VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN THỊ NGA
QUẢN LÝ CÔNG TÁC XÃ HỘI
ĐỐI VỚI NGƯỜI KHUYẾT TẬT TỪ THỰC TIỄN
TỈNH KON TUM
Chuyên ngành: Công tác xã hội
Mã số: 60 90 01 01
TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ CÔNG TÁC XÃ HỘI
HÀ NỘI, 2017
Công trình được hoàn thành tại: Học viện Khoa học xã hội
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. Phạm Hữu Nghị
Phản biện 1: PGS.TS. Bùi Thị Xuân Mai
Phản biện 2: TS. Lê Hải Thanh
Luận văn sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận văn thạc sĩ họp
tại: Học viện Khoa học xã hội ...... giờ......ngày......tháng ....... năm..........
Có thể tìm hiểu luận văn tại: Thư viện Học viện Khoa học xã hội
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Những năm gần đây, NKT và các vấn đề liên quan đến NKT nhận được
sự quan tâm đặc biệt của các nhà khoa học, nhà nghiên cứu, các chuyên gia,
học giả trong và ngoài nước. Trong phạm vi nghiên cứu luận văn này, tác
giả lựa chọn và phân tích một số công trình nghiên cứu, bài viết, tạp chí tiêu
biểu.
Thứ nhất, các nghiên cứu về pháp luật, chính sách xã hội đối với người
khuyết tật: Việc bảo đảm quyền của NKT đã trở thành một trong những yêu
cầu quan trọng để bảo đảm công bằng, vì con người và phát triển bền vững
của quốc gia. Chính vì thế, có nhiều công trình nghiên cứu về khung pháp lý
nhằm bảo đảm quyền của NKT, có thể kể đến một số công trình tiêu biểu
sau: TS. Trần Thái Dương (2014), Trường Đại học Luật Hà Nội đã nghiên
cứu về những điểm khác biệt giữa pháp luật Việt Nam với pháp luật quốc tế,
đặc biệt là những quy định của Công ước về quyền của NKT trong việc bảo
đảm quyền tiếp cận công lý, quyền được trợ giúp pháp lý của NKT, từ đó đề
xuất một số ý kiến nhằm hoàn thiện pháp luật, thực hiện trọn vẹn nghĩa vụ
quốc gia khi Việt Nam phê chuẩn và trở thành thành viên chính thức của
Công ước [9]; TS. Trần Thị Thúy Lâm (2013) đã có bài viết phân tích và
đánh giá thực trạng pháp luật Việt Nam hiện hành về dạy nghề cho NKT
trên các phương diện: Chính sách đối với cơ sở dạy nghề, NKT học nghề và
giáo viên dạy nghề cho NKT; đồng thời đưa ra một số khuyến nghị nhằm
nâng cao hiệu quả việc học nghề đối với NKT cả ở phương diện hoàn thiện
pháp luật và biện pháp tổ chức thực hiện [19]; Tác giả Nguyễn Hồng Ngọc Vụ các vấn đề xã hội, Văn phòng Quốc hội đã có bài viết phân tích và đánh
giá thực trạng pháp luật Việt Nam hiện hành về thúc đẩy hòa nhập dành cho
NKT và Người cao tuổi tại Việt Nam qua việc thực hiện các quyền của NKT
và Người cao tuổi. Ngoài ra, còn có các đề tài luận văn, luận án ngành luật
2
Ngoài ra, Cục Bảo trợ xã hội, Bộ LĐTBXH còn xây dựng tài liệu hướng đến
cung cấp cho cán bộ xã hội những kiến thức và kỹ năng cần thiết trong công
tác trợ giúp cho NKT, tăng cường các chức năng xã hội của NKT để họ có
thể hòa nhập cộng đồng một cách bền vững [6].
Thứ ba, các nghiên cứu về các hoạt động thực hành công tác xã hội
đối với người khuyết tật: Các đề tài luận văn thạc sĩ ngành CTXH trong
những năm gần đây có xu hướng chuyên sâu nghiên cứu về thực trạng của
CTXH đối với NKT tại các trung tâm bảo trợ, tại cộng đồng. Từ đó, vận
dụng các phương pháp CTXH với cá nhân, phương pháp CTXH với nhóm
để thúc đẩy hoạt động trợ giúp cho NKT mang tính chuyên nghiệp hơn như:
Đề tài của Phùng Thị Thu Duyên (2014) "Vận dụng những kiến thức, kỹ
năng CTXH nói chung và CTXH với NKT nói riêng trong can thiệp, trợ
giúp một NKT cụ thể" [8]; Th.S Nguyễn Thụy Diễm Hương và Th.S Tạ Thị
Thanh Thủy (trường Đại học Khoa học xã hội và nhân văn thành phố Hồ Chí
Minh) cũng có bài viết nhấn mạnh đến việc thực hành CTXH đối với NKT có
thể sử dụng các phương pháp “Tăng quyền lực”, “Dựa trên quyền” và “Điểm
mạnh” để có thể làm tăng năng lực cho NKT, giúp cho họ tham gia vào xã hội,
đồng thời chống lại những rào cản do phân biệt đối xử và thành kiến gây nên
[17]; Hội thảo khoa học với chủ đề: “Quản lý trường hợp với NKT tại Việt
Nam” do Khoa CTXH của Học viện Khoa học xã hội tổ chức vào ngày
22/10/2015. Đây là hội thảo khoa học mang nhiều ý nghĩa khi nội dung
nghiên cứu, thảo luận hướng đến vấn đề “Quản lý trường hợp với NKT” –
đây là hướng đi mới hỗ trợ NKT đang được triển khai ở nhiều địa phương
theo Thông tư 01/TT-Bộ LĐTB &XH về công tác Quản lý trường hợp với
NKT nhưng còn nhiều khó khăn như khó khăn về kinh phí, nguồn nhân lực,
nhận thức của chính quyền địa phương các cấp về công tác này; Ngày
18/7/2015, Học viện Khoa học xã hội đã tổ chức buổi sinh hoạt khoa học với
4
đánh giá thực trạng thực thi quyền của người khuyết tật sau khi Công ước
quốc tế về quyền của người khuyết tật được phê chuẩn tại Việt Nam, đồng
thời cũng là cơ hội để chia sẻ kỹ năng, công cụ, kinh nghiệm và tài liệu hỗ
trợ nâng cao năng lực cho Hội/nhóm/tổ chức của hoặc vì người khuyết tật
Việt Nam trong tương lai. Chương trình do MIUSA (tổ chức vận động quốc
tế Hoa Kỳ), DREDF (Quỹ Bảo vệ và Giáo dục Quyền của NKT), IFES (Quỹ
quốc tế về hệ thống bầu cử Hoa Kỳ), USICD (Hội đồng Quốc tế về NKT) và
Trung tâm Hành động vì sự phát triển cộng đồng (ACDC) đồng tổ chức.
Thứ năm, các công trình nghiên cứu về quản lý công tác xã hội: Có
thể nói nghiên cứu về quản lý công tác xã hội là loại đề tài mới. Trước đây,
các cơ sở đào tạo sau đại học về công tác xã hội chưa giao cho các học viên
thực hiện loại đề tài này. Năm 2016, Học viện Khoa học xã hội đã giao cho
các học viên cao học ngành Công tác xã hội liên kết với Học viện xã hội
Châu Á Philippin khóa 1 thực hiện một số đề tài về quản lý công tác xã hội.
Chẳng hạn, học viên Đặng Thị Phấn đã thực hiện đề tài:“Quản lý công tác
xã hội đối với người có công với cách mạng từ thực tiễn tỉnh Ninh Thuận”.
Trong luận văn này, tác giả Đặng Thị Phấn đã dựa trên cơ sở phân tích đánh
giá, tìm hiểu các thực trạng, các yếu tố ảnh hưởng để đưa ra một số giải
pháp nâng cao hiệu quả quản lý công tác xã hội đối với người có công với
cách mạng [26]; Trong các luận văn về đề tài quản lý công tác xã hội cũng có
nội dung tương tự như: Nguyễn Huy (2015), "Quản lý CTXH đối với NKT
từ thực tiễn tỉnh Quảng Nam" [15]; Trần Thanh Hồng (2015), "Quản lý
CTXH đối với người tâm thần từ thực tiễn Trung tâm Xã hội tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu" [14]. Trên cơ sở đánh giá thực trạng về quản lý công tác xã hội
và các yếu tố ảnh hưởng đến CTXH đối với NKT, người tâm thần tại địa
phương, các tác giả đã đưa ra một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản
6
lý CTXH đối với NKT tại tỉnh Quảng Nam và nâng cao hiệu quả quản lý
nói riêng. Các cứ liệu được xem xét từ nhiều chiều cạnh, nhiều góc độ. Những
lập luận đều có căn cứ cơ sở khoa học và thực tiễn.
Những phát hiện của nghiên cứu này sẽ bổ sung thêm cơ sở lý luận, khoa
học cũng như phát triển hệ thống các lý luận, phương pháp trong nghiên cứu
về các vấn đề liên quan như CTXH, quản lý CTXH và một số vấn đề lý luận
về NKT.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu phân tích tài liệu; Phương pháp chuyên gia;
Phương pháp quan sát; Phương pháp phỏng vấn sâu; Phương pháp điều tra
bằng bảng hỏi.
- Phương pháp nghiên cứu phân tích tài liệu: Phương pháp này được
áp dụng phân tích các tài liệu như: Các văn bản pháp luật liên quan đến
CTXH và NKT của cả nước và của tỉnh Kon Tum; Các quy định, chính
sách của cơ quan, tổ chức trong lĩnh vực quản lý CTXH; phân tích một số
báo cáo khoa học, khoá luận tốt nghiệp có liên quan; Đọc và Phân tích số
liệu báo cáo từ các đơn vị.
- Phương pháp chuyên gia: Tham vấn ý kiến của các chuyên gia là những
người triển khai thực hiện chính sách (Lãnh đạo tỉnh và Sở LĐTBXH tỉnh Kon
Tum).
- Phương pháp quan sát: Quan sát các hoạt động thực tiễn của công
chức, viên chức quản lý, nhân viên chăm sóc và NKT, gia đình của họ.
- Phương pháp phỏng vấn sâu: Nghiên cứu sẽ tập trung phỏng vấn 15 cán
bộ là lãnh đạo, quản lý với NKT để đánh giá về:
- Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi: Tiến hành điều tra bằng bảng hỏi
với 15 cán bộ quản lý và nhân viên CTXH; 15 gia đình ngoài cộng đồng có
người thân là NKT; 20 NKT ở Trung tâm Bảo trợ và CTXH tỉnh và ngoài cộng
đồng.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1. Ý nghĩa lý luận
đối với NKT từ thực tiễn tỉnh Kon Tum.
- Chương 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý công tác xã hội đối
với người khuyết tật từ thực tiễn tỉnh Kon Tum.
9
Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ
CÔNG TÁC XÃ HỘI ĐỐI VỚI NGƯỜI KHUYẾT TẬT
1.1. Người khuyết tật: Khái niệm, đặc điểm, nhu cầu
1.1.1. Một số khái niệm
* Khái niệm Người khuyết tật
Trong phạm vi đề tài, tác giả sử dụng định nghĩa về NKT theo Luật
NKT Việt Nam ban hành vào năm 2010. Đây là định nghĩa khá đầy đủ, tổng
hợp được các cách hiểu khác nhau về khuyết tật và phù hợp với điều kiện và
hoàn cảnh Việt Nam, đó là: “NKT là người bị khiếm khuyết một hoặc nhiều
bộ phận cơ thể hoặc suy giảm chức năng được biểu hiện dưới dạng tật khiến
cho lao động, sinh hoạt, học tập gặp khó khăn” [4, tr. 10].
1.1.2. Đặc điểm/đặc trưng cơ bản của người khuyết tật
NKT đương nhiên là đối tượng thuộc nhóm yếu thế cần sự giúp đỡ của
toàn xã hội, đây cũng là nhóm đối tượng đặc thù trong hoạt động CTXH. Họ
gặp khó khăn về nhiều mặt trong cuộc sống, trong đó có khó khăn về học
tập, việc làm, hôn nhân, bị kỳ thị... Những đặc điểm tâm lý cũng như thể
chất của NKT luôn ảnh hưởng đến hoạt động trợ giúp họ. Sự khiếm khuyết
về thể chất dẫn tới khả năng hoạt động chức năng của NKT có thể bị giảm
sút, vì vậy họ gặp nhiều khó khăn, trở ngại trong sinh hoạt, lao động, học
tập… Bên cạnh đó, sự thiếu hụt về thể chất dẫn đến những cản trở trong sinh
hoạt, lao động nên NKT thường bị ức chế về tinh thần dẫn đến bi quan, chán
nản, tự ti hay cáu gắt, nóng nảy…Vì thế, NKT có đời sống nội tâm rất nhạy
sách, nguồn lực và dịch vụ nhằm giúp cá nhân, gia đình và cộng đồng giải
quyết và phòng ngừa các vấn đề xã hội góp phần bảo đảm ASXH.
* Công tác xã hội đối với người khuyết tật
Từ định nghĩa về CTXH như trên thì có thể hiểu: CTXH đối với NKT là
hoạt động chuyên nghiệp của nhân viên CTXH giúp đỡ những NKT tăng
cường hay khôi phục việc thực hiện các chức năng xã hội của họ, huy động
nguồn lực, xác định những dịch vụ cần thiết để hỗ trợ NKT, gia đình và cộng
đồng triển khai hoạt động chăm sóc trợ giúp họ một cách hiệu quả, vượt qua
những rào cản, bảo đảm sự tham gia đầy đủ vào các hoạt động xã hội trên nền
tảng sự công bằng như những người khác trong xã hội.
* Quản lý công tác xã hội
11
Quản lý CTXH có thể hiểu là một tiến trình hành động liên tục của nhân
viên xã hội trong việc sử dụng các kiến thức, kỹ năng quản lý để chuyển đổi
các chính sách xã hội thành các dịch vụ xã hội. Nó bao gồm hoạt động của
những người lãnh đạo tổ chức và tất cả những nhân viên trong tổ chức để
hoàn thành mục đích chung của tổ chức. Tiến trình căn bản bao gồm các yếu
tố: quản lý, tổ chức, lãnh đạo và kiểm tra.
* Khái niệm quản lý công tác xã hội đối với người khuyết tật
Trên cơ sở nghiên cứu các khái niệm trên, chúng ta có thể hiểu, quản
lý CTXH đối với NKT là một hoạt động bao gồm lập kế hoạch, tổ chức,
lãnh đạo chỉ đạo triển khai thực hiện kế hoạch và kiểm tra các hoạt động
CTXH trong quá trình trợ giúp NKT.
Mọi hoạt động trong chu trình quản lý từ xây dựng kế hoạch tới triển
khai hay giám sát kiểm tra,…cần chú ý tới nhu cầu và nguyện vọng của
NKT và gia đình họ và sử dụng các phương pháp CTXH cá nhân, nhóm và
cộng đồng để đáp ứng nhu cầu của NKT một cách nhân văn, nhân đạo.
1.2.2. Các hoạt động quản lý công tác xã hội
hộ nghèo; hộ cận nghèo toàn tỉnh 8.359 hộ, chiếm tỷ lệ 6,64%, trong đó, hộ
cận nghèo DTTS là 7.106 hộ, chiếm tỷ lệ 10,93% so với tổng số hộ DTTS
toàn tỉnh. Trong điều kiện còn nhiều khó khăn, thách thức, kinh tế của tỉnh
vẫn duy trì được tốc độ tăng trưởng khá cao; thu nhập bình quân đầu người
tăng từ 13,6 triệu đồng (718 USD) năm 2010 lên 32,7 triệu đồng (1.554
USD) năm 2016.
Với những đặc điểm về phong tục, tập quán của người DTTS Kon Tum,
việc quản lý CTXH đối với NKT cũng có những khó khăn nhất định như:
việc bất đồng ngôn ngữ; trình độ học vấn thấp; việc chăm sóc và trợ giúp
NKT về ăn, ở, sinh hoạt rất bất tiện (vì ở nhà sàn, thường dưới sàn nhà nuôi
trâu, bò nên mất vệ sinh); những khiếm khuyết của NKT được cho là ý
Giàng nên ít quan tâm chữa trị, phục hồi,..
2.2. Tình hình về người khuyết tật tại tỉnh Kon Tum
Theo Báo cáo kết quả 5 năm thực hiện Luật Người khuyết tật và kế
hoạch triển khai Đề án trợ giúp Người khuyết tật giai đoạn 2013-2020, trên
địa bàn tỉnh Kon Tum có 5.335 NKT, trong đó gồm: 988 NKT đặc biệt
13
nặng, 3.263 NKT nặng và 1.084 NKT nhẹ. Đa số NKT sống tại cộng đồng
cùng với gia đình, dòng họ (chiếm trên 98%), chỉ có 71 NKT đang nuôi
dưỡng tập trung tại các cơ sở bảo trợ xã hội trên địa bàn tỉnh; NKT đang
nuôi dưỡng tại các cơ sở bảo trợ xã hội chủ yếu là NKT đặc biệt nặng,
không nơi nương tựa, hoàn cảnh khó khăn. Trên địa bàn tỉnh hiện nay có
4.251 NKT nặng và đặc biệt nặng được hưởng chính sách xã hội theo Nghị
định số 136/2013/NĐ-CP ngày 21/10/2013 và Nghị định số 28/2012/NĐ-CP
ngày 10/4/2012 của Chính phủ.
Các nhu cầu của NKT chưa được đáp ứng đầy đủ, có khoảng 82,7%
NKT được tiếp cận dịch vụ y tế; 22% trẻ em từ sơ sinh đến dưới 6 tuổi được
sàng lọc phát hiện sớm khuyết tật bẩm sinh, rối loạn phát triển và được can
ngành, địa phương để làm cơ sở tổ chức triển khai thực hiện có hiệu quả các
nhiệm vụ được cấp trên giao.
2.3.3.2. Tổ chức trong quản lý công tác xã hội đối với người khuyết tật
Việc quy định chức năng, nhiệm vụ về quản lý CTXH đối với NKT đã
được quy định cụ thể, gắn với chức năng, nhiệm vụ là cơ cấu tổ chức, bộ
máy phù hợp để bảo đảm hoàn thành nhiệm vụ của cơ quan, đơn vị từ Sở
Lao động - TB&XH đến Phòng Lao động - TB&XH đến công chức Lao
động - TB&XH cấp xã.
Việc phân công thực hiện được quy định theo chức năng, nhiệm vụ của
mỗi cơ quan, tổ chức. Bên cạnh đó, một số tổ chức được giao nhiều nhiệm
vụ, nhưng việc bố trí con người chưa đáp ứng yêu cầu của tổ chức, một
người phải làm nhiều việc, nên chất lượng, hiệu quả hạn chế. Một số nhân
viên còn hạn chế về năng lực, trình độ, tinh thần, thái độ làm việc chưa cao,
quyền lợi chưa được bảo đảm,..; một số lãnh đạo giao việc chưa rõ ràng, dứt
khoát, trách nhiệm chưa gắn với quyền hạn, quyền lợi,.. đó cũng là nguyên
nhân làm ảnh hưởng đến kết quả hoạt động của tổ chức. Công tác phối hợp
trong trợ giúp NKT giữa các cấp, các ngành đôi khi chưa đồng bộ, thiếu chủ
động; tại các địa phương chưa có kinh phí dành riêng cho hoạt động trợ giúp
NKT.
2.3.3.3. Lãnh đạo/chỉ đạo thực hiện công tác xã hội đối với người
khuyết tật
Nghiên cứu đã tập trung tìm hiểu về các hoạt động của đội ngũ lãnh
đạo trong lĩnh vực CTXH đối với NKT. Kết quả cho thấy việc lãnh đạo tập
15
trung vào các hoạt động như: Hoạt động ra quyết định và mệnh lệnh; Hoạt
động hướng dẫn của người chỉ huy; Hoạt động đôn đốc, nhắc nhở và kiểm
tra, giám sát.
Một số lãnh đạo áp dụng phương pháp độc đoán, chỉ huy đã gây áp lực
viên chức trong ngành Lao động - TB&XH và cán bộ ở một số cơ sở giáo
dục, cơ sở dạy nghề có tham gia tổ chức dạy và tập huấn trong lĩnh vực
CTXH. Việc hình thành đội ngũ chuyên nghiệp đúng nghĩa là nghề CTXH
chưa thật sự được hình thành rõ nét.
2.4.2. Năng lực nhà quản lý công tác xã hội
Ngoài năng lực quản lý, kiến thức về NKT cũng như kiến thức về
CTXH cũng ảnh hưởng tới các hoạt động quản lý. Kinh nghiệm cho thấy các
nhà quản lý trong lĩnh vực này cần được đào tạo, nâng cao trình độ chuyên
sâu trong lĩnh vực CTXH đối với NKT. Có như vậy họ sẽ vững tin hơn trong
các hoạt động chỉ đạo, điều hành và lãnh đạo một cách tốt nhất.
2.4.3. Trình độ chuyên môn nghiệp vụ của nhân viên
Việc phát triển nghề CTXH chuyên nghiệp là cơ sở cho việc trợ giúp
các nhóm đối tượng yếu thế, góp phần bảo đảm an sinh xã hội. Do đó, để
hướng tới chuyên nghiệp hoá nghề CTXH thì việc phát huy năng lực, vai trò
của đội ngũ nhân viên CTXH là yêu cầu hết sức cần thiết. Để thực hiện tốt
công việc của mình khi được lãnh đạo giao, đội ngũ nhân viên xã hội cần
phải được trang bị tốt về kiến thức, kỹ năng và có thái độ làm việc chuẩn
mực, lòng đam mê nghề nghiệp.
2.4.4. Nguồn kinh phí và trình độ phát triển kinh tế - xã hội
Trong giai đoạn 2011-2015, mỗi năm ngân sách tỉnh bố trí từ 220 - 230
triệu đồng thực hiện công tác trợ giúp NKT. Với nguồn kinh phí trên, Sở
Lao động - TB&XH triển khai được một số hoạt động trong Kế hoạch trợ
giúp người khuyết tật.
Tại các huyện, thành phố, kinh phí chi cho công tác trợ giúp NKT được
thực hiện từ nguồn bảo đảm xã hội, sử dụng chi trong hỗ trợ thường xuyên
cho NKT, mua thẻ bảo hiểm y tế cho NKT.
2.4.5. Chính sách đối với người khuyết tật
Việc ban hành Luật và các văn bản dưới luật, nhằm cụ thể hóa cương
lĩnh của Đảng, Hiến pháp của Nhà nước, từng bước luật pháp hóa các quan
17
tuyên truyền chưa phong phú, đầy đủ.
18
Chương 3
ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ
QUẢN LÝ CÔNG TÁC XÃ HỘI ĐỐI VỚI
NGƯỜI KHUYẾT TẬT TẠI TỈNH KON TUM
3.1. Giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý công tác xã hội đối với
người khuyết tật
3.1.1. Nhóm giải pháp chung nhằm nâng cao hiệu quả quản lý công
tác xã hội đối với người khuyết tật
3.1.1.1. Giải pháp về cơ chế chính sách
- Chính sách về tài chính
- Chính sách về cơ chế nhân sự
3.1.1.2. Nhóm giải pháp nâng cao nhận thức về công tác xã hội
3.1.1.3. Giải pháp nâng cao năng lực về quản lý về công tác xã hội đối
với người khuyết tật
3.2. Nhóm giải pháp nâng cao hiệu quả các hoạt động quản lý công
tác xã hội đối với người khuyết tật
3.2.1. Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động lập kế hoạch
Khi triển khai các hoạt động hoạch định, cần tùy theo tính chất của mỗi
loại hoạch định để triển khai theo cách tự hoạch định hoặc bàn bạc dân chủ
trong việc hoạch định ở các cấp độ khác nhau. Với những hoạt động mang
tính chiến lược và nhạy cảm thì chỉ nên bàn bạc trong phạm vi nhỏ. Ngoài ra
các hoạt động hoạch định có ảnh hưởng tới lợi ích của nhiều người thì cần
lấy ý kiến của tập thể khi tổ chức hoạch định.
Để công tác hoạch định đạt hiệu quả, sát với nhu cầu của NKT, thì
nhất thiết phải tiến hành điều tra, khảo sát về tình hình thực tế, về nhu cầu
hợp các hoạt động trong và ngoài cơ quan,..
3.2.4. Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động kiểm tra công tác xã
hội đối với người khuyết tật
- Xây dựng kế hoạch kiểm tra cho từng chương trình đề án và có nội
dung, thời điểm và đối tượng kiểm tra cụ thể.
- Kiểm tra cần gắn với hướng dẫn, thông qua kiểm tra để đánh giá
năng lực của cán bộ ở cơ sở để đề ra kế hoạch đào tạo, tập huấn, bồi dưỡng
nghiệp vụ chuyên môn cho nhân viên CTXH.
20
- Kiểm tra phải có chương trình, kế hoạch và được thực hiện thường
xuyên, ở tất cả các địa phương, đơn vị
- Mục đích của kiểm tra là phòng tránh những thiếu sót nên khi kiểm
tra cần phải thẳng thắng, vô tư, tìm hiểu khách quan để chỉ ra những hạn chế
cùng giải quyết. Tránh kiểm tra hình thức, kiểm tra chung, vị nể mà dẫn đến
việc kiểm tra kém hiệu quả.
- Cần lồng ghép việc kiểm tra giữa các chương trình để tránh lãng phí,
không gây ảnh hưởng đến công việc thường xuyên của cấp dưới.
3.3. Một số kiến nghị cụ thể
3.3.1. Đối với Trung ương
3.3.2. Đối với địa phương
21
KẾT LUẬN
Đề tài nghiên cứu đã chỉ ra hệ thống khái niệm khoa học liên quan
như: CTXH, CTXH đối với NKT, quản lý CTXH đối với NKT làm minh
chứng cho tính khoa học của hoạt động này và cần có một nền tảng lý luận