MỤC LỤC
Trang
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ DU
3
LỊCH BIỂN Ở QUẬN ĐỒ SƠN THÀNH PHỐ HẢI
1.1.
PHÒNG
Quan niệm về phát triển kinh tế du lịch biển và nội dung
phát triển kinh tế du lịch biển ở quận Đồ Sơn, thành phố
11
1.2.
Hải Phòng
Các nhân tố ảnh hưởng và sự cần thiết phát triển kinh tế du
21
1.3
lịch biển ở quận Đồ Sơn, thành phố Hải Phòng
Kinh nghiệm của một số địa phương về phát triển kinh tế
du lịch biển và bài học rút ra cho quận Đồ Sơn, thành phố
Chương 2
Hải Phòng
THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN KINH TẾ DU LỊCH
68
3.2
Sơn, thành phố Hải Phòng
Một số giải pháp nhằm phát triển kinh tế du lịch biển ở
quận Đồ Sơn, thành phố Hải Phòng
72
81
82
86
KẾT LUẬN
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Trong xu thế phát triển chung của các nước trên thế giới hiện nay, kinh
tế biển nói chung, kinh tế du lịch biển nói riêng là một hướng quan trọng
trong thu hút sự quan tâm của các quốc gia có biển và các nhà kinh doanh du
lịch. Một số quốc gia có thế mạnh về biển coi DLB là ngành kinh tế mũi
nhọn, góp phần quan trọng vào thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội và củng cố
quốc phòng – an ninh của mình.
Việt Nam có bờ biển dài 3260 km, diện tích mặt nước biển trên 1 triệu
km2 với hàng ngàn đảo lớn nhỏ ở ven bờ và ngoài khơi. Tài nguyên thiên
nhiên và tài nguyên nhân văn thuận lợi đã mang lại cho nước ta lợi thế đặc
Trong những năm qua, du lịch biển ở quận Đồ Sơn đã có những bước
phát triển đáng khích lệ, tăng trưởng du lịch đã có những đóng góp quan trọng
vào công cuộc CNH, HĐH của vùng nói riêng, của đất nước nói chung, thể
hiện ở đóng góp của ngành trong giá trị tổng sản phẩm kinh tế vùng. Hoạt
động du lịch đã góp phần tạo nhiều cơ hội việc làm và thu nhập cho cộng
đồng, góp phần bảo đảm an sinh xã hội, giữ vững QP - AN cho thành phố Hải
Phòng. Tuy nhiên, sự phát triển hiện nay của kinh tế du lịch biển ở quận Đồ
Sơn hiện còn nhiều hạn chế. Du lịch biển chưa thực sự trở thành ngành kinh
tế mũi nhọn như đã được xác định trong Nghị quyết của các cấp ủy Đảng của
tỉnh, chưa có bước phát triển đột phá và khai thác có hiệu quả tiềm năng và
lợi thế về du lịch của tỉnh. Chất lượng sản phẩm du lịch chưa cao, loại hình
chưa thật sự phong phú, đặc sắc với bản sắc văn hoá riêng, chưa có được
những sản phẩm du lịch có giá trị gia tăng cao. Giá cả so sánh trong một số
khâu dịch vụ còn cao dẫn tới kém sức cạnh tranh quốc tế. Chương trình du
lịch còn đơn điệu, trùng lặp, chưa đáp ứng nhu cầu của từng đối tượng khách,
của mỗi thị trường. Việc bảo tồn, tôn tạo và nâng cấp các di tích lịch sử văn
hoá, cũng như giữ gìn cảnh quan môi trường chưa thực sự được chú trọng đầu
tư, thiếu sự phối hợp đồng bộ giữa các cấp, các ngành. Hoạt động tuyên
4
truyền quảng bá du lịch trong nước, khu vực và quốc tế còn nhiều hạn chế,
tính chuyên nghiệp chưa cao, cung cấp chưa đủ và kịp thời thông tin cho du
khách và các nhà đầu tư… Vấn đề đặt ra hiện nay là làm như thế nào để phát
huy tiềm năng, lợi thế của vùng đất cửa biển Đồ Sơn trước yêu cầu hội nhập
kinh tế quốc tế sâu rộng đem lại hiệu quả kinh tế - xã hội cao. Trong bối cảnh
đó, học viên lựa chọn đề tài: “Phát triển kinh tế du lịch biển ở Quận Đồ
Sơn, thành phố Hải Phòng” không chỉ có ý nghĩa lý luận mà còn có ý nghĩa
thực tiễn góp phần phát triển kinh tế du lịch biển ở Đồ Sơn nói riêng và du
lịch Hải Phòng nói chung trong thời gian tới.
vấn đề về xã hội, như việc giảm bớt các tệ nạn xã hội bằng việc cung cấp
công ăn việc làm cho người dân trong vùng. Ở một cái nhìn sâu và xa hơn, du
lịch bền vững giúp khai thác nguồn tài nguyên một cách có ý thức và khoa
học, đảm bào cho các nguồn tài nguyên này sinh sôi và phát triển để thế hệ
sau, thế hệ tương lai có thể được tiếp nối và tận dụng.
Hoàng Đức Cường, Phát triển kinh tế Du lịch ở Nghệ An, Luận văn Thạc
sỹ (1999), Học viện CTQG Hồ Chí Minh, 1999. Hoạt động kinh doanh du lịch
trên địa bàn tỉnh Nghệ An ngày càng tăng trưởng nhanh và hiệu quả ngày càng
rõ. Tác giả khái quát một số kết quả hoạt động du lịch ở Nghệ An từ đó chỉ ra
phương hướng và giả pháp phát triển du lịch Nghệ An. Một trong các giải pháp
được học viên tham khảo và liên hệ vào phát triển kinh tế du lịch Đồ Sơn, đó là
phát triển du lịch phải gắn kết chặt chẽ với nhiệm vụ phát triển văn hoá, nhất là
bảo tồn và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc, giáo dục truyền thống, bảo vệ môi
trường, giữ vững an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội, bảo vệ chủ quyền
biên giới và biển đảo. Mở rộng và kết hợp các loại hình du lịch (sinh thái, văn
hoá lịch sử, tâm linh, nghỉ dưỡng, chữa bệnh, vui chơi giải trí,…) nhằm tạo sự đa
dạng trong hoạt động du lịch; tập trung xây dựng một số sản phẩm du lịch độc
đáo, hấp dẫn, tạo dựng thương hiệu du lịch.
Nguyễn Thị Hoá, Tiềm năng và xu hướng phát triển du lịch - Thừa
Thiên - Huế, Luận văn Thạc sỹ Kinh tế, Học viện CTQG Hồ Chí Minh, 1997.
Luận văn chỉ ra lợi thế của thành phố Huế là những di sản và lễ hội - nguồn
7
tài nguyên quý giá của du lịch, ngành kinh tế - du lịch kết hợp với những tiềm
năng khác của tỉnh đã có những bưgớc phát triển khá toàn diện và bền vững,
trở thành một trong những trung tâm văn hóa, du lịch lớn của cả nước, thực
hiện sự liên kết về du lịch với các tour du lịch trong tuyến Hành lang kinh tế
Đông - Tây với các điểm du lịch ở Quảng Bình, Quảng Trị, Đà Nẵng, Quảng
Nam, hình thành nên “Con đường di sản miền Trung”. Luận văn cũng chỉ ra
còn một số hạn chế, đặc biệt là với thị trường khách du lịch Trung Quốc - thị
trường du lịch quốc tế trọng điểm của Hải Phòng cũng như Việt Nam đang có
xu hướng suy giảm. Đề tài đã hệ thống hóa cơ sở lý luận về xúc tiến du lịch
và xúc tiến điểm đến, trên cơ sở đó tìm hiểu thực trạng, phân tích để đánh giá
những điểm mạnh, điểm yếu của hoạt động xúc tiến nhằm thu hút khách du
lịch Trung Quốc tại Hải Phòng và đưa ra những gải pháp nhằm thúc đẩy hoạt
động xúc tiến đối với thị trường khách này.
Mặc dù đã có nhiều công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận
văn, song cho đến nay vấn đề phát triển kinh tế du lịch biển ở quận Đồ Sơn,
thành phố Hải Phòng chưa có công trình nào được công bố. Do vậy, đề tài tác
giả lựa chọn không trùng lặp với các công trình đã công bố khác.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
∗ Mục đích
Luận giải cơ sở lý luận, thực tiễn, đề xuất quan điểm giải pháp phát
triển kinh tế du lịch biển ở quận Đồ Sơn, thành phố Hải Phòng.
∗ Nhiệm vụ
- Nghiên cứu một số vấn đề lý luận chung về phát triển kinh tế du lịch
biển và các yếu tố ảnh hưởng cũng như sự cần thiết phát triển kinh tế du lịch
biển quận Đồ Sơn tới phát triển kinh tế vùng nói chung.
- Đánh giá thực trạng phát triển kinh tế du lịch biển và thực trạng tác
động của kinh tế du lịch biển Đồ Sơn tới phát triển kinh tế Quận Đồ Sơn.
- Đề xuất một số quan điểm và giải pháp chủ yếu phát triển kinh tế du
lịch biển Đồ Sơn – thành phố Hải Phòng.
9
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
∗ Đối tượng nghiên cứu
Phát triển kinh tế du lịch biển tại Quận Đồ Sơn thành phố Hải Phòng.
∗ Phạm vi nghiên cứu
1.1.
Quan niệm về phát triển kinh tế du lịch biển và nội dung
phát triển kinh tế du lịch biển ở quận Đồ Sơn, thành phố Hải Phòng
1.1.1.
Quan niệm về kinh tế du lịch biển và phát
triển kinh tế du lịch biển
- Quan niệm về du lịch
"Thực tế hoạt động du lịch đã xuất hiện từ lâu trong lịch sử phát triển
của xã hội loài người. Ngay từ cuối xã hội nguyên thuỷ hoạt động du lịch đã
ra đời. Nhưng xét từ quan điểm lịch sử phát triển thì tính kinh tế của hoạt
động du lịch cận hiện đại có sự phân biệt về bản chất so với trước kia. Thời
kỳ đầu do sự hạn chế bởi trình độ phát triển của sức sản xuất và điều kiện
giao thông vận tải, hoạt động của du lịch chủ yếu biểu hiện dưới dạng hoạt
động văn hoá xã hội như du lịch tiêu khiển của vua chúa quý tộc, du lịch của
nhân sỹ, du lịch giáo dục, du lịch tôn giáo... không có ý nghĩa xã hội phổ biến.
Mối liên hệ kinh tế trong hoạt động du lịch có đặc trưng ngẫu nhiên. Càng về
sau sự phát triển của hoạt động du lịch, kinh tế du lịch càng trở thành một bộ
phận hợp thành không thể thiếu của hoạt động kinh tế -xã hội.
Thuật ngữ "Du lịch" bắt nguồn từ gốc tiếng Latinh "Turnus" có nghĩa là
đi chơi, đi dã ngoại. Theo tiếng Pháp "tour" có nghĩa là vận động ngoài trời,
dạo chơi, leo núi. Theo tiếng Anh "To tour" có nghĩa là đi dã ngoại (ở một nơi
nào đó). Theo nghĩa Hán - Việt du lịch có thể coi là từ ghép của "Du" là đi
chơi với "Lịch" là sự lịch lãm, hiểu biết.
Khi du lịch phát triển mạnh mẽ và trở thành một lĩnh vực không thể
thiếu trong đời sống con người nói chung và trong hoạt động kinh doanh nói
riêng (từ những năm đầu của thế kỷ XX) người ta đưa ra được những khái
12
sỹ Nguyễn Khắc Viện lại quan niệm rằng: “Du lịch là sự mở rộng không gian
văn hoá của con người” . Trong từ điển tiếng Việt du lịch được giải thích là:
“Đi chơi cho biết xứ người” [8-8].
Từ những quan niệm nêu trên, có thể thấy rằng du lịch là một khái niệm
bao hàm nội dung kép. Một mặt nó mang ý nghĩa thông thường là việc đi lại
của con người với mục đích thăm quan, nghỉ ngơi, giải trí... Mặt khác, du lịch
còn được nhìn nhận dưới một góc độ khác như là hoạt động gắn chặt với
những kết quả kinh tế (sản xuất, tiêu dùng) do chính nó tạo ra. Du lịch mang
bản chất kinh tế riêng biệt, thể hiện ở chỗ nó sản xuất và cung cấp hàng hoá
phục vụ việc thoả mãn những nhu cầu vật chất và tinh thần của khách du lịch.
Và để đáp ứng nhu cầu đó đã từng bước hình thành một ngành nghề mới là
ngành du lịch, với một thị trường mới là thị trường du lịch. Cùng với sự phát
triển của các ngành kinh tế khác du lịch dần dần trở thành một ngành kinh tế
độc lập, chiếm vị trí quan trọng trong nền kinh tế quốc dân của nhiều nước.
Với cách tiếp cận đó có thể rút ra đặc trưng của du lịch là:
- Dưới góc độ khách du lịch: Là sự di chuyển và lưu trú tạm thời trong
thời gian rảnh rỗi của cá nhân hay tập thể ngoài nơi cư trú thường xuyên để
thoả mãn nghỉ ngơi, giải trí nhằm tái tạo sức lao động.
- Dưới góc độ người kinh doanh du lịch: Du lịch được hiểu là việc sản
xuất, bán và trao đổi cho khách các dịch vụ và hàng hoá nhằm đảm bảo việc
đi lại, lưu trú, ăn uống, giải trí, thông tin... đem lại lợi ích kinh tế cho quốc gia
và các tổ chức kinh doanh đó.
Dưới góc độ lý luận của khoa học kinh tế chính trị có thể hiểu: Du lịch
là một phạm trù kinh tế, phản ánh mối quan hệ qua lại giữa người với người
trong việc sản xuất, cải tạo, phát triển việc cung ứng các sản phẩm tự nhiên và
xã hội nhằm thoả mãn những nhu cầu hưởng thụ về vật chất và tinh thần của
du khách trong lĩnh vực du lịch và hoạt động kinh doanh du lịch.
yêu tố khác như điều kiện kinh tế, chính trị ... khi những điều kiện này thuận
lợi sẽ tạo điều kiện cho cung về du lịch biển được mở rộng. Ngược lại sẽ là
cho nó có xu hướng bị thu hẹp.
14
Mặt khác, khi đề cập đến khái niệm du lịch biển cần chỉ ra được những
mối liên hệ kinh tế nảy sinh và vận hành trong lĩnh vực du lịch biển ở nội hàm
của khái niệm, bao gồm cả mối quan hệ giữa con người với tự nhiên (Lực
lượng sản xuất) và mối quan hệ giữa con người với con người (Quan hệ sản
xuất). Lực lượng sản xuất trong ngành kinh tế du lich biển biểu hiện ở khả
năng nhận thúc, đánh giá về tài nguyên du lịch biển cùng khả năng cải tạo,
khai thác những tài nguyên ấy phục vụ cho mục đích kinh tế. Kinh tế du lịch
biển là ngành kinh tế mang định hướng tài nguyên khá rõ rệt, không có tài
nguyên biển thì không thể có cơ sở để ngành kinh tế này tồn tại và phát triển.
Trong lưc lượng sản xuất, con người chính là lực lượng sản xuất hàng đầu, là
yếu tố cơ bản quan trọng nhất, còn tài nguyên du lịch biển là cơ sở sự tồn tại
và phát triển của nó. Con người với khả năng và trình độ của mình có thể cải
tạo tự nhiên, biến tiềm năng du lịch biển thành những sản phẩm du lịch để
thỏa mãn nhu cầu của mình.
Bên cạnh đó khi đề cập đến khái niệm kinh tế du lịch biển phải chỉ ra
được vị trí, vai trò, xu hướng vận động cùng những mối liên hệ của nó đối với
ngành kinh tế khác trong cơ cấu của một nền kinh tế. Đồng thời, trong điều
kiện kinh tế thị trường phải xác định được định hướng phát triển của nó một
cách cụ thể.
Từ cách tiếp cận trên, ta có thể hiểu khái niệm kinh tế du lịch biển một
cách khái quát như sau: Kinh tế du lịch biển là một phạm trù kinh tế chỉ mối
quan hệ giữa người với người trong quá trình sản xuất, phân phối, trao đổi và
tiêu dùng các sản phẩm, dịch vụ du lịch biển, nhằm thỏa mãn nhu cầu của du
khách và người kinh doanh du lịch trên cơ sở khai thác tài nguyên thiên nhiên
thụ. Người tiêu dùng biết đến các sản phẩm du lịch biển qua các thông tin mà
các nhà cung cấp đưa đến. Vì vậy, việc quảng bá, xúc tiến du lịch nhằm cung
16
cấp thông tin về sản phẩm cho khách hàng rất quan trọng. Đôi khi nó làm
định hướng nhu cầu nảy sinh của du khách.
Sản phẩm du lịch biển cũng giống như các sản phẩm dịch vụ nói chung,
đa số là sản phẩm phi vật thể. Người ta tiêu dùng và đánh giá mức độ tốt, xấu
của nó thông qua chất lượng phục vụ của người bán, qua mức độ thỏa mãn
các nhu cầu vui chơi, giải trí, tìm hiểu, bổ sung kiến thức của người mua.
- Quan niệm về phát triển kinh tế du lịch biển
Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin, phát triển là một quá trình
vận động từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ chưa hoàn thiện đến
hoàn thiện hơn. Vì vậy, có thể tiếp cận khái niệm phát triển kinh tế du lịch
biển trên cơ sở sự hoàn thiện không ngừng cả về lực lượng sản xuất và quan
hệ sản xuất. Các mối liên hệ kinh tế nảy sinh và vận hanh trong kinh tế du lịch
biển thể hiện trên cả ba mặt của quan hệ sản xuất, bao gồm: quan hệ giữa
người với người trong sở hữu về tư liệu sản xuất để sản xuất và cung ứng các
dịch vụ du lịch biển; quan hệ giữa người với người trong quá trình tổ chức
điều hành, quản lý việc sản xuất, cung ứng các dịch vụ du lịch biển và quan
hệ trong tổ chức phân phối các sản phẩm, dịch vụ du lịch biển. Các quan hệ
trên diễn ra ở cả bốn khâu của quá trình sản xuất, phân phối, trao đổi và tiêu
dùng các sản phẩm, dịch vụ du lịch biển.
Như vậy, hiểu một cách khái quát, phát triển kinh tế du lịch biển là quá
trình vận động, hoàn thiện không ngừng cả về lực lượng sản xuất và quan hệ
sản xuất, thông qua việc khai thác có hiệu quả tài nguyên du lịch biển gắn với
bảo vệ môi trường, nâng cao số lượng và chất lượng các sản phẩm, dịch vụ;
không ngừng mở rộng thị trường, đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu của du
Hai là, phát triển kinh tế du lịch thể hiện ở quá trình tổ chức không
gian du lịch; kết cấu hạ tầng, cơ sở vật chất - kỹ thuật du lịch để hỗ trợ phát
triển kinh tế du lịch biển Đồ Sơn. Nói cách khác đây là quá trình thúc đẩy sự
phát triển của lực lượng sản xuất thể hiện tăng cường cả về số lượng và chất
lượng các cơ sở kinh doanh và cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội đáp ứng cho nhu
cầu phát triển kinh tế du lịch biển.
Phát triển cơ sở hạ tầng du lịch biển là một trong những nhân tố quan
trọng đối với quá trình sản xuất kinh doanh. Nó là yếu tố đảm bảo về điều
18
kiện cho hoạt động sản xuất kinh doanh được thực hiện. Phát triển cơ sở hạ
tầng du lịch biển bao gồm: phát triển hệ thống cơ sở lưu trú gần khu du lịch;
phát triển hệ thống nhà hàng; phát triển các trung tâm mua sắm, các khu bán
hàng lưu niệm, các khu vui chơi, giải trí gắn với biển, phát triển các công ty
kinh doanh du lịch.
Tiêu chí phản ánh phát triển về cơ sở hạ tầng du lịch biển: số lượng cơ
sở lưu trú, số cơ sở lưu trú đạt tiêu chuẩn xếp hạng cao; số nhà hàng, số nhà
hàng đạt tiêu chuẩn quốc gia, quốc tế; số trung tâm mua sắm, các khu vui chơi
giải trí; số các cơ sở, doanh nghiệp tham gia kinh doanh du lịch; vốn đầu tư
phát triển du lịch biển.
Phát triển số lượng sản phẩm du lịch biển: Gia tăng số lượng các sản
phẩm riêng rẽ bằng cách tạo ra sản phẩm mới hoặc bổ sung hoàn thiện sản
phẩm hiện có; Liên kết nhiều dịch vụ thành sản phẩm trọn gói mới như: nghỉ
dưỡng – tắm biển – thể thao – mua sắm; nghỉ dưỡng – thể thao – hội thảo …;
Đa dạng hóa các sản phẩm du lịch, bao gồm phát triển cả du lịch biển, du lịch
sinh thái, nghỉ dưỡng, du lịch văn hóa và du lịch công vụ .. tạo nên sự hấp dẫn
với du khách.
Nâng cao chất lượng sản phẩm du lịch biển: Chất lượng sản phẩm du
lịch được thể hiện qua những thuộc tính độc đáo, đặc thù, sự thân thiện, bầu
phát triển bền vững nói chung của xã hội.
Năm là, trong chiến lược phát triển kinh tế du lịch biển có quá trình đẩy
mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng nâng cao tỷ trọng của các ngành
công nghiệp – xây dựng và dịch vụ, xác định du lịch là ngành kinh tế mũi
nhọn, đóng góp quan trọng vào sự phát triển kinh tế, xã hội, đảm bảo quốc
phòng, an ninh của quận và thành phố. Quá trình phát triển kinh tế du lịch
biển cần hướng đến tăng dần tỷ trọng của khu vực kinh tế ngoài Nhà nước,
kinh tế Nhà nước vẫn giữ vai trò chủ đạo. Sự phát triển của kinh tế du lịch
biển còn biểu hiện ra ở sự phân công lao động diễn ra ngày càng sâu sắc, cả
theo chiều rộng và chiều sâu. Cơ sở vật chất kỹ thuật sử dụng vào việc khai
20
thác các tài nguyên du lịch biển ngày càng hiện đại, cơ cấu hợp lý, cho ra đời
những sản phẩm du lịch đa dạng với chất lượng, hiệu quả ngày càng cao.
Sáu là, sự phát triển của kinh tế du lịch biển ở quận Đồ Sơn còn được
xem xét ở khía cạnh về sự phù hợp của quan hệ sản xuất với tính chất và trình
độ phát triển của lực lượng sản xuất. Biểu hiện của sự phù hợp ở hiệu quả
kinh tế - xã hội thu được từ quá trình kinh doanh du lịch biển ngày càng cao,
môi trường được bảo vệ, người lao động tích cực trong quá trình lao động.
Ngoài ra, trong quá trình phát triển của kinh tế du lịch biển, mối liên hệ của
ngành này với các ngành kinh tế khác như giao thông vận tải, xây dựng cơ sở
hạ tầng, bưu chính viễn thông, thông tin liên lạc, ngân hàng… diễn ra ngày
càng sâu sắc. Tác động ảnh hưởng và vị trí vai trò của nó đối với đời sống
kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh ngày càng lớn, kinh tế du lịch
biển trở thành một trong những yếu tố thúc đẩy sự phát triển và tiến bộ xã hội.
1.2. Các nhân tố ảnh hưởng và sự cần thiết phát triển kinh tế du
lịch biển ở quận Đồ Sơn, thành phố Hải Phòng
1.2.1.
trường du lịch. Trong nhóm yếu tố kinh tế thì thu nhập, giá cả và tỷ giá hối
đoái đóng vai trò đặc biệt quan trọng.
Thu nhập của dân cư: Để có cầu trong du lịch thì thu nhập của dân cư
phải đạt đến mức độ nhất định vượt mức cân đối đáp ứng các nhu cầu thiết
yếu, hoặc phải có nguồn thu nhập bổ sung đủ để bù đắp cho những chi phí của
chuyến đi du lịch.
Giá cả hàng hóa: Trên thị trường chung, giá cả hàng hóa biến động sẽ
gây nên sự biến động của cầu du lịch. Giá cả hàng hóa giảm xuống, sức mua
sẽ tăng lên, việc lưu thông hàng hóa thuận lợi sẽ tác động trực tiếp đến người
tiêu dùng. Thu nhập của họ ngoài việc được sử dụng đáp ứng các nhu cầu
thiết yếu sẽ còn một khoản dôi ra có thể dành để tích lũy hoặc đi du lịch. Theo
đó nhu cầu du lịch sẽ hình thành nhanh chóng và lượng cầu du lịch tăng lên.
Tỷ giá trao đổi ngoại tệ: Yếu tố này tác động chủ yếu đến sự hình thành
cầu, đến khối lượng và cơ cấu của cầu du lịch quốc tế. Trong điều kiện giữ
nguyên giá cả của hàng hóa du lịch, tỷ giá hối đoái tác độn trực tiếp đến cầu
22
trong du lịch quốc tế. Khách du lich sẽ quyết định đến những nơi mà tỷ giá
hối đoái cao nhất giữa đồng tiên của nơi mà ho mang quốc tịch, làm việc và
nhận thu thập với nước nhận khách.
Yếu tố chính trị mang tính quyết định đến việc hình thành cầu trong du
lịch. Điều kiện ổn định chính trị, hòa bình sẽ làm tăng khối lượng khách du
lịch giữa các nước. Đường lối đối ngoại, chính sách phát triển kinh tế - xã hội
của một Đảng cầm quyển, của nhà nước, trong đó có chính sách phát triển du
lịch tác động trực tiếp đến sự hình thành cầu, cơ cấu, số lượng cầu du lịch.
Yếu tố cách mạng khoa học công nghệ và quá trình đô thị hóa: Cuộc
cách mạng khoa học kỹ thuật, công nghệ và quá trình đô thị hóa tác động sâu
sắc đến toàn bộ các hoạt động kinh tế và xã hội trong đó có du lịch. Một mặt
nó tạo điều kiện cần thiết để hình thành các nhu cầu du lịch và chuyển hóa
Trình độ văn hóa: Khi trình độ văn hóa được nâng cao thì động cơ du
lịch tăng lên, những người có trình độ văn hóa thấp thường ít có nhu cầu du
lịch. Yếu tố này tác động trực tiếp đến chất lượng sản phẩm du lịch và thông
qua nó tác động đến việc hình thành cầu, khối lượng và cơ cấu du lịch.
Nghề nghiệp: Là những hoạt động phục vụ cho mục đích kiếm sống,
dưới nhiều hình thức, được lặp đi lặp lại trong một khoảng thời gian dài hoặc
cả cuộc đời con người. Tùy theo đặc thù của mỗi nghề, con người sẽ phải
dịch chuyển, phải đi du lịch nhiều hay ít.
Thị hiếu và các kỳ vọng: Các thị hiếu và kỳ vọng tác động trực tiếp đến
việc hình thành cầu du lịch, đến cơ cấu và lượng cầu du lịch.
-
Yếu tố giao thông vận tải:
Yếu tố giao thông vận tải là tiền đề cho sự phát triển du lịch, không có
giao thông, con người sẽ không đến được nơi du lịch. Nhóm yếu tố tác động
gồm: mạng lưới giao thông, phương tiện giao thông vận tải, việc điều hành
giao thông.
Mạng lưới giao thông: Cả đường bộ, đường thuỷ và đường không dẫn
khách du lịch từ nơi cư trú thường xuyên của họ đến được nơi du lịch. Mạng
24
lưới giao thông hoàn thiện chất lượng cao, an toàn về kỹ thuật thúc đẩy việc
hình thành và phát triển cầu du lịch làm cho quy mô cầu về du lịch tăng lên.
Phương tiện giao thông vận tải: Thúc đẩy việc hình thành các chủng
loại cầu du lịch, tần suất hình thành cầu du lịch và số lượng, cơ cấu của nó.
Việc điều hành giao thông: Đảm bảo an toàn và sự thông thoáng trong
vận chuyển khách du lịch và hành lý của họ góp phần đáp ứng việc vận
kiện bất thường.
- Sự phát triển của LLSX, QHSX và các thành tựu khoa học kỹ thuật và
công nghệ
Đây là yếu tố cơ bản tác động đến việc hình thành cung du lịch biển,
đến lượng cung và cơ cấu của nó. Một mặt, sự phát triển của LLSX, QHSX
tạo ra nhu cầu và cầu du lịch. Mặt khác, do LLSX và QHSX phát triển sẽ tạo
ra các điều kiện thuận lợi về cơ sở hạ tầng, sự phát triển giao thông, thông tin
liên lạc, ngoại giao và thương mại, phát triển khả năng giao lưu kinh tế, văn
hóa xã hội sẽ thúc đẩy du lịch phát triển, cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch nhờ
thế được đầu tư ngày càng hoàn thiện, các yếu tố khác tạo cung du lịch như
tài nguyên, dịch vụ, hàng hóa vật chất cũng được quan tâm phát triển.
Các thành tựu khoa học kỹ thuật và công nghệ là yếu tố trực tiếp tác
động đến cung du lịch. Các yếu tố này góp phần tạo ra các dịch vụ du lịch và
hàng hóa vật chất phục vụ du lịch có giá trị sử dụng với chất lượng cao, ngày
càng đáp ứng tốt hơn nhu cầu du lịch.
- Cầu du lịch
Khối lượng tiền để thỏa mãn cầu du lịch có tác dụng quyết định dịch
vụ, hàng hóa vật chất bán trên thị trường du lịch. Tình trạng của cầu du lịch
tác động đồng thời đến số lượng hàng hóa vật chất và dịch vụ du lịch bán ra
trên thực tế, quá trình chuyên môn hóa của cung du lịch và đặc điểm của các
hoạt động trung gian. Số lượng cầu, cơ cấu và chất lượng của cầu du lịch tác
động trực tiếp đến cung du lịch. Sự thay đổi cơ cấu, số lượng và chất lượng
cầu làm cho nhiều loại hình du lịch mới hình thành và phát triển.
26