvâyRiêng (Campuchia). Đường biên giới Việt
Nam - Campuchia thuộc phần đất Đức Huệ dài gần 30 km. Tính đến tháng 12
năm 2014 dân số Đức Huệ khoảng 60.197 người. Là huyện khó khăn và
nghèo nhất của tỉnh Long An, cơ sở hạ tầng chưa được đầu tư hoàn thiện nên
khả năng giao lưu đường bộ còn hạn chế. Vùng đất bị nhiễm phèn, phân bố
không đều đang xen giữa giồng, bưng, trũng nên sẽ gây khó khăn cho phát
triển nông nghiệp theo vùng. Đặc biệt huyện là vùng có nguồn nước ngầm rất
thấp và có độ khoáng cao. Do đó, khi phát triển cần tận dụng nguồn nước mặt
từ Hồ dầu tiếng. Trong huyện có 16.739 hộ/60.197 nhân khẩu, cuộc sống của
người nhân sống chủ yếu bằng nghề làm thuê và công việc không ổn định, hộ
nghèo chiếm 1.985 hộ/6.347 nhân khẩu, chiếm tỷ lệ 11,86%, hộ cận nghèo
chiếm 1.467hộ/5.460 nhân khẩu, chiếm tỷ lệ 8,76%. Mặc dù địa phương đã
có những chính sách và các giải pháp nhưng kết quả giảm nghèo vẫn còn thấp
trong CĐ có những nét văn hóa phong tục tập quán có lối sống khác nhau,
nên công tác thoát nghèo ở địa phương còn gặp nhiều khó khăn.
lực, có khả năng hay chắc chắn làm tăng năng lực cho CĐ và thúc đẩy người
dân tạo ra sự thay đổi đầy ý nghĩa từ bên trong CĐ, thay vì nhắm vào nhu cầu
của CĐ những mặt thiếu sót, khiếm khuyết và các vấn đề khác, cách tiếp cận
ABCD giúp CĐ trở nên mạnh mẽ hơn và tự lực tự cường hơn qua việc khám
phá, liệt kê, nhận dạng và huy động tất cả nguồn lực tại chỗ của CĐ. Phương
pháp ABCD tăng năng lực của cá nhân về mối quan hệ và mối quan hệ xã hội
mà nó truyền lửa cho các hội đoàn thể địa phương nhận thức về vai trò khả
năng của CĐ trong việc lèo lái tiến trình phát triển huy động những nguồn lực
hiện có nhưng không được nhận ra và không được tận dụng, vì thế không đáp
ứng và tạo cơ hội cho người dân điạ phương.
Bên cạnh đó tác giả Hồ Thanh Mỹ Phương (2006),Câu chuyện về huy
động nội lực để phát triển CĐ, cũng đã đề cập tới thực trạng về PTCĐ đang
diễn ra như thế nào. Bằng việc kết hợp sử dụng lồng ghép giữa phương pháp
3
nghiên cứu định tính và định lượng, phương pháp bảng hỏi, phương pháp
phỏng vấn sâu, phương pháp quan sát, tác giả đã tìm hiểu và phân tích về thực
trạng đói nghèo: về thu nhập, mức chi tiêu của hộ gia đình và về điều kiện
sinh hoạt của hộ gia đình.
Cùng với những nghiên cứu trên, còn có những tổ chức các hội thảo
báo cáo về vấn đề như “Nghiên cứu tiếp cận và thử nghiệm phương pháp đo
lường nghèo đa chiều tại thành phố Hồ Chí Minh” về thu thập thông tin về
nghèo đa chiều ở thành phố Hồ Chí Minh - kinh nghiệm và tương lai của tác
giả Nguyễn Bùi Linh, Phạm Minh Thu, Richard Colin Marshall và “ Nghiên
cứu tiếp cận giảm nghèo đa chiều và các lựa chọn chính sách của thành phố
Hồ Chí Minh, Nghèo đa chiều ở thành phố Hồ Chí Minh phát hiện từ các
cuộc điều tra cho đề xuất chính sách và hỗ trợ trong tương lai” của tác giả Lê
Thanh Sang, Nguyễn Tiên Phong, Nguyễn Bùi Linh, Richard Colin Marshall,
cụ thể từ các nguồn vốn chưa có quy định thể chế hóa, nguồn lực chủ yếu tập
trung vào xây dựng cơ bản mà ít chú trọng đến hợp phần sản xuất. Công tác
giám sát đánh giá sử dụng nguồn lực vẫn còn nhiều hạn chế, tất cả các yếu tố
trên dẫn đến công tác giảm nghèo chưa đạt hiệu quả như mong muốn, người
dân được hưởng nhiều chương trình hỗ trợ giảm nghèo, thoát nghèo nhưng
thực tế không cải thiện
Như vậy thông qua những công trình nghiên cứu đánh giá về vấn đề
xóa đói giảm nghèo ở nước ta thấy được những thành tựu trong công cuộc
xóa đói giảm nghèo mà Đảng và nhà nước đã đạt được trong suốt thời gian
qua. Đời sống của người dân nhất là nguời nghèo, người dân tộc thiểu số đã
được cải thiện theo hướng tốt lên, song vẫn còn tồn tại những bất hợp lý từ
những chính sách đang hỗ trợ, những bất cập, rào cản khiến người nghèo khó
vươn lên. Qua các nghiên cứu đã khái quát về hiện trạng nghèo của nước ta và
những cơ hội thách thức trong thời gian tới là nền tảng và tiền đề cho tác giả
5
trong việc nghiên cứu về “Phát triển cộng đồng đối với người nghèo từ thực
tiễn huyện Đức Huệ, tỉnh Long An” đạt được tốt hơn.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu nhằm đánh giá thực trạng nghèo, nguyên nhân cản trở, nắm
rõ được thực trạng nghèo của huyện. Những điểm nổi bật trong việc áp dụng
phương pháp PTCĐ trong hỗ trợ đối với người nghèo. Đánh giá tác động của
việc vận dụng phương pháp PTCĐ đối với người nghèo, cũng như chính
quyền địa phương, qua đó đề xuất một số giải pháp nhằm cải thiện, giúp CĐ
giải quyết các khó khăn, vướng mắc trong công tác giảm nghèo phù hợp với
địa phương nhằm hướng đến giải quyết thoát nghèo một cách bền vững.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
và chính sách xóa đói giảm nghèo. Vì vậy, nghiên cứu vấn đề này có hiệu
quả, tác giả đã vận dụng một số quan điểm của triết học làm cơ sở phương
pháp luận khoa học cho đề tài nghiên cứu đó là phương pháp duy vật biện
chứng. Phương pháp duy vật biện chứng được coi là một sự vật hay một hiện
tượng trong trạng thái luôn phát triển và xem xét nó trong mối quan hệ các sự
vật hiện tượng khác.
Phương pháp này đòi hỏi khi nghiên cứu vấn đề thoát nghèo phải đặt
chúng trong những bối cảnh lịch sử cụ thể và trên những địa bàn, vùng lãnh
thổ cụ thể, nghèo chỉ được xem xét một cách toàn diện, đầy đủ khi chúng đặt
trong một hoàn cảnh lịch sử cụ thể với những địa phương nhất định. Đối với
Việt Nam những chính sách, chương trình hỗ trợ giảm nghèo đặt trong bối
cảnh đất nước đang quá độ tiến lên chủ nghĩa xã hội với nhiều thách thức đặt
ra. Trong khuôn khổ nghiên cứu tiếp cận đánh giá về vận dụng phương pháp
PTCĐ cần đứng trên một góc độ thực hiện để thấy được đặc điểm cũng như
vai trò của PTCĐ
7
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp phân tích tài liệu
Nghiên cứu và phân tích các tài liệu liên quan đến như các báo cáo xóa
đói giảm nghèo của Sở Lao động-Thương binh và Xã hội tỉnh Long An, báo
cáo tình hình phát triển kinh tế -xã hội của huyện Đức Huệ qua các năm, báo
cáo kết quả thực hiện chương trình phát triển đồng bộ nguồn nhân lực giải
quyết việc làm, giảm nghèo, dạy nghề của huyện, các văn bản pháp lý. Đọc và
tìm hiểu các giáo trình, tài liệu có liên quan đến CTXH và Phát triển cộng
đồng, Hành vi con người và môi trường xã hội, tài liệu từ các nguồn sách báo,
điện tử, công trình nghiên cứu khoa học của nhiều tác giả liên quan đến lĩnh
vực nghiên cứu.v.v.
kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ làm sáng tỏ thêm một số luận điểm của lý
thuyết PTCĐ và lý thuyết CTXH được áp dụng trong lĩnh vực nghiên cứu về
xóa đói giảm nghèo hiện nay ở một CĐ nói chung và áp dụng phương pháp
PTCĐ nói riêng trong các hoạt động hỗ trợ từ Chương trình mục tiêu quôc gia
giảm nghèo bền vững từ thực tiễn đó có thể bổ sung cho lý luận ngày càng
hoàn thiện hơn với mong muốn đóng góp thêm vào chuyên ngành CTXH.
Ý nghĩa thực tiễn
Những kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ giúp các nhà chuyên môn xây
dựng, bổ sung, hoàn thiện các chính sách, chương trình hoạt động có hiệu quả
trong xóa đói giảm nghèo và nhận thấy cách tiếp cận phương pháp PTCĐ là
cần thiết và tầm quan trọng của công tác giảm nghèo, đưa ra những giải pháp,
chính sách điều chỉnh phù hợp, nhằm giúp người nghèo thoát nghèo. Mặt
khác, hy vọng đề tài sẽ trở thành một tài liệu tham khảo giúp ích được trong
việc học tập, nghiên cứu của sinh viên chuyên ngành CTXH cũng như phục
vụ phần nào cho công tác giảng dạy và học tập liên quan đền phương pháp
PTCĐ và các môn chuyên ngành CTXH.
9
7. Cơ cấu của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục,
nội dung luận văn chia làm 3 chương:
Chương 1. Những vấn đề lý luận phát triển cộng đồng đối với người
nghèo
Chương 2. Thực trạng phát triển cộng đồng đối với người nghèo
Chương 3. Định hướng giải pháp nâng cao phát triển cộng đồng đối với
người nghèo từ thực tiễn huyện Đức Huệ, tỉnh Long An.
10
11
bằng việc thúc đẩy nhận thức, nâng cao năng lực, khả năng tự vươn lên của
người nghèo trong việc tìm ra nguyên nhân của sự nghèo đói, xác định ý thức
trách nhiệm, khả năng và tự lựa chọn giải pháp của bản thân và khai thác các
yếu tố sẵn sàng giúp đỡ của cộng đồng để thoát nghèo. Mặt khác nhân viên
phải huy động tài nguyên, tính sẵn sàng của cộng đồng giúp đỡ người nghèo
thoát nghèo, tạo ra sự hài hòa của quan hệ giữa người nghèo với cộng đồng.
“Công tác xã hội với gia đình nghèo (người nghèo) là cách tiếp cận giúp đỡ
gia đình khó khăn về kinh tế, khó khăn trong duy trì cuộc sống sinh hoạt hằng
ngày có nguy cơ rơi vào tình trạng khó có thể duy trì trạng thái cân bằng trong
gia đình”. Từ những quan điểm trên, có thể hiểu Công tác xã hội với người
nghèo là quá trình thúc đẩy nhận thức, tăng năng lực và tự lực cho người
nghèo. Giúp họ tìm ra nguyên nhân của nghèo đói, xác định ý thức trách
nhiệm, khả năng, ý chí để cải thiện cuộc sống và vươn lên thoát nghèo.
Mục tiêu công tác xã hội với người nghèo
Mục tiêu Công tác xã hội với người nghèo là giúp thành viên học cách
thực hiện chức năng của mình để đáp ứng các nhu cầu về phát triển cả về mặt
tâm lý, tình cảm và xã hội cho tất cả các thành viên trong gia đình các mục
tiêu cụ thể:
- Tăng cường sức mạnh của cá nhân và gia đình để mọi người sẵn sàng
cho những thay đổi tốt hơn.
- Cung cấp thêm những dịch vụ can thiệp cá nhân và gia đình để duy trì
và thực hiện chức năng một cách hiệu quả.
- Tạo ra những thay đổi cụ thể trong việc thực hiện chức năng của gia
đình nhằm duy trì hoạt động để đảm bảo tốt cuộc sống hàng ngày của mọi
thành viên trong gia đình.
12
kém phát triển là quy ước theo một hệ quy chiếu với một số khái niệm khác.
Phát triển và kém phát triển đặt trong mối quan hệ tương đối với nhau bởi cái
này phát triển thì cái kia kém phát triển và ngược lại.
Nguyên lý thứ hai, tính đa dạng: CĐ được biểu hiện đa dạng phong phú
nên PTCĐ cũng mang tính đa dạng phong phú.
Nguyên lý thứ ba, tính bền vững: CĐ luôn có tính bền vững, mặc dù có thể
biến đổi tính chất khi một CĐ cũ giải thể và tan rã thì một cộng đồng mới lại hình
thành và qua đó sẽ được thay đổi về trình độ phát triển mà không biến mất.
1.1.4. Vị trí của phát triển cộng đồng trong công tác xã hội
Phương pháp CTXH gồm có 3 phương pháp chính là CTXH cá nhân,
CTXH nhóm và CTXH với CĐ. Trong đó phương pháp PTCĐ là một phương
pháp thực hành CTXH phổ biến đã được vận dụng và triển khai tại nhiều địa
bàn trên cả nước trong nhiều thập kỷ. Trải qua quá trình biến đổi phức tạp của
bối cảnh lịch sử, cách tiếp cận PTCĐ cũng có những chuyển biến song PTCĐ
vẫn hướng tới mục đích giúp CĐ phát triển bền vững thông qua nội lực và các
nguồn lực hỗ trợ khác.
Phát triển cộng đồng có vai trò quan trọng trong các lĩnh vực CTXH
nhất là đối với CĐ có vấn đề như CĐ nghèo đói, CĐ gặp rủi ro thiên tai, dịch
bệnh… Việc áp dụng các cách tiếp cận mới đã đem lại thành công trong
PTCĐ. Cách tiếp cận theo phương pháp ABCD là một phương pháp tiếp cận
nhằm tìm kiếm, khám phá làm rõ những mặt mạnh trong CĐ, phát hiện ra các
nguồn vốn xã hội, tầm quan trọng của nó như một tài sản của CĐ nó làm cho
sự phát triển bền vững đã giúp cho người dân có tiếng nói quan trọng hơn
trong các chương trình dự án, hỗ trợ vai trò của CĐ cũng lớn hơn.
14
- Tin tưởng vào dân, khả năng thay đổi và phát triển của họ. Cộng
đồng người dân cư nghèo hoặc khó khăn nhưng họ cũng có đầu óc tính sáng
tạo và gắn bó mật thiết, mong muốn thay đổi cuộc sống được khá hơn và cả
CĐ được tốt hơn.
- Đáp ứng nhu cầu và mối quan tâm bức xúc hiện tại của họ. Trong CĐ
nghèo có rất nhiều vấn đề cần cải thiện nhưng phải chọn vấn đề nào là ưu tiên để
giải quyết và cần đáp ứng trước, không nên làm nhiều công việc cùng một lúc.
- Khuyến khích người dân cùng thảo luận, lấy quyết định chung, hành
động chung để họ đồng hòa mình với những chương trình hành động đó.
Nguyên tắc này nhằm xây dựng, củng cố tăng năng lực của CĐ, đồng thời
giúp CĐ này làm chủ những hoạt động của mình ngay từ ban đầu tiến trình
giải quyết các vấn đề của cộng đồng.
- Bắt đầu từ những hoạt động nhỏ để dẫn đến thành công nhỏ: Từ
những công việc thực tế trong CĐ về việc bê tông hóa đường giao thông nông
thôn, cho vay vốn tín dụng với một số thành viên trong các tổ hội và những
hoạt động vừa và nhỏ được người dân tập dần cách điều hành quản lý các
hoạt động để dẫn đến thành công.
- Vận động thành lập nhóm nhỏ để thực hiện dự án, không chỉ để giải
quyết được một vấn đề cụ thể, mà còn để củng cố, làm vững mạnh tổ chức tự
nguyện của người dân. Để phát huy những hành động trong CĐ, tất cả các
hoạt động trong CĐ phải thông qua hình thức nhóm nhỏ từ 5-7 thành
viên/một nhóm, để họ đại diện cho CĐ nhóm nhỏ đó họ có tiếng nói.
- Tạo cơ hội để người dân tương trợ lẫn nhau, qua đó các thành viên
vừa cảm thấy hoàn thành nhiệm vụ vừa góp phần cải thiện an sinh xã hội cho
nhóm, cả hai điều này đều quan trọng như nhau. Trong CĐ này sẽ phân công
một người có tay nghề và sẽ hướng dẫn những người trong CĐ học nghề hoặc
tổ chức các buổi họp, thảo luận và giải quyết các vấn đề ảnh hưởng đến cuộc
16
tìm hiểu
phân tích
CĐ tăng năng
lực
CĐ thức tỉnh
Huấn
luyện
Phát huy
tiềm
năng
Hình thành
các nhóm
liên kết
CĐ tự lực
Tăng
cường
động lực
tự
nguyện
Mô hình hành động chung có lượng giá
Từ thấp đến cao
Sơ đồ 1: Các bước phát triển của cộng đồng và hoạt động PTCĐ phù
Khái niệm cách tiếp cận ABCD
Trong thuật ngữ chuyên môn, ABCD là bốn chữ viết tắt của Assetbased Community Development, trong đó:
A: Asset là tài sản, nguồn lực
B: Based là Cơ sở nền tảng
C: Community là CĐ
D: Development là Phát triển
Nói một cách đơn giản, ABCD tạm dịch là “PTCĐ dựa vào tài sản,
nguồn lực tai chỗ” hay “PTCĐ dựa vào tiềm năng cộng đồng”.
ABCD là một phương pháp tiếp cận nhằm tìm kiếm, khám phá và làm
rõ những mặt mạnh trong CĐ. Nó như là một phương tiện cho sự phát triển
bền vững. Nguyên lý cơ bản là của phương pháp này là cách tiếp cận nhắm
vào năng lực, có khả năng hay chắc chắn tăng năng lực cho CĐ, thúc đẩy
người dân tạo ra sự thay đổi ý nghĩa và tích cực từ bên trong CĐ. Thay vì
19