Không gian thời gian nghệ thuật trong trường ca của hữu thỉnh - Pdf 42

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2

NGUYỄN THỊ THANH THUÝ

KHÔNG GIAN - THỜI GIAN NGHỆ THUẬT
TRONG TRƯỜNG CA CỦA HỮU THỈNH

LUẬN VĂN THẠC SĨ
NGÔN NGỮ VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM

HÀ NỘI, 2016


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2

NGUYỄN THỊ THANH THUÝ

KHÔNG GIAN - THỜI GIAN NGHỆ THUẬT
TRONG TRƯỜNG CA CỦA HỮU THỈNH
Chuyên ngành: Lí luận văn học
Mã số: 60 22 01 02

LUẬN VĂN THẠC SĨ
NGÔN NGỮ VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. Hà Công Tài

HÀ NỘI, 2016


và có tính kế thừa, phát triển từ các tài liệu, tạp chí, các công trình nghiên cứu
đã được công bố… với sự trân trọng.
Kết quả nghiên cứu này không hề trùng khít với bất kì công trình
nghiên cứu nào từng công bố.
Nếu sai, tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm.

Hà Nội, ngày 26 tháng 11 năm 2016
Tác giả luận văn

Nguyễn Thị Thanh Thúy


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ....................................................................................................... 1
1. Lý do chọn đề tài ........................................................................................ 1
2. Lịch sử vấn đề ........................................................................................... 3
3. Mục đích nghiên cứu .............................................................................. 12
4. Nhiệm vụ nghiên cứu .............................................................................. 12
5. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ........................................................... 12
6. Phương pháp nghiên cứu ......................................................................... 12
7. Đóng góp của luận văn ............................................................................ 13
8. Cấu trúc của luận văn .............................................................................. 13
NỘI DUNG ................................................................................................. 14
Chương 1. KHÁI NIỆM KHÔNG GIAN - THỜI GIAN TRONG TRƯỜNG
CA CỦA HỮU THỈNH ............................................................................... 14
1.1. Khái niệm không gian - thời gian nghệ thuật. ..................................... 14
1.1.1. Không gian nghệ thuật ....................................................................... 14
1.1.2. Thời gian nghệ thuật ......................................................................... 22
1.1.3 Mối quan hệ giữa không gian - thời gian............................................ 30
1.2. Trường ca của Hữu Thỉnh. ............................................................... 34

hiện đại nói riêng như Hữu Thỉnh trong tình hình hiện nay là công việc cần
thiết. Việc làm này về mặt khoa học cho phép chúng ta có cái nhìn bao quát,
toàn diện hơn về thơ và trường ca của Hữu Thỉnh; nhận ra được đặc trưng
phong cách riêng và vị trí của nhà thơ trong nền văn học nước nhà
Tiếp cận không gian- thời gian nghệ thuật là hướng tiếp cận quan
trọng và hiệu quả của thi pháp học hiện đại. Bởi không gian và thời gian
nghệ thuật vừa là hình thức tồn tại của hình tượng, vừa là hình thức mang
tính quan niệm thể hiện đặc điểm tư duy nghệ thuật và khả năng chiếm lĩnh
hiện thực của văn học.
Tìm hiểu không gian - thời gian nghệ thuật trong thơ nói chung, trong
trường ca của Hữu Thỉnh nói riêng như là một phương tiện nghệ thuật
không chỉ cho thấy cấu trúc tác phẩm mà còn giúp người đọc nhận ra nguồn
cảm hứng sáng tạo, cảm thức tồn tại của con người trước cuộc đời với bao ý
nghĩa của đời sống nhân sinh. “Cái tâm của nhà thơ càng nặng nỗi đời thì


2

sự khắc khoải trước thời gian càng lớn” “...mỗi tác giả là cả một thế giới
không gian với những hình thù, đường nét, màu sắc khác nhau”.
1.2 - Hữu Thỉnh là một nhà thơ trưởng thành trong những năm cuối
của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước vĩ đại của dân tộc, và là nhà thơ
sớm khẳng định mình qua các giải thưởng văn học. Ba tập trường ca của
Hữu Thỉnh đều đạt các giải: Sức bền của đất đạt giải A cuộc thi thơ năm
1975-1976, Trường ca biển được tặng giải thưởng xuất sắc của Bộ quốc
phòng năm 1994, Đường tới thành phố đạt giải A của Hội nhà văn Việt
Nam năm 1995. Hữu Thỉnh cùng thời với Phạm Tiến Duật, Thanh Thảo,
Nguyễn Duy, Lâm Thị Mỹ Dạ... Trong hơn ba mươi năm cầm bút, Hữu
Thỉnh đã sáng tác 5 tập thơ và 3 trường ca (Sức bền của đất, Đường tới
thành phố, Trường ca biển) được viết trong vòng 20 năm (1975-1995) mà

dừng lại ở cái tôi cá nhân mà còn được thể hiện trong cái tôi chung của
cộng đồng, của cả một dân tộc.
Sáng tác của Hữu Thỉnh là một trong những đề tài nghiên cứu hấp
dẫn trên văn đàn trong hơn hai thập kỷ qua, đã có nhiều bài viết, nhiều ý
kiến, chuyên luận, luận văn viết về thơ và trường ca của Hữu Thỉnh. Nhiều
ý kiến nhận xét, đánh giá mang tầm khái quát về phong cách nghệ thuật thơ
Hữu Thỉnh.
Theo nhiều nhà nghiên cứu nhận định không gian - thời gian không chỉ
là biểu hiện quan niệm của tác giả về vũ trụ, nhân sinh mà còn được xử lý
“như một hình thức để kiến tạo nên tác phẩm cụ thể” Hệ thống lý thuyết thi
pháp học hiện đại đã chỉ ra rằng “Thời gian nghệ thuật là hình thức nội tại
của hình tượng nghệ thuật”. Bên cạnh đó, không gian nghệ thuật cũng là
cách thức con người tìm thấy sự tồn tại của mình trong thế giới. Tác phẩm
nghệ thuật luôn cho thấy những điểm nhìn và cảm thức, từ đó hé mở tư duy
nghệ thuật và phẩm tính con người tác giả.


4

Theo Pospelov, “Văn học nghệ thuật thì trái lại... chủ yếu thể hiện
các quá trình đời sống diễn ra trong thời gian, tức là hoạt động sống của
con người gắn liền với chuỗi cảm thụ, suy nghĩ, hành vi, sự kiện” - khẳng
định sự tồn tại của yếu tố thời gian trong văn chương như một hiện tượng
khách quan, một đặc trưng loại hình.
Likhachev trong Thế giới bên trong của tác phẩm văn học cho rằng
thời gian nghệ thuật là nhân tố nằm trong mạng lưới các tác phẩm văn học,
khiến quan niệm triết học về thời gain phải phục vụ cho những nhiệm vụ
nghệ thuật của nó.
Trong Những vẫn đề thi pháp Dostoievsski, M.Bakhtin khi xây dựng
mô hình lí thuyết thi pháp của ông đã xem xét thế giới của nhân vật với

Thỉnh không xây dựng những tính cách hoàn chỉnh, anh chỉ dừng lại đi sâu
vào một vài tâm trạng, một vài mẫu người. Phần xúc động nhất và tạo nên
tầm khái quát của trường ca chính là những mẫu người đó...”. Thiếu Mai
cũng có những nhận xét khá tinh tế về nhiều phương diện trong bài viết
Hữu Thỉnh trên đường tới thành phố, in trên báo Văn nghệ Quân đội số 31980: “Cảm xúc dạt dào, phong phú và mạnh mẽ là chỗ mạnh của Hữu
Thỉnh... Trong lòng cuộc chống Mỹ vĩ đại của nhân dân, Hữu Thỉnh thường
nghĩ về những vấn đề lớn lao của đất nước, của thời đại anh đi. Anh khao
khát thơ mình lí giải được điều đó... Thành công chủ yếu nhất của Hữu
Thỉnh cũng chính là thể hiện vừa sâu, vừa tỉnh, vừa khái quát, vừa tỉ mỉ, chí
lí những tình cảm, suy ngẫm của người chiến sĩ trong cuộc chiến đấu chống
Mỹ, cái vững của ngòi bút Hữu Thỉnh là miêu tả trực diện những tổn thất
mà tác phẩm vẫn không chìm xuống trong không khí bi đát, trái lại vẫn thấy
được xu thế tiến lên của cuộc chiến đấu...”. Sau Sức bền của đất, Đường tới
thành phố, Trường ca Biển là bức tranh hoành tráng, tập thể về những
người lính trên đảo xa, sự cô đúc một thế giới đảo điên, khắc nghiệt và đầy


6

nghịch lý, làm nổi bật một cách lung linh và góc cạnh số phận những con
người trả giá đến cùng để giữ lấy cho cuộc sống một ý nghĩa, một diện mạo
văn hóa, một thế giới riêng biệt, một đội ngũ bền vững để chống lại sự cô
đơn và sự hòa tan. Số phận họ là hiện thân của số phận dân tộc trong những
thử thách lịch sử cuối thế kỷ mà nổi bật là thử thách về vấn đề ranh giới.
Lưu Khánh Thơ trong “Hữu Thỉnh một phong cách thơ sáng tạo” in
trên Tạp chí Văn học số 2 năm 1988, cho rằng hình tượng người lính và
hiện thực lớn lao, sôi động của cuộc kháng chiến giải phóng dân tộc là
nguồn cảm hứng chủ đạo cho sáng tác của Hữu Thỉnh. Nhà thơ cũng đã tiếp
thu được ở truyền thống thơ ca dân tộc, ở cách nói, cách ví von so sánh, ở
cách tư duy, liên tưởng độc đáo để làm nên những sáng tạo thơ ca có sức

đáo và những đóng góp cho nền thi ca đương đại của thơ Hữu Thỉnh. Tác
giả đã khái quát và đưa ra nhận xét về phong cách nghệ thuật thơ Hữu
Thỉnh là sự hòa quyện nhuần nhụy giữa yếu tố truyền thống và hiện đại, có
sức lôi cuốn để “tạc dựng thành một hình tượng dân tộc Việt Nam bất tử”,
giữa trữ tình và triết luận, giữa những hình ảnh gần gũi bình dị với những ý
tứ sâu xa.
Nhà phê bình Vũ Nho trong Vài cảm nhận về Thương lượng với thời
gian của Hữu Thỉnh đã chỉ ra một Hữu Thỉnh thể hiện được bản lĩnh của
một nhà thơ có tầm vóc, được nhiều bạn đọc yêu thích, ngưỡng mộ. Những
vần thơ của ông đã làm say đắm biết bao thế hệ bạn đọc bởi những cảm
nhận rất tinh tế và tài hoa. Trong ông không còn cái bồng bột mạnh mẽ, tinh
tế của buổi đầu biết yêu, nhưng tình yêu ấy lại được cảm nhận theo những
mùi vị riêng.
Bài viết “Thơ Hữu Thỉnh” của tác giả Vũ Nho Thìn in trong “Đi giữa
miền thơ” năm 2001 cũng đã nhận xét đánh giá bao quát về thơ Hữu Thỉnh
nhưng vẫn chưa đánh giá và nhận xét về trường ca Sức bền của đất (Giải A


8

về thơ của Báo Văn nghệ (1975-1976)- tác phẩm đánh dấu sự trưởng thành
của hồn thơ chiến sỹ Hữu Thỉnh.
Năm 2001 nhà phê bình Vũ Nho có bài Sức bền của một ngòi bút, in
trên Tạp chí Diễn đàn Văn nghệ Việt Nam đã cho rằng: Thơ Hữu Thỉnh đẹp
một vẻ đa dạng. Ban đầu là sự hồn nhiên, tươi tắn, tinh tế của một người
lính trẻ. Sau là những chiêm nghiệm, suy tư, trăn trở của người lính từng
trải. Rồi từ một niềm tin tuyệt đối đến chỗ có lúc phân vân, hoang mang
nhưng vẫn kiên trì “tin, sau cay đắng vẫn tin”. Bên cạnh vẻ đẹp của những
người lính trong chiến tranh là vẻ đẹp của quê hương, đất nước, vẻ đẹp bình
dị của làng quê với những cỏ hội hè, cau ấp bẹ, cây rơm gầy, cuốc kêu

biểu hiện của không gian nghệ thuật và thời gian nghệ thuật trong thơ Hữu
Thỉnh.
Về không gian nghệ thuật tác giả khảo sát các dạng không gian nghệ
thuật cụ thể như: không gian con đường; không gian thiên nhiên, đất nước;
không gian làng quê và một số dạng không gian khác. Thứ nhất: không gian
con đường, Nguyễn Nguyên Tản tiếp cận đối tượng của mình bằng cách
chia nhỏ nó thành hai dạng cơ bản: con đường trong thời chiến và trong thời
bình. Trong thời chiến không gian con đường trước hết là những con đường
cụ thể trên những nẻo trường xung trận của người lính. Đó có thể là con
đường đầy chông gai, gian khổ, nhưng cũng không vắng bóng niềm vui,
những âm thanh rộn rã, những màu sắc rợn ngợp hết lòng cổ vũ cho người
chiến sĩ cách mạng. Một cách cụ thể, “con đường trong trường ca Đường
tới thành phố là con đường vận động có hướng của tập thể người lính” để
“trở thành biểu tượng khái quát cho bước trưởng thành của quân đội cách
mạng. Mỗi địa danh trên con đường ấy như những cột mốc trên chặng
đường giải phóng nhân dân, gợi lên chiều sâu lịch sử”.Trong giai đoạn thời
bình, không gian con đường cũng có những biểu hiện khá rõ nét của nó.


10

“Trong Trường ca biển có con đường từ đất liền đến các đảo xa. Con đường
mà người lính trải qua từ tuổi thơ tràn đầy kỉ niệm, qua những năm tháng ở
chiến trường đánh Mỹ đến khi làm người lính đảo, mang ý nghĩa điển hình
cho một thế hệ con người”.
Còn “con đường trong Thơ mùa đông là đường đời, con đường của
nhà thơ với tư cách một cá nhân - đi tìm người, tìm tri âm tri kỉ, tìm cái đẹp
và cái thiện như mơ ước và quan niệm của mình”. Tác giả còn chỉ rõ những
điểm khác biệt cơ bản về chất của không gian con đường trong hai giai
đoạn sáng tác này “So với con đường viết trong chiến tranh, con đường

anh tiếp tục triển khai “cái hiện tại tiếp diễn” cho đến đích của sự kiện”
Thời gian đồng hiện: Đồng hiện quá khứ với hiện tại đã trở thành thủ pháp
chính trong miêu tả nhân vật ở các trường ca và thơ trữ tình của Hữu
ThỉnhVà “trong sự kết hợp giữa quá khứ hiện tại và tương lai nhìn chung ở
các trường ca Hữu Thỉnh, thời gian hiện tại thường chiếm vị trí ưu tiên,
nhưng không phải là cái hiện tại đứng yên mà là hiện tại đang vận động
Tài năng của Hữu Thỉnh được khẳng định bởi một loạt các giải
thưởng thơ mà ông đoạt được. Với nhiều giải thưởng văn học có giá trị,
Hữu Thỉnh là nhà thơ có sức tìm tòi sáng tạo nghệ thuật bền bỉ. Ông luôn
có những khám phá mới, thú vị trên con đường nghệ thuật. Thơ nói chung
và trường ca nói riêng của ông có chiều sâu về nội dung, giàu chất thơ và
tính nhạc nên đã tạo sự lôi cuốn và hấp dẫn đối với bạn đọc. Qua sự sàng
lọc của thời gian, các tác phẩm của ông vẫn tìm được chỗ đứng trong lòng
độc giả và lọt vào “con mắt xanh” của những nhà nghiên cứu. Các tác giả
đã chỉ ra nét hấp dẫn kì lạ trong thơ Hữu Thỉnh được bắt nguồn từ sự kết
hợp giữa yếu tố truyền thống và yếu tố hiện đại, thể hiện rõ ý thức luôn biết
chủ động “khai thác cái hay, cái đẹp của dân gian, của dân tộc, vừa biết dồn
tâm lực, tài năng cho việc tìm kiếm sáng tạo cái mới”.


12

Tiếp nối những công trình đã có, luận văn đi vào nghiên cứu, tìm hiểu
“Không gian - thời gian trong trường ca của Hữu Thỉnh” để có một cái
nhìn toàn diện về quá trình sáng tạo nghệ thuật của Hữu Thỉnh. Trên cơ sở
đó người viết mong góp tiếng nói nhỏ bé của mình cùng với các bài viết,
các công trình nghiên cứu đã có để khẳng định đầy đủ, sâu sắc hơn sự
nghiệp thơ nói chung và trường ca nói riêng của Hữu Thỉnh.
3. Mục đích nghiên cứu
Phân tích cách chiếm lĩnh hiện thực qua không gian - thời gian trong

Thỉnh.
7. Đóng góp của luận văn
- Luận văn nghiên cứu Không gian - thời gian trong trường ca của
Hữu Thỉnh ở từng cấp độ, để làm cơ sở cho việc khám phá thơ và trường ca
của Hữu Thỉnh trên bình diện tổng thể, toàn diện.
- Lần đầu tiên không gian thời gian trong trường ca của Hữu Thỉnh
được tiếp cận một cách toàn diện, sâu sắc. Góp phần khẳng định vai trò, vị
trí của Hữu Thỉnh trong nền thơ ca hiện đại Việt Nam.
8. Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3
chương:
Chương 1: Không gian- thời gian trong trường ca của Hữu Thỉnh
Chương 2: Không gian trong trường ca của Hữu Thỉnh
Chương 3: Thời gian trong trường ca của Hữu Thỉnh


14

NỘI DUNG
Chương 1
KHÁI NIỆM KHÔNG GIAN - THỜI GIAN
TRONG TRƯỜNG CA CỦA HỮU THỈNH
1.1. Khái niệm không gian - thời gian nghệ thuật
1.1.1. Không gian nghệ thuật
Không gian là hình thức tồn tại của vật chất trong thế giới, là phương
thức tồn tại của con người giữa cuộc đời. Từ điển thuật ngữ văn học định
nghĩa:“Trong văn học nghệ thuật, không gian nghệ thuật chính là hình thức
tồn tại của hình tượng” Nếu như thời gian nghệ thuật không tồn tại trong
thời gian vật chất thì không gian nghệ thuật cũng không phải là không gian
vật lý. “Không gian nghệ thuật là hình thức bên trong của hình tượng nghệ

gian nghệ thuật và không có một nhân vật nào lại không tồn tại trong một
nền cảnh nhất dịnh nào đó. Ngay bản thân người kể chuyện cũng nhìn nhận
sự việc trong một khoảng cạch, một góc nhìn nhất định.
Không gian nghệ thuật là sản phẩm sáng tạo của người nghệ sĩ nhằm
biểu hiện con người và thể hiện quan điểm nhất định về cuộc sống. Do đó
không thể đồng nhất không gian trong tác phẩm văn học với không gian địa
lí, không gian vật lí được. Trong Thi pháp Truyện Kiều, Trần Đình Sử nhận
xét: "Không gian nghệ thuật là mô hình nghệ thuật về thế giới mà con
người đang sống, đang cảm thấy vị trí, số phận của mình trong đóvà góp
phần biểu hiện cho quan niệm ấy... Không gian nghệ thuật có thể xem là
không quyển tinh thần bao bọc cảm hứng của con người, là hiện tượng tâm
linh nội cảm chứ không phải là hiện tượng vật lí hay tâm lí". Ở các tác
phẩm không gian nghệ thuật là bối cảnh tự nhiên nhưng cũng là ý dồ sáng
tạo của người nghệ sĩ. Không gian nghệ thuật luôn chứa đựng trong lòng nó


16

cảnh huống con người và xã hội nhằm thể hiện một quan điểm nhất định về
cuộc sống. Do đó không thể quy không gian nghệ thuật về sự phản ánh giản
đơn không gian địa lí hay không gian vật lí, vật chất. Và đúng như Từ điển
thuật ngữ văn học đã nhận định: "Ngoài không gian vật thể còn có không
gian tâm tưởng"
Trong cuốn Dẫn luẫn thi pháp học, Trần Đình Sử còn cho rằng
"Không gian nghệ thuật là một hiện tượng khép kín như không gian trò
chơi". Luật chơi ở đây nằm trong quy ước chung giữa tác giả và người đọc,
do tác giả đề xuất và người đọc đồng cảm. Không gian nghệ thuật trong tác
phẩm văn học có tác dụng mô hình hóa các mối quan hệ của bức tranh thế
giới như: tôn giáo, đạo đức, xã hội, pháp luật...Không gian nghệ thuật có
thể mang tính địa điểm, tính phân giới, tính cản trở...Nó cho thấy cấu trúc

nên linh động và đầy đủ, đồng thời soi chiếu phản ánh không gian bên trong
con người:
Dừng chân đứng lại: trời, non, nước
Một mảnh tình riêng ta với ta
(Bà huyện Thanh Quan)
Nhưng trong các làng Mèo đỏ, những chiếc váy hoa đã đem ra phơi
trên mỏm đá xòe như con bướm sặc sỡ…Đám trẻ đợi Tết, chơi quay, cười
ầm lên sân chơi trước nhà. Ngoài đầu núi lấp ló đã có tiếng ai thổi sáo rủ
bạn đi chơi… Mị nghe tiếng sáo vọng lại tha thiết bổi hổi…Tiếng chó sủa
xa xa. Nhữngđêm tình mùa xuân đã tới. (Tô Hoài).
Trong Dẫn luận thi pháp học Trần Đình Sử chia ra không gian
điểm, không gian tuyến, không gian mặt phẳng - không gian khối (dựa vào
vị trí, giới hạn của sự vật), không gian bên trong - phi thời gian, không gian
bên ngoài - đổi thay (dựa vào biến đối của sự vật, hiện tượng). Bên cạnh đó
còn không gian hành động và phi hành động.


18

Tác giả Huỳnh Như Phương trong công trình Lý luận văn học vấn đề
và suy nghĩ lại phân biệt không gian thiên nhiên, không gian sinh hoạt, cũng
có thể là không gian mở hay không gian khép. Không gian nghệ thuật có thể
là không gian linh hoạt, đa hướng hoặc là không gian tĩnh tại, khép kín…
Qua không gian nghệ thuật tác giả bộc lộ tư duy nghệ thuật, cá tính sáng
tạo và đánh dấu trình độ chiếm lĩnh thế giới cũng như miêu tả hồn người.
Không gian nghệ thuật cũng mang tính hình tượng, tính quan niệm.
Vẫn từ một cảm quan thiên nhiên, môi trường xã hội bao bọc xung quanh
đời sống con người, mỗi tác giả sẽ tìm thấy một thế giới mang đường nét,
sắc màu riêng, mỗi trào lưu, bộ phận văn học lại có bút pháp tạo hình không
gian khác nhau. Đó là “lâu đài” của F. Kafka, là “con đường” của Lỗ Tấn.

đánh giá nhân vật về mặt đạo đức, thẩm mĩ. Chẳng hạn bầu trời Auterlitx
trong xanh, cao vời mà Anđrây (Chiến tranh và hòa bình - LevTolstoi) nhìn
thấy lúc nằm ngửa mặt, bị thương, giáp mặt tử thần đã thể hiện tầm hồn và
tư tưởng chàng. Bầu trời ấy là không gian thức tỉnh và khao khát, cái cao
cả, cái vĩnh hằng hiện ra qua “khoảng không vô tận màu xanh biếc”, như
muốn nói lên chân lý “ngoài bầu trời cao tận kia ra, tất cả đều là vô nghĩa,
đều là lừa dối”.
Không gian nghệ thuật trong thơ mang tính chất ít xác định. Trong
tiểu thuyết, “không gian được dễ dàng xác định bởi khuôn khổ của nội dung
cốt truyện và môi trường sinh sống của nhân vật”.
Theo Nguyễn Thái Hòa trong Những vấn đề thi pháp của truyện, ở
văn xuôi có các loại không gian không gian bối cảnh (là không gian rộng
lớn nhất mà câu chuyện xảy ra, bao gồm bối cảnh thiên nhiên, bối cảnh xã
hội, bối cảnh tâm trạng), không gian sự kiện, không gian tâm lý, không gian
kể chuyện, không gian đối thoại. Theo tác giả Lý Hoài Thu nhận xét ở thơ
“không gian nghệ thuật trở nên khó xác định bởi sự vận động của mạch cảm
xúc cùng sự biến hóa của hình tượng thơ đã làm nhòe đi ranh giới giữa



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status