VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
VŨ THỊ HẢI YẾN
CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC
TỪ THỰC TIỄN TỈNH HẢI DƢƠNG
Chuyên ngành:
Chính sách công
Mã số:
60 34 04 02
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG
NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC: GS.TS. NGUYỄN HỮU KHIỂN
Hà Nội, 2017
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn với đề tài: “Chính sách phát triển nguồn
nhân lực từ thực tiễn tỉnh Hải Dương” là công trình nghiên cứu của riêng tôi
dưới sự hướng dẫn của GS.TS. Nguyễn Hữu Khiển. Các kết quả, số liệu và
trích dẫn trong luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực.
Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về lời cam đoan này.
Hà Nội, ngày
Việt Nam ......................................................................................................... 66
3.4. Đề xuất và kiến nghị ............................................................................... 76
KẾT LUẬN ................................................................................................... 78
TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................ 80
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
PTNNL
Phát triển nguồn nhân lực
KT – XH
Kinh tế - Xã hội
UBND
Ủy ban nhân dân
HĐND
Hội đồng nhân dân
CNH, HĐH
Công nghiệp hóa, hiện đại hóa
GD – ĐT
Giáo dục – Đào tạo
Bảng 2.1
Lao động từ 15 tuổi trở lên đang làm việc tại thời điểm
1/7 hàng năm phân theo thành thị, nông thôn
27
Bảng 2.2
Lao động từ 15 tuổi trở lên đang làm việc tại thời điểm
1/7 hàng năm phân theo thành thị, nông thôn
27
Bảng 2.3
Quy mô dân số và lực lượng lao động trên địa bàn tỉnh
Hải Dương
30
Bảng 2.4
Hiện trạng lao động theo trình độ đào tạo của Hải
Dương
33
Bảng 2.5
nước. Một đất nước dù cho có tài nguyên thiên nhiên phong phú, máy móc kỹ
thuật hiện đại nhưng không có những con người có năng lực, trình độ, sức khỏe…
thì không thể khai thác các nguồn lực khác cho sự phát triển.
Trong quá trình lãnh đạo sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước, Đảng
ta đã thường xuyên quan tâm phát triển nguồn nhân lực nhằm tạo động lực để
phát triển kinh tế nhanh và bền vững. Hiện nay, quá trình đẩy mạnh công nghiệp
hóa, hiện đại hóa (CNH, HĐH) đất nước, xây dựng nền kinh tế tri thức đã và
đang đặt ra yêu cầu mang tính khách quan cấp thiết đối với vấn đề bồi dưỡng,
phát triển nguồn nhân lực (PTNNL) của đất nước.
Nhận thức rõ điều này, văn kiện Đại hội lần VIII của Đảng Cộng sản Việt
Nam khẳng định: “Nguồn nhân lực con người Việt Nam là vốn quý nhất trong
điều kiện các nguồn lực khác của chúng ta còn hạn chế, do đó phải lấy việc phát
triển nguồn lực con người là yếu tố cơ bản cho sự phát triển nhanh và bền
vững”. Nguồn nhân lực (NNL) không chỉ chi phối việc khai thác, phát huy các
nguồn lực khác mà còn là yếu tố quyết định đến thành công của sự nghiệp đổi
mới CNH, HĐH đất nước. Đảng và Nhà nước luôn quan tâm và có các chính
sách quan tâm, bồi dưỡng PTNNL để khai thác tốt vai trò của NNL - chìa khóa
giúp chúng ta phát huy nội lực đẩy nhanh quá trình CNH, HĐH đất nước, nâng
cao chất lượng cuộc sống của nhân dân.
1
Tuy nhiên, so với các nước trên thế giới NNL nước ta xét cả về số lượng
và chất lượng vẫn còn nhiều vấn đề bất cập. Theo đánh giá của các nhà kinh tế
và hoạch định chính sách trong nước và quốc tế thì chính sách PTNNL ở nước
ta còn thiếu đồng bộ, một số chính sách chưa phù hợp với yêu cầu của sự nghiệp
CNH, HĐH.
Tỉnh Hải Dương được tái lập từ ngày 01/01/1997 và là một trong 8 tỉnh
thuộc vùng kinh tế trọng điểm ở đồng bằng Bắc Bộ với hệ thống giao thông
đường thủy, đường bộ, đường sắt thuận lợi. Hải Dương là địa bàn cung cấp hàng
triển KT-XH của đất nước. Điều này đòi hỏi Việt Nam nói chung và tỉnh Hải
Dương nói riêng phải có các cơ chế chính sách phù hợp để NNL đủ về số lượng,
đảm bảo về chất lượng.
Với những lý do trên, tôi lựa chọn đề tài “Chính sách phát triển nguồn
nhân lực từ thực tiễn tỉnh Hải Dương” làm luận văn tốt nghiệp thạc sĩ ngành
Chính sách công của mình. Việc nghiên cứu đề tài này là thiết thực và phù hợp
với điều kiện phát triển KT-XH của tỉnh Hải Dương hiện nay.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Vấn đề về NNL, phát triển nguồn nhân lực, chính sách PTNNL được rất
nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu. Ở đây, xin được nêu một số công trình
nghiên cứu tiêu biểu sau:
- TS. Nguyễn Tuyết Mai (2000): “Chiến lược phát triển nguồn nhân lực
của Việt Nam”, Đề tài khoa học cấp Nhà nước, Bộ Kế hoạch và đầu tư. Đề tài
đã chỉ ra tầm quan trọng, quan điểm, mục tiêu, định hướng PTNNL của nước ta.
- Tác giả Phạm Minh Hạc (2003), “Đi vào thế kỷ XXI phát triển nguồn
nhân lực phục vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”, Hội thảo về phát
triển nguồn nhân lực KX-05-11 tại Thành phố Hồ Chí Minh ngày 2/3/2003, cho
rằng PTNNL được hiểu theo nghĩa rộng là cả lực lượng lao động, tiềm năng lao
động, đội ngũ lao động, đào tạo lại, đào tạo mới....và quản lý nguồn nhân lực.
Do vậy, PTNNL đòi hỏi phải có hệ thống chính sách sử dụng NNL phù hợp bao
gồm: chính sách tuyển dụng, chính sách phân công lao động, phân bổ nguồn
nhân lực, chính sách tiền lương, khen thưởng....
- Nguyễn Thanh (2005), "Phát triển nguồn nhân lực phục vụ công nghiệp
hóa, hiện đại hóa đất nước", Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. Tác giả đã khẳng
định phát triển nguồn nhân lực là yếu tố quyết định sự thành công của sự nghiệp
3
CNH, HĐH ở nước ta hiện nay. Từ đó, nêu thực trạng một số định hướng chủ
yếu phát triển nguồn nhân lực có chất lượng ở nước ta.
Phạm Ngọc Sơn (2016), “Chính sách phát triển nguồn nhân lực từ thực
tiễn huyện Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hóa”, Luận văn thạc sĩ Chính sách công, Học
viện Khoa học Xã hội.
Các công trình trên nghiên cứu chủ yếu về nguồn lực lao động và đã đề
cập đến các chính sách PTNNL. Tuy nhiên, chưa có công trình nghiên cứu riêng
nào đi sâu phân tích các chính sách PTNNL cụ thể tại tỉnh Hải Dương để đưa ra
các giải pháp hoàn thiện về chính sách cho phù hợp với tình hình thực tế để phát
triển KT - XH địa phương theo các mục tiêu định hướng đề ra. Vì vậy, đề tài
“Chính sách phát triển nguồn nhân lực từ thực tiễn tỉnh Hải Dương” sẽ là
công trình nghiên cứu có tính độc lập với mong muốn sẽ đóng góp thêm những
giải pháp nhằm thực hiện có hiệu quả chính sách PTNNL của tỉnh Hải Dương
trong thời gian tới.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
- Mục đích nghiên cứu:
Vận dụng cơ sở lý luận cơ bản về phát triển nguồn lực, các số liệu và tài
liệu thực tế, thực trạng nguồn nhân lực và các chính sách phát triển nhân lực tỉnh
Hải Dương giai đoạn 2011 - 2015. Qua đó xác định phương hướng và đề xuất
một số chính sách phát triển nguồn nhân lực của tỉnh đến năm 2020.
- Nhiệm vụ nghiên cứu:
Hệ thống hóa các cơ sở lý luận và nhận thức của bản thân về chính sách
phát triển nguồn nhân lực ở Việt Nam.
Phân tích, đánh giá mục tiêu, giải pháp và công cụ, vai trò của các chủ thể
tham gia, thể chế, các yếu tố ảnh hưởng đến tổ chức thực hiện chính sách phát
triển nguồn nhân lực tại tỉnh Hải Dương trong thời gian qua.
Đánh giá khái quát thực trạng nguồn nhân lực và các chính sách phát triển
nguồn nhân lực giai đoạn 2011 - 2015.
Xác định phương hướng và đề xuất một số chính sách để phát triển nguồn
nhân lực của tỉnh đến năm 2020.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
của luận văn được trình bày trong 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận về chính sách phát triển nguồn nhân lực
ở Việt Nam
Chương 2: Thực trạng thực hiện chính sách phát triển nguồn nhân lực tại
tỉnh Hải Dương
Chương 3: Giải pháp hoàn thiện chính sách phát triển nguồn nhân lực tại
tỉnh Hải Dương
6
Chƣơng 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN
NGUỒN NHÂN LỰC Ở VIỆT NAM
1.1. Một số vấn đề lý luận về chính sách phát triển nguồn nhân lực
1.1.1. Khái niệm nguồn nhân lực
Hiện nay, khi nói về khái niệm NNL thì có nhiều quan niệm khác nhau:
Theo giáo trình Kinh tế lao động: Nguồn nhân lực là nguồn lực về con
người được nghiên cứu dưới nhiều khía cạnh. Theo nghĩa hẹp nó bao gồm các
nhóm dân cư trong độ tuổi lao động, có khả năng lao động như vậy NNL tương
đương với nguồn lao động. Theo nghĩa rộng NNL gồm những người từ đủ 15
tuổi trở lên, nó là tổng hợp những cá nhân, những con người cụ thể tham gia vào
quá trình lao động.
Theo từ điển Tiếng Việt: Nguồn là nơi phát sinh, nơi cung cấp. Nhân lực là
sức của con người bao gồm: sức lực cơ bắp (thể lực), trình độ tri thức được vận
dụng vào quá trình lao động của mỗi cá nhân (trí lực), những ham muốn, hoài bão
của bản thân người lao động hướng tới một mục đích xác định (tâm lực). Nhân lực
với ý nghĩa đầy đủ của nó bao gồm ba yếu tố có sự liên hệ biện chứng với nhau đó
là thể lực, trí lực và tâm lực. Nguồn nhân lực được hiểu là nơi phát sinh, nơi cung
cấp sức của con người trên đầy đủ các phương diện cho lao động sản xuất.
Theo thuật ngữ trong lĩnh vực lao động của Bộ Lao động thương binh và xã
và sẽ tham gia vào quá trình sản xuất ra của cải vật chất và tinh thần thúc đẩy sự
phát triển của một quốc gia.
Với quan niệm như vậy, NNL được đặc trưng bởi hai yếu tố cơ bản: số
lượng và chất lượng nguồn nhân lực.
Về số lượng: NNL là toàn bộ lực lượng lao động xã hội của một quốc gia,
địa phương. Số lượng NNL ở nước ta là bao gồm những người trong độ tuổi lao
động, có khả năng lao động, không kể đến tình trạng có việc làm hoặc không có
việc làm. Theo khoản 1, điều 3 của Bộ luật Lao động Việt Nam năm 2012 thì
Người lao động là người từ đủ 15 tuổi trở lên, có khả năng lao động, làm việc
theo hợp đồng lao động, được trả lương và chịu sự quản lý, điều hành của người
sử dụng lao động. Như vậy, NNL bao gồm số người đang làm việc trong các
ngành, các lĩnh vực của nền KT - XH; số người thất nghiệp; số người làm công
việc nội trợ và số người là học sinh, sinh viên trong độ tuổi lao động.
8
Về chất lượng: NNL được biểu hiện ở năng lực thể chất, tinh thần, trình
độ tri thức, năng lực thực tế, kỹ năng nghề nghiệp, phẩm chất đạo đức, tác
phong lao động... đã, đang và sẽ tham gia vào quá trình sản xuất ra của cải vật
chất và tinh thần thúc đẩy sự phát triển của quá trình CNH, HĐH. Chất lượng
nguồn nhân lực được biểu hiện ở trạng thái thể lực và trí lực, cụ thể: trạng thái
sức khỏe, trình độ học vấn, chuyên môn kỹ thuật, cơ cấu ngành nghề, phẩm chất
đạo đức, nhân cách, lối sống... Trong đó, thể lực là yếu tố quan trọng, là nền
tảng để trên cơ sở đó phát triển trí tuệ, vận dụng trí tuệ vào công việc thực tiễn;
trình độ học vấn là yếu tố quan trọng nhất, nó không chỉ là cơ sở để đào tạo kỹ
năng nghề nghiệp mà còn là yếu tố hình thành nhân cách và lối sống của mỗi cá
nhân người.
Như vậy, khi đề cập đến chất lượng NNL nó liên quan đến nhiều lĩnh
vực: chăm sóc sức khỏe, y tế, giáo dục - đào tạo, lao động và việc làm gắn
với tiến bộ khoa học kỹ thuật, trả công lao động và các phúc lợi xã hội khác...
ưu đãi một hoặc một số nhóm xã hội, kích thích vào động cơ hoạt động của họ
nhằm thực hiện một mục tiêu ưu tiên nào đó trong chiến lược phát triển của một
hệ thống xã hội”. Theo tác giả thì khái niệm “hệ thống xã hội” được hiểu theo
một ý nghĩa khái quát. Đó có thể là một quốc gia, một khu vực hành chính, một
doanh nghiệp, một nhà trường.
Như vậy, phân tích khái niệm chính sách thì thấy:
+ Chính sách là do một chủ thể quyền lực hoặc chủ thể quản lý đưa ra;
+ Chính sách được ban hành căn cứ vào đường lối chính trị chung và tình
hình thực tế;
+ Chính sách được ban hành bao giờ cũng nhắm đến một mục đích nhất
định; nhằm thực hiện một mục tiêu ưu tiên nào đó; chính sách được ban hành
đều có sự tính toán và chủ đích rõ ràng.
1.1.4. Khái niệm chính sách công
Trên thế giới có nhiều định nghĩa về chính sách công, có thể kể đến một
số định nghĩa như sau:
“Chính sách công là một tập hợp các quyết định có liên quan lẫn nhau của
một nhà chính trị hay một nhóm các nhà chính trị gắn liền với việc lựa chọn các
mục tiêu và các giải pháp để đạt các mục tiêu đó” (William Jenkin, 1978), theo
tác giả thì chính sách công không phải là một quyết định đơn lẻ mà là một tập
hợp các quyết định có liên quan lẫn nhau, chủ thể ban hành chính sách công phải
là cơ quan nhà nước và phải nhằm thực hiện được các mục tiêu nhất định và các
giải pháp để đạt được các mục tiêu đó.
10
“Chính sách công là cái mà chính phủ lựa chọn làm hay không làm”
(Thomas R.Dye). Định nghĩa này của ông không bàn về mục tiêu hay mục đích
của chính sách mà thừa nhận các chính sách phản ảnh sự quyết định lựa chọn
giữa làm hay không làm của chính phủ.
“Chính sách công bao gồm các hoạt động thực tê do chính phủ tiến hành”
Có thể thấy trong các định nghĩa nêu trên đều đề cập đến các điểm chung
đó là:
- Chính sách công là chính sách của Nhà nước
- Là một tập hợp các quyết định chính trị có liên quan với nhau
- Giải quyết các vấn đề xã hội phát sinh theo ý chỉ của đảng cầm quyền
Vai trò của chính sách công
Chính sách công có vai trò định hướng cho các quá trình kinh tế, xã hội về
các mục tiêu, biện pháp và là động lực thúc đẩy các tổ chức, cá nhân tham gia
vào quá trình phát triển KT-XH của đất nước. Vai trò cụ thể được thể hiện trên
các mặt sau:
- Chính sách công định hướng cho các chủ thể trong xã hội
- Tạo động lực cho các chủ thể trong xã hội
- Điều chỉnh các hoạt động trong nền kinh tế thị trường
- Phân phối nguồn lực cho quá trình phát triển
- Tạo môi trường thích hợp cho các chủ thể tham gia hoạt động KT-XH
- Hỗ trợ các chủ thể vận động phát triển theo định hướng
- Làm cơ sở phối hợp hoạt động của các chủ thể trong xã hội
Chu trình chính sách công
Chu trình chính sách bao gồm các bước sau:
+ Vấn đề chính sách
+ Hoạch định chính sách
+ Tổ chức thực thi chính sách
+ Phân tích chính sách
+ Đánh giá chính sách
1.1.5. Khái niệm chính sách phát triển nguồn nhân lực
Chính sách PTNNL là chính sách công do đó khái niệm về chính sách
PTNNL được hiểu là một tập hợp các quyết định chính trị có liên quan của Nhà
nước về PTNNL nhằm lựa chọn các mục tiêu cụ thể, giải pháp và công cụ chính
sách để giải quyết vấn đề về PTNNL theo mục tiêu tổng thể của Đảng và Nhà
nước đã xác định.
và thành thị. Số lượng lao động đã qua đào tạo được tập trung chủ yếu ở khu
vực thành thị điều này làm ảnh hưởng không nhỏ đến sự phát triển kinh tế chung
của đất nước. Trong khi đó, lực lượng lao động từ nông thôn lên thành thị tìm
13
việc rất đông nhưng lại không tham gia đào tạo mà chủ yếu làm các công việc
thời vụ hoặc những công việc không đòi hỏi trình độ cao. Nguồn lao động dồi
dào, tỷ lệ thất nghiệp ngày càng tăng nhưng các doanh nghiệp luôn trong tình
trạng thiếu lao động. Nghịch lý này đã lý giải vấn đề lao động Việt Nam hiện
nay mới chỉ đáp ứng được nhu cầu về số lượng chứ chưa đáp ứng được nhu cầu
về chất lượng. Bên cạnh đó cơ cấu ngành nghề, lĩnh vực, sự phân bổ theo vùng
miền chưa phù hợp cũng gây lãng phí nguồn lực của Nhà nước và xã hội.
Theo đánh giá của Ngân hàng Thế giới, Việt Nam đang rất thiếu lao động
có trình độ tay nghề, công nhân kỹ thuật bậc cao, chất lượng nguồn nhân lực
cũng thấp hơn so với nhiều nước trong khu vực. Nếu lấy thang điểm 10 thì chất
lượng nhân lực của Việt Nam chỉ đạt 3,79 điểm (xếp thứ 11/12 nước Châu Á
tham gia xếp hạng của WB – 2010 trong khi Hàn Quốc là 6,91; Ấn Độ là 5,76;
Malayxia là 5,59, Thái Lan là 4,94…). Đây thực sự là một vấn đề rất đáng lo
ngại và cần được quan tâm. Từ những yếu tố trên, vấn đề chính sách PTNNL
chính là nhằm xây dựng nguồn nhân lực có cơ cấu và số lượng, chất lượng hợp
lý, có đủ năng lực, trình độ, phẩm chất đạo đức đáp ứng yêu cầu xây dựng của
đất nước trong thời kỳ mới. Phát triển nguồn nhân lực cần được giải quyết bằng
chính sách của Nhà nước bởi nguồn nhân lực là lực lượng lao động làm việc cho
Nhà nước, có quyền lợi và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật. Nhà nước là
chủ thể quản lý và sử dụng lao động vì thế Nhà nước cần có các chính sách để
xây dựng và PTNNL. Nhà nước muốn có NNL chất lượng cao thì cần phải có
các chính sách quan tâm như đào tạo, bồi dưỡng, có các cơ chế đãi ngộ kịp thời.
PTNNL chỉ thành công thông qua các chính sách hợp lý của Nhà nước.
Tùy thuộc vào từng giai đoạn phát triển, Nhà nước có các mục tiêu nhiệm vụ để
mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.
Đại hội XI (2011) Đảng đã xác định ba khâu đột phá chiến lược, trong đó
khẳng định: Phát triển nhanh nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng
cao. Đảng nêu rõ 4 định hướng chiến lược về phát triển nguồn nhân lực trong
thời kỳ hội nhập đó là: gắn phát triển nguồn nhân lực với việc đẩy nhanh tốc độ
phát triển KT - XH; gắn việc phát triển nguồn nhân lực với quá trình dân chủ
hóa, nhân văn hóa đời sống xã hội, khai thác có hiệu quả các giá trị văn hóa
truyền thống và hiện đại; nâng cao chất lượng sử dụng đội ngũ cán bộ khoa học,
công nghệ; có chiến lược phát triển con người trên cơ sở một hệ thống chính
15
sách đồng bộ hướng tới con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát
triển. Giải quyết tốt các vấn đề này sẽ tạo được yếu tố nội sinh của nguồn nhân
lực, cơ sở bền vững cho sự phát triển và hội nhập. Trong đó một vấn đề mấu
chốt được Đảng nêu ra là "Đổi mới chính sách đào tạo, sử dụng và đãi ngộ trí
thức,trọng dụng và tôn vinh nhân tài, kể cả ngươi Việt Nam ở nước ngoài" Nghị
quyết khẳng định" Việt Nam chỉ có thể đi tắt đón đầu sự phát triển trên thế giới
trong thời kỳ hội nhập bằng cách đầu tư vào yếu tố con người.
Tại Quyết định số 579/QĐ-TTg ngày 19/4/2011 của Thủ tướng chính phủ
phê duyệt Chiến lược phát triển nhân lực thời kì 2011 - 2020 đã chỉ rõ "Mục tiêu
tổng quát phát triển nhân lực Việt Nam thời kỳ 2011 - 2020 là đưa nhân lực Việt
Nam trở thành nền tảng và lợi thế quan trọng nhất để phát triển bền vững đất
nước, hội nhập quốc tế và ổn định xã hội, nâng cao trình độ năng lực cạnh tranh
của nhân lực nước ta lên mức tương đương các nước tiên tiến trong khu vực,
trong đó một số mặt tiếp cận trình độ các nước phát triển trên thế giới". Mục tiêu
cụ thể cần đạt được là:
Nhân lực Việt Nam có thể lực tốt, tầm vóc cường tráng, phát triển toàn
diện về trí tuệ, ý chí năng lực và đạo đức, có năng lực tự học, tự đào tạo, năng
động, chủ động, tự lực, sáng tạo, có tri thức và kỹ năng nghề nghiệp cao, có khả
dạng, cơ cấu ngành nghề đồng bộ, đa cấp, năng động, liên thông giữa các cấp và
các ngành đào tạo trong nước và quốc tế, phân bố rộng khắp trên cả nước góp
phần hình thành xã hội học tập, đáp ứng nhu cầu học suốt đời của người dân.
Tại Quyết định 1216/QĐ-TTg ngày 22/7/2011 của Thủ tướng chính phủ
phê duyệt Quy hoạch phát triển nhân lực Việt Nam giai đoạn 2011 - 2020 trên
cơ sở mục tiêu tổng quát "Chỉ ra được nhu cầu về số lượng cơ cấu và trình độ
nhân lực, đảm bảo yêu cầu nhân lực thực hiện thành công đường lối công nghiệp
hóa, hiện đại hóa đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, phát triển nhanh những
ngành, lĩnh vực mà Việt Nam có lợi thế so sánh quốc tế đồng thời nêu ra các
giải pháo phát triển nhân lực, hình thành đội ngũ nhân lực chất lượng cao theo
chuẩn khu vực và từng bước tiến tới chuẩn quốc tế,
Mục tiêu cụ thể là tăng nhanh tỷ lệ nhân lực qua đào tạo trong nền kinh tế
dưới các hình thức, trình độ khác nhau từ 40% năm 2010 lên 70% năm 2020,
trong đó tỷ lệ nhân lực qua đào tạo ngành nông, lâm ngư nghiệp tăng tương ứng
từ 15.5% lên 50%, ngành công nghiệp từ 78% lên 92%, ngành xây dựng từ 41%
lên 56%, ngành dịch vụ tử 67% lên 88%.
17
Phát triển đồng bộ đội ngũ nhân lực với chất lượng ngày càng cao ở mọi
lĩnh vực, tập trung ưu tiên những lĩnh vực Việt Nam có lợi thế cạnh tranh.
Xây dựng đội ngũ giáo viên có chất lượng để đào tạo nhân lực có trình độ
cho đất nước.
1.2.2.2. Giải pháp chính sách phát triển nguồn nhân lực
Việc xác định giải pháp chính sách PTNNL là việc tìm các giải pháp cho
các nguyên nhân của vấn đề chính sách mang tính đồng bộ dựa trên những
nguyên nhân chính bao gồm cả việc đo lường các nguyên nhân về mức độ
nghiêm trọng, tần suất xuất hiện, quy mô, tùy theo từng điều kiện cụ thể.
Khi hoạch định chính sách PTNNL các chủ thể đã tập trung vào một số
các giải pháp đồng bộ như sau:
tin truyền thông”, triển khai chương trình tổng thể nâng cao thể lực và tầm vóc
người Việt giai đoạn 2011 - 2025....
Thứ năm, xây dựng triển khai Chiến lược phát triển giáo dục và chiến
lược phát triển dạy nghề giai đoạn 2011 - 2020 trong đó yêu cầu đổi mới căn
bản và toàn diện giáo dục, đào tạo theo nhu cầu phát triển của xã hội, nâng cao
chất lượng đào tạo theo yêu cầu chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa, dân chủ
hóa và hội nhập quốc tế. Đổi mới mạnh mẽ nội dung, chương trình và phương
pháp dạy và học ở tất cả các bậc học.
Thứ sáu, đổi mới chính sách sử dụng nhân lực, chính sách trọng dụng và
phát triển nhân tài. Có các cơ chế, công cụ phát triển nhân lực bao gồm các nội
dung về môi trường làm việc, thu nhập, bảo hiểm, bảo trợ xã hội cùng các điều
kiện sinh sống như về nhà ở, định cư…đặc biệt chú ý đến các chính sách đối với
bộ phận nhân lực chất lượng cao.
Thứ bảy, huy động các nguồn lực cho đầu tư phát triển nguồn nhân lực
theo hướng: Tăng cường đầu tư của nhà nước, huy động vốn của các doanh
nghiệp, các tỏ chức, nguồn vốn nước ngoài để xây dựng cơ sở vật chất cho giáo
dục đào tạo đạt trình độ quốc tế. Ngân sách nhà nước là nguồn lực chủ yếu để
phát triển nhân lực quốc gia đến năm 2020. Cần xây dựng kế hoạch phân bổ
ngân sách nhà nước theo hướng tập trung để thực hiện các chương trình, nhiệm
vụ, dự án đào tạo theo mục tiêu ưu tiên và thực hiện công bằng xã hội. Đổi mới
cơ chế phân bổ và hỗ trợ bằng ngân sách nhà nước cho phát triển nhân lực.
Thứ tám, tăng cường mở rộng hợp tác quốc tế đẩy nhanh đào tạo nhân lực
trước hết là tập trung cho các ngành trọng điểm, gửi người ra nước ngoài đào tạo
tập trung vào các ngành nghề mới mà trong nước chưa đào tạo được.
19
1.2.2.3. Công cụ chính sách
Công cụ dựa vào tổ chức: là cách thức chủ thể tác động lên đối tượng và
quá trình chính sách bằng cơ cấu tổ chức thông qua các chức năng, nhiệm vụ
20