LUẬN văn THẠC sĩ QUẢN lý HOẠT ĐỘNG dạy học ở TRUNG tâm GIÁO dục QUỐC PHÒNG AN NINH, đại học QUỐC GIA hà nội đáp ỨNG yêu cầu đổi mới GIÁO dục - Pdf 42

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
Chữ viết đầy đủ
Bộ Giáo dục và Đào tạo
Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn
Đại học Quốc gia Hà Nội
Giáo dục Quốc phòng - An ninh
Giáo dục Quốc phòng và An ninh
Giáo dục và đào tạo
Hoạt động dạy học
Học sinh, sinh viên
Nhà xuất bản
Quân sự, An ninh
Vũ khí trang bị
Xã hội chủ nghĩa

Chữ viết tắt
BGD&ĐT
ĐHKHXH&NV
ĐHQGHN
GDQP-AN
GDQP&AN
GD&ĐT
HĐDH
HS, SV
Nxb
QS, AN
VKTB
XHCN


MỤC LỤC

3.1. Các nguyên tắc đề xuất biện pháp
3.2. Biện pháp quản lý dạy học tại Trung tâm Giáo dục Quốc
phòng- An ninh, Đại học Quốc gia Hà Nội trong giai
đoạn mới
3.3. Khảo nghiệm tính cần thiết và tính khả thi của các biện
pháp
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC

15
15
19
24
28
28

30

46

55
55

58
76
81
83
86


3


tộc; trang bị cho họ những kiến thức cơ bản về quốc phòng - an ninh và
những kỹ năng quân sự cần thiết, để HS, SV nhận thức đầy đủ hơn quyền,
nghĩa vụ, trách nhiệm đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, góp
phần nâng cao chất lượng toàn diện nguồn lực con người.
Trong giai đoạn hiện nay, tình hình thế giới và khu vực tiếp tục diễn
biến phức tạp, tiềm ẩn những yếu tố, những nguy cơ khó lường. Đối với nước
ta, các thế lực thù địch vẫn ráo riết chống phá, chủ yếu bằng chiến lược diễn
biến hoà bình, nhằm xoá bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, xoá bỏ vai
trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản, chuyển hoá cách mạng nước ta đi chệch
hướng xã hội chủ nghĩa. Các hành động xâm hại chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ
của nước ta vẫn tiếp diễn dưới nhiều hình thức, âm mưu và với các thủ đoạn
hết sức tinh vi.
Sinh viên ở các trường đại học, cao đẳng là một lực lượng hùng hậu, có
sức khỏe, có trình độ học vấn, có tiềm năng sáng tạo, có khả năng tiếp cận và
làm chủ khoa học kỹ thuật hiện đại, chủ nhân tương lai của đất nước. Bên
cạnh đó, một bộ phận không nhỏ sinh viên đã và đang bị tác động to lớn bởi
cơ chế thị trường, có những biểu hiện xuống cấp về lối sống, dễ bị kẻ xấu
kích động, lôi kéo. Với mục tiêu giáo dục toàn diện về mọi mặt cho học sinh,
sinh viên, GDQP - AN đã tạo những cơ hội thiết thực cho thế hệ trẻ tu dưỡng
về phẩm chất đạo đức, rèn luyện và hoàn thiện bản thân, thông qua các giờ
học thực hành trên thao trường, cùng với các giờ học lý luận trên giảng đường
trang bị cho sinh viên những kiến thức cơ bản về quan điểm đường lối quân
sự của Đảng, âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch cũng như công tác
Quốc phòng trong giai đoạn hiện nay
Cùng những chuyển biến chung của ngành GD&ĐT, vai trò và vị thế
của Trung tâm GDQP - AN cũng được xã hội nhận thức một cách đầy đủ và
cụ thể. Trung tâm GDQP - AN Đại học quốc gia Hà Nội bên cạnh những kết

huấn luyện quân sự thuộc chương trình giáo dục do Chính phủ quy định.

5


Thực hiện Luật Nghĩa vụ quân sự, ngày 26 tháng 12 năm 1961, Hội
đồng Chính phủ đã ban hành Nghị định số 217- CP về Điều lệ đăng ký, thống
kê và quản lý quân nhân dự bị, trong đó quy định “những sinh viên và học
sinh trong lứa tuổi nghĩa vụ quân sự đang học tại các trường đại học và các
trường chuyên nghiệp trung cấp phải đăng ký vào loại hạ sĩ quan và binh sĩ
dự bị hạng 2”. Tiếp đó, ngày 28 tháng 12 năm 1961, Hội đồng Chính phủ đã
ban hành Nghị định số 219/CP về việc Huấn luyện quân sự cho quân nhân dự
bị và dân quân tự vệ. Tại Điều 3 của Nghị định này, quy định: “…trong các
trường đại học và các trường chuyên nghiệp trung cấp việc học tập quân sự
phải đặt thành một môn học chính”. Từ đây, môn học Huấn luyện quân sự
phổ thông được đưa vào trong chương trình giáo dục của các trường chuyên
nghiệp trung cấp (nay là trung cấp chuyên nghiệp), đại học, cao đẳng và sau
đó là các trường phổ thông cấp 3 (nay là trung học phổ thông). Môn học Huấn
luyện quân sự phổ thông là dấu mốc quan trọng, góp phần thực hiện mục tiêu
giáo dục toàn diện, tạo điều kiện cho thế hệ trẻ tu dưỡng phẩm chất đạo đức,
rèn luyện lối sống có kỷ luật và năng lực để sẵn sàng thực hiện 2 nhiệm vụ
chiến lược: xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
Sau giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, quán triệt nhiệm vụ xây
dựng và bảo vệ Tổ quốc, kết hợp chặt chẽ xây dựng kinh tế với củng cố quốc
phòng, Đảng, Nhà nước ta thường xuyên quan tâm đến nhiệm vụ giáo dục
quốc phòng. Để làm cơ sở cho các cấp, các ngành lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức
triển khai thực hiện, Ban Bí thư Trung ương Đảng (khóa VI) ban hành Chỉ thị
số 107-CT/TW ngày 28 tháng 4 năm 1981 về tăng cường công tác giáo dục
quốc phòng nhân dân, chuẩn bị cho thế hệ trẻ sẵn sàng làm nghĩa vụ bảo vệ
Tổ quốc. Tiếp đó, ngày 30 tháng 7 năm 1987, Bộ Chính trị (khóa VI) ra Nghị

nhân dân Việt Nam sửa đổi, bổ sung (công bố ngày 02 tháng 01 năm 1991);
để thực hiện nhiệm vụ xây dựng Quân đội, củng cố quốc phòng - an ninh phù
hợp với điều kiện kinh tế - xã hội trong tình hình mới, Chủ tịch Hội đồng Bộ
trưởng (nay là Thủ tướng Chính phủ) ban hành Chỉ thị số 420-CT ngày 30
tháng 12 năm 1991 về giáo dục quốc phòng và đào tạo sĩ quan dự bị trong học
sinh, sinh viên.

7


Đối với hệ thống các trường hành chính, chính trị, đoàn thể, môn Giáo
dục quốc phòng cũng được quy định tại Nghị định số 71/CP ngày 13 tháng 7
năm 1994 của Chính phủ.
Để thực hiện tốt nhiệm vụ quốc phòng phục vụ sự nghiệp bảo vệ và xây
dựng Tổ quốc trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất
nước, Bộ Chính trị ban hành Chỉ thị số 62-CT/TW ngày 12 tháng 02 năm
2001 về tăng cường công tác giáo dục quốc phòng toàn dân trong tình hình
mới. Chỉ thị nêu rõ: “Cần tăng cường thực hiện công tác giáo dục quốc phòng
toàn dân sâu rộng, thường xuyên có nền nếp vững chắc…”,
Ngày 01 tháng 5 năm 2001, Chính phủ ban hành Nghị định số
15/2001/NĐ-CP về Giáo dục quốc phòng, trong đó quy định rõ về vị trí, tính
chất, mục tiêu, yêu cầu, nguyên lý, đối tượng, cơ chế, chính sách… và nội
dung cơ bản của công tác giáo dục quốc phòng
Sau năm 1975, việc huấn luyện quân sự phổ thông được điều chỉnh phù
hợp với giai đoạn phát triển mới, Đảng và Nhà nước đã chỉ đạo tăng cường
giáo dục nâng cao nhận thức của học sinh, sinh viên về quốc phòng và an
ninh. Ở bậc đại học, sĩ quan biệt phái đảm nhiệm giảng dạy khi ngành giáo
dục và đào tạo chưa đào tạo được giảng viên chuyên trách. Ngày 11 tháng 5
năm 1982, Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) đã có Nghị định số
86/HĐBT về chế độ biệt phái của sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam; Nghị

dân về nhận thức và trách nhiệm đối với sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc Việt Nam
xã hội chủ nghĩa trong tình hình mới. Kết quả đạt được trong những năm qua
đã khẳng định chủ trương đúng đắn của Đảng, Nhà nước về công tác giáo dục
quốc phòng, an ninh.
Tuy nhiên, trong tổ chức thực hiện, công tác giáo dục quốc phòng, an
ninh còn bộc lộ một số yếu kém. Nhận thức và trách nhiệm đối với nhiệm vụ
giáo dục quốc phòng, an ninh trong tình hình mới của một số bộ phận cán bộ,
ngành chưa sâu sắc, cá biệt còn có cán bộ chủ chốt ngại đi bồi dưỡng kiến

9


thức quốc phòng, an ninh. Việc tuyên truyền phổ biến kiến thức quốc phòng,
an ninh toàn dân trên các phương tiện thông tin đại chúng ở một số địa
phương chưa được coi trọng đúng mức, hiệu quả thấp. Đội ngũ giảng viên
giáo dục quốc phòng, an ninh chưa đáp ứng yêu cầu cả về số lượng và chất
lượng; phương pháp tổ chức thực hiện ở nhiều cơ sở giáo dục - đào tạo chậm
đổi mới nên chất lượng giáo dục quốc phòng, an ninh cho học sinh, sinh viên
còn nhiều hạn chế…
Để khắc phục những hạn chế, khuyết điểm trên, đưa công tác giáo dục
quốc phòng, an ninh đi vào chiều sâu, góp phần làm chuyển biến mạnh mẽ về
nhận thức và trách nhiệm của toàn Đảng, toàn dân, ngày 03 tháng 5 năm
2007, Bộ Chính trị (Khóa X) đã ban hành Chỉ thị số 12-CT/TW về tăng
cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác giáo dục quốc phòng, an ninh
trong tình hình mới.
Nhằm cụ thể hóa Chỉ thị số 12-CT/TW của Bộ Chính trị, ngày 10 tháng
7 năm 2007, Chính phủ ban hành Nghị định số 116/2007/NĐ-CP về Giáo dục
quốc phòng - an ninh. Nghị định quy định về phạm vi điều chỉnh, vị trí, tính
chất, mục tiêu, yêu cầu, nguyên lý đến đối tượng, nội dung, chương trình, thời
gian, địa điểm và cơ chế, chính sách đối với công tác giáo dục quốc phòng an ninh.

* Nhiệm vụ nghiên cứu
- Hệ thống hoá cơ sở lý luận về quản lý hoạt động dạy học ở Trung tâm
Giáo dục Quốc phòng - An ninh, Đại học Quốc gia Hà Nội.
- Khảo sát, phân tích thực trạng quản lý hoạt động dạy học hiện nay ở
Trung tâm Giáo dục Quốc phòng - An ninh, Đại học Quốc gia Hà Nội.
- Đề xuất biện pháp quản lý hoạt động dạy học ở Trung tâm Giáo dục
Quốc phòng - An ninh, Đại học Quốc gia Hà Nội.
4. Khách thể, đối tượng, phạm vi nghiên cứu của đề tài
* Khách thể nghiên cứu
Hoạt động dạy học ở Trung tâm Giáo dục Quốc phòng - An ninh, Đại
học Quốc gia Hà Nội

11


* Đối tượng nghiên cứu
Quản lý hoạt động dạy học ở Trung tâm Giáo dục Quốc phòng - An
ninh, Đại học Quốc gia Hà Nội
* Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi về nội dung: Đề tài nghiên cứu biện pháp quản lý hoạt động

dạy học ở Trung tâm Giáo dục Quốc phòng - An ninh, Đại học Quốc gia Hà
Nội, tập trung vào quản lý hoạt động dạy học cho sinh viên chính quy của Đại
học Quốc gia Hà Nội.
- Phạm vi khảo sát: Đối tượng khảo sát bao gồm: Cán bộ quản lý, giảng
viên, sinh viên Trung tâm Giáo dục Quốc phòng - An ninh, Đại học Quốc gia

Hà Nội
- Phạm vi thời gian: Các số liệu trong đề tài được sử dụng từ năm 2013 đến nay.


Phương pháp quan sát
Mục đích chính của việc sử dụng phương pháp này là tìm hiểu thực trạng
quản lý hoạt động dạy học ở Trung tâm giáo dục Quốc phòng - An ninh, Đại học
Quốc gia Hà Nội để khẳng định thực trạng quản lý hoạt động dạy học ở Trung tâm
Giáo dục Quốc phòng - An ninh, Đại học Quốc gia Hà Nội
Phương pháp điều tra
Bằng việc xây dựng hệ thống câu hỏi điều tra theo những nguyên tắc và nội
dung chủ định của người nghiên cứu; phương pháp này được sử dụng với mục đích
chủ yếu thu thập số liệu để làm rõ thực trạng quản lý hoạt động dạy học ở Trung
tâm giáo dục Quốc phòng - An ninh, Đại học Quốc gia Hà Nội.
Phương pháp chuyên gia
Bằng việc lấy ý kiến qua hệ thống các câu hỏi về các giải pháp quản lý gửi tới
các chuyên gia. Phương pháp này được sử dụng với mục đích xin ý kiến của các
chuyên gia về các biện pháp được đề xuất.
Phương pháp phỏng vấn
Hỗ trợ cho phương pháp điều tra viết, phương pháp lấy ý kiến chuyên gia,
đồng thời kiểm tra độ tin cậy của kết quả nghiên cứu; bằng việc trao đổi ý kiến với
đội ngũ các cán bộ, giảng viên lâu năm có kinh nghiệm, có uy tín và sinh viên.
- Các phương pháp hỗ trợ
Sử dụng các công thức toán thống kê để xử lý các kết quả nghiên cứu, từ đó
rút ra nhận xét khoa học mang tính khái quát

13


7. Ý nghĩa của đề tài
Kết quả nghiên cứu về lý luận và các biện pháp quản lý hoạt động dạy
học có thể ứng dụng ở Trung tâm Giáo dục Quốc phòng - An ninh, Đại học
Quốc gia Hà Nội
8. Kết của cấu đề tài

mức độ khác nhau đến hoạt động giảng viên và sinh viên, góp phần tạo nên
chất lượng của quá trình dạy học.
Trong luận văn này tác giả sử dụng khái niệm ”dạy học” dưới góc độ
hoạt động: Dạy học là hoạt động tương tác giữa giảng viên và sinh viên trong
môi trường sư phạm, nhằm tích cực hóa hoạt động nhận thức của sinh viên,
giúp họ đạt được các mục tiêu học tập của mình.
15


- Hoạt động giảng dạy của giảng viên:
Giảng viên đại học ở trình độ lý tưởng, là chuyên gia giáo dục, là nhà
chuyên môn, là nhà khoa học. Để giảng dạy tốt, giảng viên phải được đào tạo
chu đáo, phải nắm vững đặc điểm tâm lý, quy luật nhận thức của sinh viên,
nắm vững mục tiêu, chương trình đào tạo, nội dung các môn học và có
phương pháp sư phạm sáng tạo.
- Giảng viên giữ vai trò chủ đạo trong tổ chức, điều khiển, hướng dẫn
sinh viên học tập lý thuyết và thực hành, trong giáo dục thái độ sống và đạo
đức nghề nghiệp cho sinh viên.
- Vai trò tổ chức của giảng viên thể hiện trong việc thiết kế và thực hiện
các chương trình, kế hoạch dạy học, trong việc giảng dạy các học phần nội
khoá, ngoại khoá, lý thuyết, thực hành, thực tập chuyên môn, nghiệp vụ cho
sinh viên.
- Nhiệm vụ hướng dẫn của giảng viên thể hiện khi họ giúp sinh viên
sưu tầm tài liệu, lựa chọn phương pháp học tập, tiến hành các thí nghiệm,
thực hành, thực tập nghề nghiệp, chuẩn bị hội thảo, triển khai khoá luận, luận
văn tốt nghiệp và các đề tài nghiên cứu khoa học
- Nhiệm vụ giáo dục của giảng viên thể hiện khi họ động viên, khích lệ ,
tạo nhu cầu, hứng thú, niềm say mê khoa học, nghề nghiệp, tích cực trong học
tập và hình thành đạo đức nghề nghiệp cho sinh viên.
- Hoạt động giảng dạy của giảng viên thực hiện theo quan điểm ”lấy

hành tự giác, có nền nếp ổn định, có chất lượng và hiệu quả cao.
1.1.2. Trung tâm giáo dục Quốc phòng - An ninh
Trung tâm giáo dục Quốc phòng - An ninh là cơ sở giáo dục, bồi dưỡng
kiến thức quốc phòng và an ninh, kỹ năng quân sự cho công dân Việt Nam.

17


Trung tâm giáo dục quốc phòng và an ninh bao gồm: các trung tâm
giáo dục quốc phòng và an ninh thuộc nhà trường quân đội và các trung tâm
giáo dục quốc phòng và an ninh thuộc cơ sở giáo dục đại học.
Trong luận văn này chúng tôi nghiên cứu các trung tâm giáo dục Quốc
phòng - An ninh thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội.
1.1.3. Quản lý hoạt động dạy học ở trung tâm giáo dục Quốc phòng
- An ninh, Đại học Quốc gia Hà Nội
Quản lý hoạt động dạy học ở trung tâm giáo dục Quốc phòng - An ninh,

Đại học Quốc gia Hà Nội là cách thức, biện pháp của chủ thể quản lý theo sự
phân cấp tác động đến toàn bộ hoạt động giảng dạy của đội ngũ giảng viên
và hoạt động học tập của sinh viên nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả dạy
và học của nhà trường, đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục hiện nay.
Quản lý hoạt động dạy học ở trung tâm giáo dục Quốc phòng - An ninh,
Đại học Quốc gia Hà Nội là những tác động của chủ thể quản lý đến hoạt động
dạy học ở trung tâm giáo dục Quốc phòng - An ninh ở Đại học Quốc gia Hà
Nội. Theo đó quản lý hoạt động dạy học ở trung tâm giáo dục Quốc phòng An ninh ở Đại học Quốc gia Hà Nội bao gồm các đặc trưng sau:
Chủ thể quản lý: Là Hiệu trưởng, Phó hiệu trưởng, ban chủ nhiệm
khoa, tổ trưởng chuyên môn. Ngoài ra, tham gia quản lýcòn có các lực lượng:
GV trực tiếp giảng dạy tự quản lý của SV… Người Hiệu trưởng hoạch định, tổ

chức, điều khiển, kiểm tra hoạt động dạy học của GV nhằm đạt được mục tiêu

bị các điều kiện đảm bảo cho hoạt động dạy và học.
* Xác định phương hướng, nhiệm vụ, mục tiêu, chỉ tiêu phấn đấu về
các mặt hoạt động như giảng dạy lý thuyết, tổ chức thực hành, tổ chức tham
quan thực tế, ngoại khóa, bồi dưỡng phụ đạo sinh viên yếu kém, giáo dục đạo
đức sinh viên
* Xây dựng kế hoạch giảng dạy cho từng học phần, từng bài; lên kế
hoạch hàng tuần hàng tháng với nội dung công việc cụ thể và có sự điều
chỉnh, bổ sung khi cần thiết.
Trong công tác quản lý, Giám đốc phải coi trọng việc chỉ đạo giảng viên và
các tổ chuyên môn thực hiện tốt kế hoạch giảng dạy để đảm bảo chất lượng dạy học.
1.2. 2. Quản lý chương trình dạy học, phương pháp và hình thức dạy học
19


Theo tác giả Trần Thị Tuyết Oanh: “Chương trình dạy học là văn kiện
do nhà nước ban hành trong đó quy định một cách cụ thể: vị trí, mục đích
môn học, phạm vi và hệ thống nội dung môn học, số tiết dành cho môn học
nói chung, cho từng phần, từng chương, từng bài nói riêng” [35; Tr. 194].
Chương trình quy định nội dung, phương pháp, hình thức tổ chức dạy
học. Để quản lý tốt chương trình dạy học, phương pháp và hình thức dạy học
người Giám đốc cần:
+ Hiểu nguyên tắc cấu tạo chương trình dành cho GDQP-AN của từng
môn học và phạm vi kiến thức chung. Để từ đó cân đối hoạt động trong năm
học đảm bảo quỹ thời gian cho giảng viên thực hiện đúng nội dung dạy học
phù hợp với từng đối tượng.
+ Nắm vững phương pháp và hình thức dạy học của từng môn từ đó có
kế hoạch chuẩn bị các phương tiện dạy học cho phù hợp.
+ Thường xuyên cập nhật những thay đổi về nội dung, phương pháp
dạy học đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục và truyền tải đến cán bộ giảng viên
trong nhà trường.

mang lại hiệu quả trong giáo dục. Người Giám đốc cần cân nhắc các yêu cầu
công tác và khả năng của từng giảng viên, lắng nghe ý kiến, nguyện vọng của
từng người và đảm bảo tính dân chủ, công bằng. Trong quá trình phân công
giảng dạy phải chú ý cân đối để tất cả giảng viên ngoài số giờ dạy đều tham
gia được các hoạt động giáo dục khác, để họ có nhiều cơ hội tiếp xúc với học
sinh. Kết quả đạt được của Trung tâm phụ thuộc rất nhiều vào khả năng bố trí
cán bộ, giảng viên của người Giám đốc, Khoa chuyên môn sao cho đúng
người đúng việc.
Giám đốc cùng với phó Giám đốc phụ trách chuyên môn và tổ trưởng
chuyên môn kiểm tra việc thực hiện chương trình hàng tuần, hàng tháng của
cán bộ, giảng viên. Đồng thời chỉ đạo các Khoa chuyên môn thực hiện việc
đổi mới phương pháp giảng dạy cho phù hợp với đối tượng sinh viên mà vẫn
đáp ứng được yêu cầu đổi mới giáo dục.
Trung tâm, khoa chuyên môn cần phải thường xuyên tổ chức kiểm tra
trình độ chuyên môn nghiệp vụ của giảng viên thông qua các hoạt động dự

21


giờ, thăm lớp; kịp thời phát hiện những giảng viên có khả năng để bồi dưỡng
họ trở thành những giảng viên nòng cốt trong các tổ chuyên môn, đồng thời
nhận biết những giảng viên còn yếu trong giảng dạy chưa đáp ứng được so
với yêu cầu, nhằm đề ra những biện pháp thích hợp để khắc phục.
Hàng năm Trung tâm cần có kế hoạch cho giảng viên đi đào tạo nâng
cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ hoặc qua việc tổ chức trao đổi kinh
nghiệm với các giảng viên dạy giỏi với các trung tâm khác. Khuyến khích
tinh thần tự học, tự bồi dưỡng nâng cao trình độ của cán bộ, giảng viên.
Đối với cán bộ quản lý, Giám đốc cần phân công phân nhiệm rõ ràng và
quy định trách nhiệm cho từng bộ phận, từng tổ chức đoàn thể trong Trung tâm.
Có kiểm tra có đánh giá trong việc thực hiện chức trách của từng người.

Kiểm tra đánh giá kết quả học tập có tác dụng điều chỉnh cách dạy của
giảng viên và cách học của học sinh. Trên cơ sở các kết quả thu được qua
kiểm tra - đánh giá kết quả học tập của học sinh, các nhà quản lý đưa ra
những quyết định đúng đắn, chỉ đạo kịp thời hoạt động dạy học trong nhà
trường, đảm bảo nâng cao chất lượng và hiệu quả dạy học.
Thường xuyên tổ chức các kỳ thi nhằm đánh giá chính xác kết quả học
tập của sinh viên để có kế hoạch bồi dưỡng sinh viên khá, giỏi; phụ đạo sinh
viên yếu, kém.
Việc xếp loại sinh viên cuối khoá phải căn cứ theo đúng quy chế đánh
giá xếp loại sinh viên theo chương trình GDQP - AN
Người Giám đốc quản lý việc kiểm tra của giảng viên đối với sinh viên và kết
quả giảng dạy của giảng viên không chỉ thông qua các điểm số mà phải thực hiện:
+ Quản lý kế hoạch kiểm tra của giảng viên.
+ Yêu cầu chấm bài, trả bài đúng thời gian quy định
+ Phân công phong đào tạo quản lý tổng hợp tình hình kiểm tra, đánh
giá kết quả học tập theo định kỳ.
1.2. 6. Quản lý khai thác phương tiện, cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy
học
Trước yêu cầu đổi mới giáo dục không thể thiếu việc kết hợp sử dụng
các phương tiện dạy học của người giảng viên trong quá trình dạy học. Các
23


phương tiện, cơ sở vật chất,vũ khí, trang thiết bị dạy học là một trong những
điều kiện thiết yếu để tiến hành quá trình giáo dục- dạy học, thiếu điều kiện
này thì quá trình đó sẽ không được hoàn thiện.
Cơ sở vật chất,vũ khí, trang thiết bị dạy học là phương tiện truyền tải
thông tin giúp giảng viên tổ chức và điều khiển hoạt động nhận thức của học
sinh một cách sinh động, hấp dẫn, nâng cao hiệu quả giảng dạy với chi phí
sức lực ít nhất trong điều kiện đổi mới nội dung, chương trình theo luật giáo

hội nhập quốc tế, nguồn lực con người Việt Nam càng trở nên có ý nghĩa
quan trọng, quyết định sự thành công của công cuộc phát triển đất nước. Giáo
dục ngày càng có vai trò và nhiệm vụ quan trọng trong việc xây dựng một thế
hệ người Việt Nam mới có khả năng đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế- xã
hội. Vì vậy giáo dục phải được đổi mới để thực hiện sứ mệnh cao cả của
mình. Để làm được điều này đòi hỏi giáo dục phải có chiến lược phát triển
đúng hướng, hợp quy luật, xu thế và xứng tầm thời đại.
Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI đã khẳng định: “Phát
triển giáo dục và đào tạo cùng với phát triển khoa học và công nghệ là quốc
sách hàng đầu”, đồng thời nhấn mạnh: “Đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo
dục Việt Nam theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa, dân chủ hóa
và hội nhập quốc tế, trong đó đổi mới cơ chế quản lý giáo dục, phát triển đội
ngũ giảng viên và cán bộ quản lý giáo dục là khâu then chốt” và “ Giáo dục
và đào tạo có sứ mệnh nâng cao dân trí, phát triển nguồn nhân lực, bồi
dưỡng nhân tài, góp phần quan trọng xây dựng đất nước, xây dựng nền văn
hoá và con người Việt Nam”.
Chiến lược đã xác định rõ tầm nhìn giáo dục Việt Nam với mục tiêu tổng
quát: “Đến năm 2020, nền giáo dục nước ta đã được đổi mới căn bản và toàn
diện theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa, dân chủ hóa và hội nhập
quốc tế; chất lượng giáo dục được nâng cao một cách toàn diện, gồm: giáo dục
đạo đức, kỹ năng sống, năng lực sáng tạo, năng lực thực hành, năng lực ngoại
ngữ và tin học; đáp ứng nhu cầu nhân lực, nhất là nhân lực chất lượng cao phục
vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và xây dựng nền kinh tế tri
thức; đảm bảo công bằng xã hội trong giáo dục và cơ hội học tập suốt đời cho
mỗi người dân, từng bước hình thành xã hội học tập”.[ 8; Tr. 6]

25




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status