VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN THỊ HẢI ÂU
PHÁT TRIỂN CỘNG ĐỒNG
ĐỐI VỚI NGƢỜI DÂN TỘC BA NA
TỪ THỰC TIỄN TỈNH KON TUM
Chuyên ngành
: Công tác xã hội
Mã số
: 60.90.01.01
LUẬN VĂN THẠC SĨ CÔNG TÁC XÃ HỘI
NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC: GS. TS VÕ KHÁNH VINH
HÀ NỘI, 2016
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn
Thạc sĩ Công tác xã hội về “Phát triển cộng đồng đối với người dân tộc Ba
na từ thực tiển tỉnh Kon Tum” là hoàn toàn trung thực, là kết quả nghiên
cứu nghiêm túc của cá nhân, không trùng lặp với các đề tài khác trong cùng
lĩnh vực.
CTXH
Công tác xã hội
Nxb
Nhà xuất bản
UBND
Ủy ban nhân dân
PTCĐ
Phát triển cộng đồng
DTTS
Dân tộc thiểu số
HTCT
Hệ thống chính trị
DANH MỤC SƠ ĐỒ
Sơ đồ 1.1: Sơ đồ phát triển cộng đồng ............................................................ 17
Sơ đồ 2.1: Thiết chế tự quản truyền thống của người Ba na .......................... 43
nhạy cảm, nhiều nội dung của vấn đề này đang cần được nghiên cứu giải
quyết cả về lý luận và thực tiễn. Những vấn đề thời sự liên quan đến dân tộc,
quan hệ dân tộc trên thế giới cũng như trong nước đang làm cho việc tìm hiểu,
nghiên cứu vấn đề phát triển cộng đồng đối với các dân tộc thiểu số một cách
1
bền vững, phù hợp với tiến trình phát triển kinh tế, xã hội của đất nước càng
trở nên quan trọng và cấp thiết.
Từ trước đến nay, dựa theo phương pháp tiếp cận truyền thống trong
phát triển cộng đồng (PTCĐ) để giải quyết những vấn đề xã hội của cộng
đồng như đói nghèo, bảo tồn văn hóa truyền thống, trợ giúp các nhóm yếu
thế… chủ yếu vào sự giúp đỡ của các cơ quan nhà nước, các dịch vụ hỗ trợ từ
nguồn lực bên ngoài cộng đồng, đã khiến bản thân các cộng đồng dân tộc
thiểu số và người DTTS trở nên phụ thuộc, tạo tâm lý trông chờ vào nhà nước
mà không phát huy được nguồn nội lực của cộng đồng một cách tốt nhất.
Thực tiễn đã chứng minh khi và chỉ khi chính người dân trong cộng đồng có
nhận thức đầy đủ, sâu sắc về vấn đề của cộng đồng từ đó cùng tham gia với
lãnh đạo địa phương đề ra giải pháp giải thực hiện, thì lúc ấy vấn đề mới được
thực hiện một cách triệt để và duy trì hiệu quả, bền vững trong cộng đồng.
Kon Tum là một trong các tỉnh miền núi nghèo của Việt Nam, hộ dân
tộc thiểu số chiếm 52% so với dân số toàn tỉnh (62.680/120.608 hộ). Đời sống
của cộng đồng các DTTS thuộc vùng sâu, vùng xa gặp rất nhiều khó khăn, tỉ
lệ hộ nghèo người DTTS là 29.187 hộ chiếm 46,56% hộ DTTS và chiếm
92,6% hộ nghèo toàn tỉnh. Đẩy mạnh các hoạt động PTCĐ sẽ là giải pháp hữu
hiệu để cộng đồng người dân tộc Bana nơi đây phát triển bền vững về cả 3
yếu tố: kinh tế, môi trường xã hội và con người.
Thực tế, Kon Tum đã có nhiều công trình nghiên cứu về đồng bào DTTS
ở các khía cạnh khác nhau: Nghiên cứu về văn hóa, về hỗ trợ chính sách đối
tách rời từ gia đình - dòng họ - cộng đồng làng. Đây cũng chính là tiền đề để
tác giả nhìn nhận rõ nét khi nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển
cộng đồng người dân tộc Ba na trong truyền thống và những vấn đề mới nảy
sinh trong cộng đồng hiện tại, để có những đánh giá một cách đầy đủ nhất,
đưa ra những giải pháp phát triển cộng đồng phù hợp trong tiến trình phát
triển xã hội.
3
2.2. Tình hình nghiên cứu trong nước
Phát triển cộng đồng tại Việt Nam được biết đến lần đầu tiên vào giữa
năm 1950 thông qua một số các hoạt động phát triển cộng đồng tại các tỉnh
phía nam, chủ yếu là lĩnh vực giáo dục, thông qua các chương trình phát triển
nông thôn của sinh viên thời bấy giờ. Từ năm 1980 cho đến nay, phát triển
cộng đồng được biết đến rộng rãi hơn qua các chương trình viện trợ phát triển
của nước ngoài tại Việt Nam, các chương trình phát triển có ứng dụng phương
pháp phát triển cộng đồng như: Chương trình xóa đói giảm nghèo, tiêm chủng
mở rộng, phổ cập giáo dục, bảo hiểm y tế, dân số kế hoạch hóa gia đình, tín
dụng cho hộ nghèo… mà ở đó cần có sự tham dự của người dân tại cộng đồng
như một trong những nhân tố quyết định, để chương trình đạt được tính hiệu
quả bền vững.
Một trong những tài liệu nghiên cứu sớm nhất trong nước về dân tộc Ba
na đó là cuốn “ Mọi Kon Tum” của 02 tác giả Nguyễn Kinh Chi - Nguyễn
Đổng Chi xuất bản năm 1937. Nội dung chủ yếu tập trung về đời sống xã hội
của người Ba na, trong đó vấn đề về tổ chức làng và các thiết chế xã hội của
làng được quan tâm song chỉ dừng lại ở mức độ quan sát, ghi chép thực tế mà
chưa nghiên cứu sâu. Đây cũng là nguồn tư liệu quí để tác giả tiếp tục nghiên
cứu về sự ảnh hưởng của thiết chế xã hội của làng đến quá trình phát triển của
cộng đồng. So sánh những yếu tố đã có sự thay đổi, phát triển theo thời gian
Tum, tỉnh Kon Tum nơi có đa số người Ba na sinh sống thì tỉ lệ hộ nghèo
DTTS chiếm 73,72% tổng số hộ nghèo toàn thành phố, tỉ lệ hộ cận nghèo
chiếm tỉ lệ 71,43%.
Để nâng cao chất lượng cuộc sống cho các cộng đồng người dân tộc
thiểu số Kon Tum nói chung và người dân tộc Ba na tỉnh Kon Tum nói riêng,
phương pháp phát triển cộng đồng chính là công cụ hữu hiệu để xây dựng và
thúc đẩy cộng đồng người Ba na thoát nghèo và phát triển bền vững.
5
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu:
Nghiên cứu thực trạng hoạt động phát triển cộng đồng đối với người
dân tộc Bana từ thực tiễn tỉnh Kon Tum và các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt
động này. Từ đó đưa ra một số giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả hoạt
động phát triển cộng đồng đối với người dân tộc Bana tại tỉnh Kon Tum.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu:
Nghiên cứu về lý luận phát triển cộng đồng đối với người dân tộc thiểu
số (Dân tộc Ba na).
Nghiên cứu thực trạng hoạt động phát triển cộng đồng đối với người dân
tộc Bana tại tỉnh Kon Tum.
Phân tích những yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động phát triển cộng đồng
đối với người dân tộc Bana từ thực tiển tại tỉnh Kon Tum.
Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động phát triển
cồng đối với người dân tộc Bana tại tỉnh Kon Tum.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu:
Phát triển cộng đồng đối với người dân tộc Bana từ thực tiễn tỉnh Kon Tum.
- Đối tượng nghiên cứu:
Phương pháp phân tích tài liệu là phương pháp sử dụng các kỹ thuật
chuyên môn nhằm thu thập thông tin, số liệu, nội dung từ các nguồn tài liệu
đã được công bố hoặc kết luận rút ra từ các nguồn tài liệu những thông tin cần
thiết trong quá trình nghiên cứu của bản thân.
- Phương pháp phỏng vấn sâu:
Tiến hành phỏng vấn sâu đại diện cán bộ lãnh đạo địa phương, già làng,
các hộ dân tộc Ba na tại địa bàn nghiên cứu để tìm hiểu, đánh giá về nội lực
cộng đồng, các chính sách hỗ trợ để phát triển cộng đồng...
- Phương pháp điều tra bảng hỏi:
7
Xây dựng bảng hỏi để đo lường mức độ nhận thức của người dân về
các hoạt động PTCĐ, thực tế việc áp dụng các phương pháp, cách tiếp cận
của cộng đồng đối với hoạt động PTCĐ, vai trò của tác nhân cộng đồng...
- Phương pháp quan sát:
Phương pháp này được thực hiện thường xuyên trong quá trình nghiên
cứu và thực hiện đề tài để có cái nhìn thật sự khách quan và chân thực, cụ thể
nhất về vấn đề cần nghiên cứu.
- Phương pháp tham gia:
Những thông tin thu được từ quá trình trực tiếp tham gia hoạt động phát
triển cộng đồng với người dân tại địa bàn, cùng với thông tin thu thập được
qua xử lý tài liệu, phỏng vấn sâu, sẽ cho tác giả cái nhìn sâu sắc, đầy đủ và
bao quát, khách quan, độ chính xác cao về vấn đề nghiên cứu.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của Luận văn
6.1. Ý nghĩa lý luận:
Đề tài sử dụng hệ thống khái niệm, phạm trù, lý thuyết, phương pháp
công tác xã hội, PTCĐ vào phân tích thực trạng và đưa ra các đề xuất nhằm
phát triển cộng đồng đối với người dân tộc Bana tại tỉnh Kon Tum.
dân tộc Ba na.
Chương 2: Thực trạng hoạt động phát triển cộng đồng đối với người dân
tộc Banna tại tỉnh Kon Tum.
Chương 3: Các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động phát triển
cộng đồng đối với người dân tộc Bana tại tỉnh Kon Tum.
9
Chƣơng 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN CỘNG ĐỒNG
ĐỐI VỚI NGƢỜI DÂN TỘC BANA
1.1. Khái niệm, vài nét về ngƣời dân tộc Bana
1.1.1. Khái niệm Tộc người, dân tộc, dân tộc thiểu số
- Tộc người (Ethnoc, Ethnie): là hình thái đặc thù của một tập đoàn
người, một tập đoàn xã hội, xuất hiện trọng quá trình phát triển tự nhiên và xã
hội được phân biệt bởi ba tiêu chí cơ bản, mang tính ổn định và tương đối bền
vững qua hàng nghìn năm lịch sử là : ngôn ngữ, văn hóa và ý thức tự giác về
cộng đồng.
- Dân tộc (Nation) được hiểu theo hai nghĩa:
+ Một hình thái phát triển cao của một tộc người.
+ Một cộng đồng chính trị của nhiều tộc người có nguồn gốc lịch sử khác
nhau, có trình độ phát triển kinh tế - xã hội khác nhau, cùng sống trong một quốc
gia, được quản lý bởi một Nhà nước chung ( Như dân tộc Việt Nam).
Theo từ điển Bách khoa Việt Nam định nghĩa: “ Dân tộc hay quốc gia
dân tộc là một cộng đồng chính trị - xã hội được chỉ đạo bởi một nhà nước,
thiết lập trên một lãnh thổ nhất định, ban đầu được hình thành do sự tập hợp
của nhiều bộ lạc và liên minh bộ lạc, sau này của nhiều cộng đồng mang tính
tộc người của bộ phận tộc người. Tính chất dân tộc phụ thuộc vào những
phương thức sản xuất khác nhau…”
gia, hoặc để chỉ cộng đồng dân cư của một tộc người. Sự liên kết cộng đồng
dân tộc được tạo lên từ yếu tố có chung ngôn ngữ, văn hóa, lãnh thổ và biểu
hiện thành ý thức tự giác tộc người. [5, 11-14]
1.1.2.Vài nét về dân tộc Ba na trong thành phần dân tộc Việt Nam
Dãi đất Việt Nam từ bao đời là nơi cộng cư của nhiều tộc người. Trên
cơ sở các kết quả nghiên cứu, xác minh qua hai đợt của Viện Dân tộc học.
Đợt 1 vào năm 1968 và đợt 2 năm 1978; Ngày 02 tháng 3 năm 1979, thừa ủy
11
nhiệm của Thủ tướng Chính phủ, Tổng cục Thống kê ra quyết định số
121/TCTK công bố “Bảng danh mục các thành phần dân tộc Việt Nam”.
Theo đó, Việt Nam có 54 dân tộc (tộc người), với tính cách là cộng đồng, có
chung các đặc điểm về ngôn ngữ, sinh hoạt văn hóa và ý thức tự giác về cộng
đồng mình, thuộc 3 ngữ hệ: Nam Á (5 nhóm ngôn ngữ, 40 tộc); Ngữ hệ Nam
đảo (hay Đa Đảo, hoặc Ma lai ô – Pô li nê xi a, 5 tộc); Ngữ hệ Hán Tạng (2
nhóm ngôn ngữ, 9 tộc). [5, 42].
Xếp theo ngôn ngữ và thứ tự theo số dân cư, tại kết quả cuộc tổng điều
tra dân số năm 2009 của Tổng cục thống kê, dân tộc Ba na đứng vị trí số 12
với tổng dân số là 227.716 người, thuộc nhóm ngôn ngữ Môn Khơ - me nơi
cư trú chính tại các tỉnh Gia Lai, Kon Tum, Bình Định, Quãng Ngãi, Phú Yên.
Ba na là dân tộc lớn nhất nói tiếng Môn Khơ - me ở vùng Nam trung
bộ và Tây Nguyên. Người Ba na cư trú trên vùng lãnh thổ tương đối khác
biệt, địa bàn sinh sống của người Ba na là vùng cao nguyên và núi rừng
rộng lớn, bao gồm phần lớn khu vực phía đông của 2 tỉnh Gia Lai, Kon
Tum và một phần vùng núi phía tây các tỉnh Bình Định, Phú Yên. Ranh
giới tộc người của người Ba na liền kề với người Xơđăng ở phía Bắc,
người Việt ở phía Đông, người Gia rai ở phía Tây và phía Nam. Theo số
liệu thống kê năm 2009, dân tộc Ba na có 227.716 người, riêng tại tỉnh
Các nhà khoa học đưa ra giả định rằng, khi bốn dân tộc nói ngôn ngữ Nam
Đảo là Giarai, Ê đê, Raglay, Churu cùng với người Chăm di cư vào đồng
bằng ven biển Nam trung bộ Việt Nam. Tại đây, họ cộng cư với số ít dân cư
nói tiếng Môn Khơ - me là chủ nhân của văn hóa Sa Huỳnh. Vào thời điểm
trước công nguyên, người Chăm ở lại sau này lập nên Vương quốc Chăm Pa,
còn các tộc nói ngôn ngữ Nam Đảo khác, đầu tiên là Giarai, Êđê, men theo
núi đi về phía tây tiến dần lên chiếm cứ miền cao nguyên màu mỡ ở Trung
Tây Nguyên đẩy dạt các tộc người Ba na, Xơđăng lên phía bắc và tộc người
Mnông xuống phía nam [4, 44].
13
Việc ban hành Bảng danh mục các thành phần dân tộc Việt Nam, lần
đầu tiên, các tộc người trên đất nước ta có một tên gọi (tộc danh) chính thức,
dựa trên cơ sở khoa học, xóa bỏ những tên gọi mang tính miệt thị trước đây,
như Mán, Mọi…giúp cho các tộc người hiểu biết hơn về bản thân mình và các
cộng đồng khác, góp phần củng cố khối đại đoàn kết giữa các dân tộc.
Do đặc điểm riêng về vị trí địa lý và địa hình, từ xưa Trường Sơn – Tây
Nguyên là khu vực cư trú riêng biệt của các tộc người thiểu số. Mãi đến đầu
thế kỷ XIX, Nhà nước Phong kiến Đại Việt mới nắm được vùng đất này, qui
tụ vào nước Việt Nam thống nhất. [5, 214-216].
1.2. Lý luận về phát triển cộng đồng đối với ngƣời dân tộc thiểu số
1.2.1. Phát triển
Thuật ngữ “phát triển” được dùng tương đối phổ biến trong các lĩnh vực
của đời sống xã hội có nhiều quan điểm khác nhau:
Theo Liên Hiệp Quốc (1997): “Phát triển là tạo ra những cơ hội ngày
càng nhiều cho tất cả mọi người để có đời sống tốt hơn, điều thiết yếu là tăng
cường và cải thiện các điều kiện cho giáo dục, sực khỏe, dinh dưỡng, nhà ở và
an sinh xã hội cũng như bảo vệ môi trường” [29, 45].
- Cộng đồng là một tập thể người có thể cùng nhau chung sống trên một
địa bàn nhất định.
- Cộng đồng là một tập thể người có chung một nguồn gốc văn hóa,
hoặc ngôn ngữ nhưng không nhất thiết cùng chung sống trên một địa bàn.
- Cộng đồng là một tập thể người có chung sự ràng buộc về thể chế, về
qui định, về quyền lợi.
- Cộng đồng là một tập thể người có chung nguyện vọng, mục đích
nhưng cũng có thể không cùng chung sống trên một địa bàn nhất định.
1.2.3. Định nghĩa Phát triển cộng đồng
Theo quan điểm của chính phủ Anh, khái niệm phát triển cộng đồng
được sử dụng lần đầu tiên năm 1940: “PTCĐ là một chiến lược phát triển
15
nhằm vận động sức dân trong các cộng đồng nông thôn cũng như đô thị nhằm
phối hợp cùng những nỗ lực của nhà nước để cải thiện hạ tầng cơ sở và tăng
khả năng tự lực của cộng đồng” [7,35]
Theo Murray G.Ross (1955): “PTCĐ là một diễn tiến qua đó cộng đồng
nhận rõ nhu cầu hoặc mục tiêu phát triển của cộng đồng; biết sắp xếp ưu tiên các
nhu cầu vì mục tiêu này; phát huy sự tự tin và ý muốn thực hiện chúng; biết tìm
đến tài nguyên bên trong và ngoài cộng đồng để đáp ứng chúng thông qua đó sẽ
phát huy những thái độ và kỹ năng hợp tác trong cộng đồng” [7, 45]
Định nghĩa chính thức của Liên hiệp quốc từ năm 1956: “PTCĐ là một
tiến trình qua đó nỗ lực của dân chúng kết hợp với nỗ lực của chính quyền
để cải thiện các điều kiện kinh tế, xã hội, văn hóa của các cộng đồng và
giúp cộng đồng này hội nhập và đồng thời đóng góp vào đời sống quốc
gia” [6, 21].
Theo Nguyễn Thị Oanh : “PTCĐ là một tiến trình làm chuyển biến cộng
đồng nghèo, thiếu tự tin thành cộng đồng tự lực thông qua việc giáo dục
Huấn
luyện
Hình thành
các nhóm
liên kết
CĐ
Tự lực
Tăng
cườngcác
động lực
Chương trình hành động chung
có lượng giá
Phát triển cộng đồng được nhìn nhận, xem xét dưới các góc độ sau:
Thứ nhất, về mục tiêu của phát triển cộng đồng nhằm hướng đến:
- Đáp ứng được nhu cầu cơ bản và cung cấp cho người dân những cơ hội
để phát triển toàn diện các tiềm năng và nâng cao chất lượng cuộc sống.
PTCĐ đặc biệt quan tâm đến các nhóm đối tượng yếu thế trong cộng đồng để
cải thiện các điều kiện sống của họ và thỏa mãn những nhu cầu cơ bản như
việc làm, nhà ở, giáo dục, y tế, môi trường…
- Người dân được tham gia vào quá trình phát triển cộng đồng một cách
tích cực vào việc ra quyết định liên quan đến chính đời sống của họ, giúp họ
nhận thức được giá trị và tin vào khả năng của mình. Thông qua đó trình độ
họ được tăng lên và cải thiện cuộc sống.
- Huy động được các tiềm năng và khuyến khích sự tham gia của các cơ
trong cả nước, cộng đồng người dân tộc Ba na Kon Tum còn rất nhiều khó
khăn, xuất phát kinh tế thấp, việc duy trì quá lâu phương thức sản xuất truyền
thống đã làm cho đời sống người Ba na chậm phát triển, tỉ lệ hộ nghèo cao.
18
Quản lý và tổ chức cộng đồng đối với các làng dân tộc Ba na vùng sâu, vùng
xa còn ảnh hưởng nặng của hệ thống luật tục và tín ngưỡng dân gian, trong
khi một số đã không còn phù hợp. Việc áp dụng khoa học kỹ thuật, những yếu
tố mới tạo điều kiện cho cộng đồng phát triển thì ngại áp dụng. Do điều kiện
sống ở xa khu trung tâm, hạ tầng cơ sở còn lạc hậu, địa hình nhiều chia cắt,
cùng với nhận thức thấp, nên khi cái mới chưa rõ nét, thì việc cái cũ như thói
quen thống trị vẫn là điều dễ hiểu.
Từ kết quả của việc áp dụng các mô hình phát triển cộng đồng trong thực
tế đã cho thấy càng ngày người ta càng thừa nhận rằng phương pháp phát
triển cộng đồng có khả năng giải quyết vấn đề phát triển và những thách thức
mà những cộng đồng ở nông thôn, đô thị tại các nước đang phát triển (trong
đó có Việt Nam) gặp phải, cũng như những vấn đề của các nhóm bị mất
quyền lợi, bị thiệt thòi và bị gạt ra bên lề xã hội ở những nước đang phát triển.
Phương pháp PTCĐ là phương pháp lấy con người làm trung tâm của
phát triển và quan tâm trước tiên đến nhân phẩm và tiềm năng của họ.
Phương pháp phát triển cộng đồng tạo điều kiện cho các thành viên
trong cộng đồng được tham gia vào mọi phương diện liên quan đến tiến
trình phát triển.
Tuy nhiên qua kinh nghiệm làm công tác PTCĐ ở các nước đang phát
triển đã cho thấy, nếu lấy toàn bộ cộng đồng làm đối tượng thì những lợi ích
phát triển ít đến tay nhóm người nghèo nhất, đa số lợi ích rơi vào nhóm khá
giả, nhóm có tiềm năng kinh tế.
Để giải quyết vấn đề này, việc hình thành chiến lược phát triển mà đối
nguồn nhân lực tốt, việc sắp xếp tổ chức hoạt động hợp lý, tri thức bản địa về
làm chủ qui luật tự nhiên, tính đoàn kết thống nhất cao, nền văn hóa tinh thần
phong phú kết nối sức mạnh cộng đồng…
Song có thể nói, bài học lý luận rút ra từ thực tiển hiện nay đó là có 4 yếu
tố chính, chi phối rõ nét đến vấn đề phát triển cộng đồng nói chung và cộng
đồng người dân tộc thiểu số nói riêng.
20