VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN THỊ NGA
QUẢN LÝ CÔNG TÁC XÃ HỘI ĐỐI VỚI
NGƢỜI KHUYẾT TẬT TỪ THỰC TIỄN
TỈNH KON TUM
Chuyên ngành: Công tác xã hội
Mã số: 60. 90. 01. 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÀNH CÔNG TÁC XÃ HỘI
NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS. PHẠM HỮU NGHỊ
HÀ NỘI, 2017
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng, Luận văn này là công trình nghiên cứu của cá nhân
tôi, được thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Phạm Hữu Nghị.
Việc sử dụng các số liệu, các kết quả hoạt động, kết quả điều tra, nghiên cứu
của một số cơ quan, tổ chức tại tỉnh Kon Tum đã được chú dẫn đầy đủ, trung thực
trong Luận văn.
Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về lời cam đoan này.
Học viên
Nguyễn Thị Nga
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
ASXH
An sinh xã hội
BTXH
Bảo trợ xã hội
CB,CC
Cán bộ, công chức
CTXH
Công tác xã hội
KT
Khuyết tật
LĐTBXH
Lao động - Thương binh và Xã hội
NKT
NKT, năm 2011, Quốc hội đã ban hành Luật NKT và hệ thống luật pháp chính sách
quy định về quyền của NKT, trách nhiệm của Nhà nước, cơ quan tổ chức và gia
đình trong việc bảo đảm quyền của NKT. Chính phủ đã ban hành và thực hiện hệ
thống chính sách chăm sóc, trợ giúp NKT trên các lĩnh vực: giáo dục, chăm sóc sức
khỏe, phục hồi chức năng, việc làm, văn hóa thể thao, đời sống và hỗ trợ hòa nhập.
Đồng thời Nhà nước đã huy động các nguồn lực để triển khai thực hiện các chế độ
chính sách và các giải pháp trợ giúp NKT. Các chế độ đối với NKT được hưởng
chính sách BTXH sống tại cộng đồng, trung tâm BTXH được thực hiện đúng quy
định. Hiện nay, cả nước có khoảng 70 cơ sở trợ giúp NKT cung cấp các dịch vụ
CSSK, phục hồi chức năng, lao động, dạy nghề, thể dục thể thao, văn hóa và nuôi
dưỡng đối với khoảng hơn 18.000 NKT.
Trong quá trình thực hiện chính sách, bên cạnh những mặt tích cực đạt được
cũng bộc lộ nhiều hạn chế, khó khăn: nhiều cơ quan nhà nước ở Trung ương và địa
phương chưa quan tâm đúng mức đến NKT, công tác tuyên truyền nâng cao nhận
thức và chăm lo đời sống NKT chưa đi vào chiều sâu; một số chính sách, quy định
được hướng dẫn thi hành chậm nên việc thực hiện trợ giúp không đồng bộ, có
những qui định vẫn chưa được thi hành, tổ chức thực hiện. Bên cạnh đó là những
khó khăn về nguồn lực hỗ trợ, mặc dù ngân sách nhà nước đầu tư ngày càng cao
1
nhưng vẫn thiếu nguồn kinh phí thực hiện, đội ngũ cán bộ làm công tác trợ giúp
NKT còn thiếu về số lượng và yếu về chuyên môn nghiệp vụ, cơ sở vật chất của các
Hội, hiệp hội, tổ chức tự lực, cơ sở sản xuất kinh doanh của NKT còn gặp nhiều khó
khăn chưa được trợ giúp.
Kon Tum có hơn 5.300 NKT, chiếm hơn 10% dân số của tỉnh (trong đó nữ
chiếm trên 44%). Số NKT mức độ đặc biệt nặng là gần 1.000 người; mức độ nặng
trên 3.000 người và mức độ nhẹ là trên 1.000 người. NKT đang hưởng trợ cấp hàng
tháng tại cộng đồng là hơn 4.200 người và đối tượng được hỗ trợ kinh phí chăm sóc
Việc bảo đảm quyền của NKT đã trở thành một trong những yêu cầu quan
trọng để bảo đảm công bằng, vì con người và phát triển bền vững của quốc gia.
Chính vì thế, có nhiều công trình nghiên cứu về khung pháp lý nhằm bảo đảm
quyền của NKT, có thể kể đến một số công trình tiêu biểu sau:
TS. Trần Thái Dương (2014), Trường Đại học Luật Hà Nội đã nghiên cứu về
những điểm khác biệt giữa pháp luật Việt Nam với pháp luật quốc tế, đặc biệt là
những quy định của Công ước về quyền của NKT trong việc bảo đảm quyền tiếp
cận công lý, quyền được trợ giúp pháp lý của NKT, từ đó đề xuất một số ý kiến
nhằm hoàn thiện pháp luật, thực hiện trọn vẹn nghĩa vụ quốc gia khi Việt Nam phê
chuẩn và trở thành thành viên chính thức của Công ước [9].
TS. Trần Thị Thúy Lâm (2013) đã có bài viết phân tích và đánh giá thực trạng
pháp luật Việt Nam hiện hành về dạy nghề cho NKT trên các phương diện: Chính
sách đối với cơ sở dạy nghề, NKT học nghề và giáo viên dạy nghề cho NKT; đồng
thời đưa ra một số khuyến nghị nhằm nâng cao hiệu quả việc học nghề đối với NKT
cả ở phương diện hoàn thiện pháp luật và biện pháp tổ chức thực hiện [19].
Tác giả Nguyễn Hồng Ngọc - Vụ các vấn đề xã hội, Văn phòng Quốc hội đã
có bài viết phân tích và đánh giá thực trạng pháp luật Việt Nam hiện hành về thúc
đẩy hòa nhập dành cho NKT và Người cao tuổi tại Việt Nam qua việc thực hiện các
quyền của NKT và Người cao tuổi. Trên cơ sở đánh giá việc thực hiện các quyền
của NKT, tác giả chỉ ra những hạn chế, nguyên nhân, kiến nghị với Chính phủ và
địa phương các nội dung nhằm thực hiện tốt các chính sách đối với NKT.
Ngoài ra, còn có các đề tài luận văn, luận án ngành luật học nghiên cứu về vấn
đề lý luận và thực tiễn để bảo đảm cho quyền của NKT được thực hiện của tác giả
3
Nguyễn Thị Báo (2008), Hoàn thiện pháp luật về quyền của NKT ở Việt Nam hiện
nay [4]; Đỗ Minh Nghĩa (2012), “Bảo vệ quyền nhân thân của người lao động dưới
góc độ pháp luật lao động” [23]; …
người khuyết tật ” với sự tài trợ của Tổ chức hỗ trợ NKT do PGS. TS. Nguyễn Thị
Kim Hoa (chủ biên). Cuốn sách được biên soạn phục vụ cho công tác nghiên cứu,
công tác đào tạo đại học và sau đại học chuyên ngành CTXH đối với NKT tại các
trường đào tạo CTXH trong cả nước [13].
Ngoài ra, Cục Bảo trợ xã hội, Bộ LĐTBXH còn xây dựng tài liệu hướng đến
cung cấp cho cán bộ xã hội những kiến thức và kỹ năng cần thiết trong công tác trợ
giúp cho NKT, tăng cường các chức năng xã hội của NKT để họ có thể hòa nhập
cộng đồng một cách bền vững [6].
Thứ ba, các nghiên cứu về các hoạt động thực hành công tác xã hội đối với
người khuyết tật
Các đề tài luận văn thạc sĩ ngành CTXH trong những năm gần đây có xu
hướng chuyên sâu nghiên cứu về thực trạng của CTXH đối với NKT tại các trung
tâm bảo trợ, tại cộng đồng. Từ đó, vận dụng các phương pháp CTXH với cá nhân,
phương pháp CTXH với nhóm để thúc đẩy hoạt động trợ giúp cho NKT mang tính
chuyên nghiệp hơn như: Đề tài của Phùng Thị Thu Duyên (2014) "Vận dụng những
kiến thức, kỹ năng CTXH nói chung và CTXH với NKT nói riêng trong can thiệp,
trợ giúp một NKT cụ thể" [8].
Th.S Nguyễn Thụy Diễm Hương và Th.S Tạ Thị Thanh Thủy (trường Đại học
Khoa học xã hội và nhân văn thành phố Hồ Chí Minh) cũng có bài viết nhấn mạnh đến
việc thực hành CTXH đối với NKT có thể sử dụng các phương pháp “Tăng quyền
lực”, “Dựa trên quyền” và “Điểm mạnh” để có thể làm tăng năng lực cho NKT, giúp
cho họ tham gia vào xã hội, đồng thời chống lại những rào cản do phân biệt đối xử và
thành kiến gây nên [17].
Hội thảo khoa học với chủ đề: “Quản lý trường hợp với NKT tại Việt Nam”
do Khoa CTXH của Học viện Khoa học xã hội tổ chức vào ngày 22/10/2015. Đây là
hội thảo khoa học mang nhiều ý nghĩa khi nội dung nghiên cứu, thảo luận hướng
đến vấn đề “Quản lý trường hợp với NKT” – đây là hướng đi mới hỗ trợ NKT đang
được triển khai ở nhiều địa phương theo Thông tư 01/TT-Bộ LĐTB &XH về công
tác Quản lý trường hợp với NKT nhưng còn nhiều khó khăn như khó khăn về kinh
của các Bộ, ngành, cơ quan chức năng, tổ chức xã hội với sự điều phối của NCCD,
đánh giá kết quả đạt được, những hạn chế, tồn tại, nguyên nhân, bài học kinh
6
nghiệm và định hướng cho các hoạt động hỗ trợ NKT trong năm 2014 của các cơ
quan, tổ chức thành viên NCCD. [3]
“Hội thảo Quốc tế về Công ước quyền người khuyết tật và vai trò của các Hội
người khuyết tật” do Bộ Ngoại giao chủ trì vào ngày 10/12/2013. Đây là hoạt động
trong khuôn khổ Dự án về “Tăng cường năng lực bảo đảm các quyền con người của
Việt Nam” do Chương trình phát triển Liên hợp quốc (UNDP) tài trợ. Qua quá trình
trao đổi và chia sẻ kinh nghiệm từ thực tiễn của các Hiệp hội NKT trong toàn quốc
đã cho thấy Công ước về quyền NKT đã mở ra một cách nhìn nhận, tiếp cận mới
của thế giới nói chung và của Việt Nam nói riêng đối với NKT. Công ước thúc đẩy
việc bảo đảm NKT được thụ hưởng các quyền và tự do cơ bản như tất cả mọi người.
Hội thảo “Thúc đẩy cộng đồng: Tăng quyền cho người khuyết tật” được diễn
ra vào ngày 26/3/2015 tại Hà Nội. Hội thảo nhằm giới thiệu dự án Rights Now ,
đánh giá thực trạng thực thi quyền của người khuyết tật sau khi Công ước quốc tế
về quyền của người khuyết tật được phê chuẩn tại Việt Nam, đồng thời cũng là cơ
hội để chia sẻ kỹ năng, công cụ, kinh nghiệm và tài liệu hỗ trợ nâng cao năng lực
cho Hội/nhóm/tổ chức của hoặc vì người khuyết tật Việt Nam trong tương lai.
Chương trình do MIUSA (tổ chức vận động quốc tế Hoa K ), DREDF (Quỹ Bảo vệ
và Giáo dục Quyền của NKT), IFES (Quỹ quốc tế về hệ thống bầu cử Hoa K ),
USICD (Hội đồng Quốc tế về NKT) và Trung tâm Hành động vì sự phát triển cộng
đồng (ACDC) đồng tổ chức.
Thứ năm, các công trình nghiên cứu về quản lý công tác xã hội
Có thể nói nghiên cứu về quản lý công tác xã hội là loại đề tài mới. Trước đây,
các cơ sở đào tạo sau đại học về công tác xã hội chưa giao cho các học viên thực
hiện loại đề tài này.
công tác xã hội đối với người khuyết tật từ thực tiễn tỉnh Kon Tum.
Qua quá trình tổng quan một số công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài,
có thể thấy rằng NKT luôn là mối quan tâm của cộng đồng quốc tế và của Đảng,
Nhà nước Việt Nam. Tuy vậy, tiếp cận từ góc nhìn CTXH đối với NKT còn hạn chế
về số lượng và chất lượng, đặc biệt tại tỉnh Kon Tum, một địa phương có số lượng
NKT không nhiều nhưng đa số có hoàn cảnh khó khăn còn trên 23% hộ nghèo và có
trên 53% dân số của tỉnh là người Dân tộc thiểu số. Đó cũng là một trong những lý
do chính để tôi thực hiện nghiên cứu về vấn đề này.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu đề tài là làm sáng tỏ những vấn đề lý luận quản lý
CTXH đối với NKT và thực tiễn về quản lý CTXH đối với NKT tại tỉnh Kon Tum.
Từ đó, đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý CTXH đối với NKT tại tỉnh
Kon Tum.
8
Để đạt được mục đích trên đây, luận văn có các nhiệm vụ sau:
- Lý giải những vấn đề lý luận về quản lý CTXH đối với NKT; phân tích các
yếu tố ảnh hưởng đến quản lý CTXH đối với NKT;
- Phân tích, đánh giá thực trạng công tác quản lý CTXH đối với NKT tại tỉnh
Kon Tum; phân tích thực trạng các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý CTXH đối với
NKT tại tỉnh Kon Tum;
- Đề xuất các giải pháp, kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả quản lý CTXH đối
với NKT tại tỉnh Kon Tum trong thời gian tới.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là quản lý CTXH đối với NKT.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi về nội dung: Nghiên cứu tập trung vào nội dung đánh giá thực trạng
luật liên quan đến CTXH và NKT của cả nước và của tỉnh Kon Tum; Các quy định,
chính sách của cơ quan, tổ chức trong lĩnh vực quản lý CTXH đối với NKT,…
Ngoài ra luận văn còn phân tích một số báo cáo khoa học, khoá luận tốt nghiệp có
liên quan;
Đọc và Phân tích số liệu báo cáo từ các đơn vị như báo cáo tổng kết của Sở
LĐTBXH tỉnh Kon Tum, báo cáo giám sát thực hiện Luật NKT của Quốc hội; báo cáo
của các cơ sở bảo trợ xã hội, báo cáo tổng kết của phòng LĐTBXH một số huyện, thành
phố cung cấp, báo cáo của Hội Bảo trợ NKT và Trẻ mồ côi tỉnh Kon Tum,..
- Phương pháp chuyên gia: Tham vấn ý kiến của các chuyên gia là những
người triển khai thực hiện chính sách (Lãnh đạo tỉnh và lãnh đạo Sở LĐTBXH tỉnh
Kon Tum), 02 cán bộ Quản lý và 05 chuyên gia liên quan (thuộc Trung tâm Bảo trợ
và CTXH của tỉnh).
- Phương pháp quan sát: Quan sát các hoạt động thực tiễn của công chức, viên
chức quản lý, nhân viên chăm sóc NKT và gia đình của họ.
- Phương pháp phỏng vấn sâu: Phỏng vấn sâu là những cuộc đối thoại được
lặp đi lặp lại giữa nhà nghiên cứu và người cung cấp thông tin nhằm tìm hiểu thực
trạng, những mong muốn nguyện vọng, kinh nghiệm và nhận thức của người cung
cấp thông tin thông qua chính ngôn ngữ, thái độ của người ấy. Trong luận văn này,
phương pháp phỏng vấn sâu là phương pháp chính nhằm thu thập những thông tin
cần thiết để từ đó đưa ra những khuyến nghị và giải pháp về nội dung quản lý
CTXH đối với NKT. Trong đó:
+ Nghiên cứu sẽ tập trung phỏng vấn 15 cán bộ là lãnh đạo, quản lý CTXH đối
với NKT để đánh giá về:
- Các hoạt động quản lý CTXH đối với NKT đang được triển khai như thế nào?
10
- Những khó khăn nào mà cán bộ quản lý đang phải đối mặt trong việc thực
hiện quản lý CTXH đối với NKT?
11
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
- Đối với đội ngũ quản lý
Trên thực tế, hoạt động CTXH là một hoạt động còn mới phát triển nên các
công việc trong lĩnh vực này sẽ gặp nhiều khó khăn trong đó bao gồm cả hoạt động
quản lý. Do đó với những phát hiện cũng như đề xuất của nghiên cứu sẽ góp phần
nâng cao hiệu quả quản lý CTXH đối với NKT.
- Đối với nhân viên
Là những người làm việc trong lĩnh vực này nên hiệu quả của hoạt động quản lý sẽ
ảnh hưởng trực tiếp tới hiệu quả công việc của họ. Do đó với những đề xuất trong luận
văn sẽ góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý của đội ngũ nhân viên.
- Đối với người khuyết tật
Mặc dù trong nghiên cứu này không nghiên cứu trực tiếp về NKT, tuy nhiên
về bản chất, các hoạt động quản lý CTXH sẽ có tác động gián tiếp tới NKT. Cụ thể
là các hoạt động quản lý sẽ nâng cao hiệu quả trong các hoạt động trợ giúp NKT.
Nếu quản lý tốt sẽ tạo điều kiện cho nhân viên làm việc tốt, từ đó, mang lại hiệu quả
công việc tốt và NKT sẽ được nhận nhiều dịch vụ hiệu quả với chất lượng cao.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và tài liệu tham khảo, Luận văn được
kết cấu thành 3 chương như sau:
- Chương 1: Những vấn đề lý luận về quản lý công tác xã hội đối với người
khuyết tật.
- Chương 2: Thực trạng quản lý công tác xã hội đối với người khuyết tật tại
tỉnh Kon Tum.
- Chương 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý công tác xã hội đối với
người khuyết tật từ thực tiễn tỉnh Kon Tum.
cách hiểu khác nhau về khuyết tật và phù hợp với điều kiện và hoàn cảnh Việt Nam,
đó là: “NKT là người bị khiếm khuyết một hoặc nhiều bộ phận cơ thể hoặc suy giảm
13
chức năng được biểu hiện dưới dạng tật khiến cho lao động, sinh hoạt, học tập gặp
khó khăn” [27, tr. 10].
1.1.2. Đặc điểm của người khuyết tật
NKT đương nhiên là đối tượng thuộc nhóm yếu thế cần sự giúp đỡ của toàn xã
hội, đây cũng là nhóm đối tượng đặc thù trong hoạt động CTXH. Họ gặp khó khăn
về nhiều mặt trong cuộc sống, trong đó có khó khăn về học tập, việc làm, hôn nhân,
bị k thị... Những đặc điểm tâm lý cũng như thể chất của NKT luôn ảnh hưởng đến
hoạt động trợ giúp họ. Sự khiếm khuyết về thể chất dẫn tới khả năng hoạt động
chức năng của NKT có thể bị giảm sút, vì vậy họ gặp nhiều khó khăn, trở ngại trong
sinh hoạt, lao động, học tập… Chẳng hạn, do bị bệnh tật, khó khăn đi lại hoặc giao
tiếp nên hoạt động học tập, lao động, giao lưu của NKT hạn chế hơn nhiều so với
người không khuyết tật. Bên cạnh đó, sự thiếu hụt về thể chất dẫn đến những cản
trở trong sinh hoạt, lao động nên NKT thường bị ức chế về tinh thần dẫn đến bi
quan, chán nản, tự ti hay cáu gắt, nóng nảy…Vì thế, NKT có đời sống nội tâm rất
nhạy cảm và tế nhị. NKT cần sự đồng cảm, chia sẻ chứ không phải là sự thương hại
của mọi người.
Trong quá trình tương tác xã hội, khi NKT tiếp xúc và nhận biết được thái độ k
thị hay những hành vi phân biệt đối xử của những người xung quanh xuất phát từ sự
khác biệt bên ngoài của họ, NKT có thể đánh mất ý thức về con người thực sự của
mình, khiến cho họ hoài nghi về giá trị bản thân, tự nhìn nhận bản thân thông qua hình
thể bên ngoài thay vì nhân cách bên trong. Điều đó có thể làm họ mất tự tin vào bản
thân và có thái độ tiêu cực trong gặp gỡ, giao tiếp với mọi người. Vì vậy khi tiếp xúc
với NKT cần chú ý đến hành vi, lời nói, cử chỉ để tránh hiểu lầm.
Bên cạnh đó, một số NKT với những suy nghĩ tiêu cực: Họ là gánh nặng của
+ Nhu cầu an toàn: Đây là những nhu cầu giúp con người có cuộc sống an
toàn về thân thể, việc làm, tinh thần, sức khỏe, về kinh tế, pháp luật, về trật tự xã
hội, không bị đe dọa,.. khi nhu cầu thể lý được thỏa mãn mà nhu cầu an toàn chưa
được đáp ứng, thì các nhu cầu an toàn sẽ là động lực điều khiển hành động của con
người. Con người mong muốn một thế giới bình yên, mọi sự mất ổn định đều làm
cho người ta lo lắng, sợ hãi.
+ Nhu cầu giao lưu tình cảm: Đó là nhu cầu được yêu thương, được kết bạn,
được giao tiếp, được tham gia vào các nhóm gắn bó về tình cảm. Đây là những nhu
cầu giúp con người có cuộc sống vui vẻ, hạnh phúc, con người thấy được giá trị của
mình qua tương tác với những người khác và họ cũng học được qua người khác
15
hiểu và biết cách sống chung cùng người khác, biết hòa nhập với mọi người, với
cộng đồng, với xã hội
+ Nhu cầu được quý trọng: Đây là nhu cầu được tôn trọng, kính mến, được tin
tưởng,.. nó giúp con người sống bình đẳng tự tin vào khả năng, nhu cầu về vị thế,
uy tín, tôn trọng phẩm giá, không bị coi thường, định kiến hoặc chối bỏ…
+ Nhu cầu tự thể hiện bản thân: Đây là nhu cầu về sự sáng tạo, thăng tiến,
phát triển bản thân, nó giúp con người phấn đấu vươn lên, hoàn thiện bản thân, tìm
kiếm sự hoàn hảo.
Trong cuộc sống, trước mắt con người luôn mong muốn thỏa mãn những nhu
cầu bậc thấp, sau đó mới vươn tới những nhu cầu bậc cao. Các nhu cầu bậc càng
cao bao nhiêu càng xuất hiện muộn bấy nhiêu trong sự phát triển của con người.
Nhu cầu càng cao bao nhiêu thì nó càng ít quan trọng bấy nhiêu đối với cuộc sống
đơn thuần, nó dễ bị hoãn lại, nó thực sự chưa bức bách so với sự sống còn, thậm chí
nó có thể bị lãng quên.
* Khái niệm công tác xã hội
Theo Hiệp hội Quốc gia NVCTXH Mỹ (NVCTXH) (NASW): CTXH là hoạt
động nghề nghiệp giúp đỡ các cá nhân, nhóm hay cộng đồng nhằm nâng cao hay
khôi phục tiềm năng của họ để giúp họ thực hiện chức năng xã hội và tạo ra các
điều kiện xã hội phù hợp với các mục tiêu của họ (Zastrow, 1996: 5).
18
Theo Hiệp hội NVCTXH Quốc tế 7/2000 tại Montreal, Canada (IFSW),
CTXH được định nghĩa như sau: “CTXH thúc đẩy sự thay đổi xã hội, giải quyết vấn
đề trong mối quan hệ của con người, tăng năng lực và giải phóng cho người dân
nhằm giúp cho cuộc sống của họ ngày càng thoải mái, dễ chịu. Vận dụng các lý
thuyết về hành vi con người và hệ thống xã hội, CTXH tương tác vào những điểm
giữa con người với môi trường của họ. Nhân quyền và công bằng xã hội là các
nguyên tắc cơ bản của nghề”.
CTXH tồn tại để cung cấp các dịch vụ xã hội mang tính hiệu quả và nhân đạo
cho cá nhân, gia đình, nhóm, cộng đồng và xã hội giúp họ tăng năng lực và cải thiện
cuộc sống (Zastrow, 1999.).
Theo Liên đoàn Chuyên nghiệp Xã hội Quốc tế (IFSW) tại Hội nghị Quốc tế
Montreal, Canada, vào tháng 7/2000: CTXH chuyên nghiệp thúc đẩy sự thay đổi xã
hội, tiến trình giải quyết vấn đề trong mối quan hệ con người, sự tăng quyền lực và
giải phóng cho con người, nhằm giúp cho cuộc sống của họ ngày càng thoải mái và
dễ chịu. Vận dụng các lý thuyết về hành vi con người và các hệ thống xã hội.
CTXH can thiệp ở những điểm tương tác giữa con người và môi trường của họ.
Theo Nguyễn Thị Oanh (2004). Định nghĩa cổ điển: CTXH nhằm giúp cá
nhân và cộng đồng tự giúp. Nó không phải là một hành động ban bố của từ thiện mà
nhằm phát huy sứ mệnh của hệ thống thân chủ (cá nhân, nhóm và cộng đồng) để họ
tự giải quyết vấn đề của mình [25].
PGS.TS Bùi Thị Xuân Mai (2010) đưa ra một khái niệm về CTXH như sau:
NKT bao gồm những hoạt động cụ thể như sau:
- Trợ giúp, khuyến khích, thúc đẩy và tăng cường việc thực hiện chức năng xã
hội của cá nhân, nhóm, các tổ chức và các cộng đồng NKT bằng cách giúp họ,
phòng ngừa, chữa trị và giảm nhẹ những đau buồn do khuyết tật mang lại và biết
cách sử dụng các nguồn tài nguyên một cách hiệu quả.
- Tham gia vào việc hoạch định, xây dựng và thực thi các chính sách xã hội,
các dịch vụ xã hội, các nguồn tài nguyên và các chương trình để đáp ứng những nhu
cầu của NKT và hỗ trợ cho sự phát triển của họ.
- Theo đuổi những chính sách, dịch vụ, tài nguyên và chương trình thông qua
công tác biện hộ trong phạm vi cơ sở hay trong phạm vi quản trị cơ sở hoặc hành
động chính trị để tăng quyền lực cho NKT nhằm bảo đảm sự công bằng và sự tham
gia đầy đủ của họ vào các hoạt động xã hội.
20
* Quản lý công tác xã hội
Theo Kidneigh: "Quản lý CTXH là một tiến trình chuyển đổi chính sách xã
hội thành các dịch vụ xã hội... trong một tiến trình hai chiều: (1) chuyển đổi chính
sách thành các dịch vụ xã hội cụ thể và (2) dùng kinh nghiệm để khuyến nghị sửa
đổi điều chỉnh chính sách" (Skidmore, 1990).
Vậy quản lý CTXH có thể hiểu là một tiến trình hành động liên tục của
NVCTXH trong việc sử dụng các kiến thức, kỹ năng quản lý để chuyển đổi các
chính sách xã hội thành các dịch vụ xã hội. Nó bao gồm hoạt động của những người
lãnh đạo tổ chức và tất cả những nhân viên trong tổ chức để hoàn thành mục đích
chung của tổ chức. Tiến trình căn bản bao gồm các yếu tố: quản lý, tổ chức, lãnh
đạo và kiểm tra.
* Khái niệm quản lý công tác xã hội đối với người khuyết tật
Trên cơ sở nghiên cứu các quan niệm về quản lý công tác xã hôi, chúng ta có
thể hiểu: Quản lý CTXH đối với NKT là một tiến trình hoạt động bao gồm lập kế